TUẦN THÁNH Ở JERUSALEM

Người mù Batimê và cuộc rước lá vào Jerusalem



JERUSALEM -- Cuộc rước Lá trọng thể của Giáo Hội Jerusalem ngày mồng 9 tháng 4, Tuần Thánh năm 2006 dẫn đầu là hai người cỡi ngựa trang bị súng và một xe cảnh sát có võ trang. (Xem hình trang mục bên dưới: Hình 1: Ngựa dẫn đầu) (Hình 2: Xe cảnh sát)

Cuộc Rước Lá tại Jerusalem
Các em thiếu nhi ở Betlehem, cách Jerusalem hơn tám cây số mà không được về. Theo báo Haaratz ấn bản Anh ngữ, số ra ngày Chúa Nhật hôm nay, mấy đêm trước quân đội Do Thái bắn chết 14 người, trong đó có một em bé năm tuổi. Lòng người Palestine lại chảy máu. (Hình 3: Tường ngăn đường Jerusalem – Bethlehem)

Do Thái giáo chiếm 76.7%. Hồi giáo 15.8%. Kitô hữu gồm Chính Thống, Tin Lành, Công Giáo là 2.1%. Trong đó Công Giáo khoảng 1%. Ở những vùng xa, người Kitô hữu Palestine bị ngược đãi do người Do Thái và Hồi Giáo cực đoan. Họ tìm cách bỏ xứ đi dần. Bao giờ thì vắng bóng Kitô hữu trên vùng đất này? (Hình 4: Các hiệu kỳ)(Hình 5: Các em thiếu nhi)

Sau xe cảnh sát là hiệu kỳ của các đoàn thể đến từ nhiều vùng khác nhau. Ngày lễ Lá như một an ủi cho Kitô hữu. Nhiều đoàn thể trẻ, có thể phân biệt qua sắc đồng phục. Họ về Jerusalem như nói lên sự hiện diện của mình. Không phải tất cả họ đều về được. Cảnh sát Do Thái không cấp giấy phép. Trong đoàn rước Lá nhiều người là khách hành hương ngoại quốc. Người Philippines lao động góp mặt rất đông. Jerusalem! Jerusalem! Oh! Jerusalem! Họ hát bằng tiếng Ý, tiếng Filipino, tiếng Anh, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Do Thái… Oh! Jerusalem. Ðiệp khúc như lời than gọi về thủa hoành tráng của thánh đô mà nay không còn. Người như một dòng sông. Tất cả hướng về Jerusalem. Vạn tuế con vua Ðavít mà đến. Họ hát như một trường ca bất tận. Ðoàn người đi kín lòng đường, dài như con suối lượn khúc quanh co của vùng sa mạc Judea mà tôi vừa đi qua. Trên cao nhìn xuống lòng đường, tầm mắt mất hút, dòng sông người chảy qua đồi, qua thung lũng, hướng về Jerusalem. Oh! Jerusalem! Oh! Jerusalem! (Hình 6: Ðường về thánh đô) (Hình 7: Nào ta lên đền Chúa ta) (Hình 8: Oh! Jerusalem!)

NGƯỜI MÙ BATIMÊ

Chuyến đi sau cùng của Chúa từ Jerico về Jerusalem được nhắc đến với hai cuộc gặp gỡ. Vào thành thì gặp ông Dakêu. Ra khỏi thành là người mù:

"Khi Ðức Giêsu cùng với các môn đệ và một đám người khá đông ra khỏi thành Jerico, thì có một người mù đang ngồi ăn xin bên vệ đường, tên anh ta là Batimê, con ông Timê. Vừa nghe nói đó là Ðức Giêsu Nadarét, anh ta bắt đầu kêu lên rằng: “Lạy ông Giêsu, Con vua Ðavít, xin dủ lòng thương tôi! “Nhiều người quát nạt bảo anh ta im đi, nhưng anh ta càng kêu lớn tiếng: “Lạy Con vua Ðavít, xin dủ lòng thương tôi!” Ðức Giêsu đứng lại và nói: “Gọi anh ta lại đây!” Người ta gọi anh mù và bảo: “Cứ yên tâm, đứng dậy, Người gọi anh đấy!” Anh mù liền vất áo choàng lại, đứng phắt dậy mà đến gần Ðức Giêsu. Người hỏi: “Anh muốn tôi làm gì cho anh?” Anh mù đáp: “Thưa Thầy, xin cho tôi nhìn thấy được.” Người nói: “Anh hãy đi, lòng tin của anh đã cứu anh!” Tức khắc, anh ta nhìn thấy được và đi theo Người trên con đường Người đi" (Mc. 10:46-52; Mt. 20:19-34; Lc. 18:35-43)

Vì xẩy ra ở chuyến đi sau cùng, nếu ông Dakêu không trèo lên cây, không còn cơ hội gặp Chúa. Người mù cũng thế, không kêu lớn tiếng cũng mất dịp gặp Người.

Tính từ Jerusalem, Jerico ở hướng đông, thấp hơn mặt biển 850 feet. Jerusalem cao hơn mặt biển 2.500 feet. Như thế muốn đi từ Jerico về Jerusalem, Chúa phải leo ngược triền núi với độ dốc là 3,350 feet.

  • - Ðức Kitô lên núi cao.
  • - Ông Dakêu leo lên cây cao.
  • - Người mù thì “theo Người trên con đường Người đi.” Nghĩa là cùng lên cao đoạn đường 3,350 feet này.
Cả ba người đều có những bước chân lên cao.

Cửa thành Jerusalem
Lên cao làm họ hạnh phúc. Và họ hạnh phúc nên mới có thể yêu những con đường lên cao.

Trên đường bước lên cao này Ðức Kitô gặp ông Dakêu và người mù Batimê, cả hai người này đều có một đặc tính là “muốn nhìn.”

Ông Dakêu muốn nhìn Ðức Kitô. Phương pháp của ông là leo lên cao.

Người mù muốn được nhìn thấy. Phương pháp của ông là kêu lớn tiếng.

Cả hai người đều bị một lực cản không đến gần Chúa được là đám đông.

Ðám đông chen lấn, ông Dakêu chạy đi chỗ khác, leo lên cây.

Ðám đông quát nạt, Batimê càng kêu lớn tiếng.

Cả hai người này chưa gặp Ðức Kitô. Nhưng trong lòng muốn, họ đã có Ngài.

Cả hai người này có sáng kiến riêng của mình cho những cuộc gặp gỡ.

Cả hai người này đều gặp nghịch cảnh.

Cả hai người này can đảm trước thách đố của đám đông.

Cả hai người này đều bỏ đi những gì đã ôm giữ:

  • - Dakêu thì “đây phân nửa tài sản của tôi, tôi cho người nghèo; và nếu tôi đã chiếm đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn.”
  • - Batimê thì vứt chiếc áo choàng lại mà đứng phắt dậy.
Cả hai người này đều chờ đợi Chúa Kitô.

Và đường Jerico đó, ba người đã gặp nhau: Chúa, Dakêu và Batimê.

Ðường vào Jerusalem hôm nay cũng vẫn là đường năm xưa. Vẫn phải trèo lên những độ cao. Ðộ cao thiêng liêng. Ðộ cao của niềm vui. (Hình 9: Tôi vui mừng khi người ta bảo tôi, nào ta đi về thánh đô) (Hình 10: Hoan hô Chúa trên các tầng trời)

CUỘC RƯỚC BẮT ÐẦU

Từ Jerico đến cách Jerusalem ba cây số, bên này núi Ôliu là đồi Bethage và Bêtania. Ðây là làng quê của mấy chị em Ladarô mà Chúa hay nghỉ chân. Từ Bethage và Bêtania, qua ba cây số đường đồi sang phía bên kia núi Ôliu là vườn Giêtsimani, còn gọi là núi Cây Dầu, nơi Chúa cầu nguyện đêm bị bắt. Từ Giêtsimani đi bộ chừng mười phút là tới cổng thành Jerusalem. Từ làng quê của mấy chị em Ladarô, vùng Bethage, Chúa bắt đầu vào thành.

Khi thầy trò đến gần thành Jerusalem và tới làng Bethage, phía núi Ôliu, Ðức Giêsu sai hai môn đệ và bảo: “Các anh đi vào làng trước mặt kia, và sẽ thấy ngay một con lừa mẹ đang cột sẵn đó, có con lừa con bên cạnh. Các anh cởi dây ra và dắt về cho Thầy. Nếu có ai nói gì với các anh, thì trả lời là Chúa cần đến chúng, Người sẽ gởi lại ngay.” Sự việc đó xảy ra như thế để ứng nghiệm lời ngôn sứ: “Hãy bảo thiếu nữ Sion: Kìa Ðức Vua của ngươi đang đến với ngươi hiền hậu ngồi trên lưng lừa, lưng lừa con, là con của một con vật chở đồ.”

Các môn đệ ra đi và làm theo lời Ðức Giêsu đã truyền. Các ông dắt lừa mẹ và lừa con về, trải áo choàng của mình trên lưng chúng, và Ðức Giêsu cỡi lên. Một đám người rất đông cũng lấy áo choàng trải xuống mặt đường, một số khác lại chặt nhành chặt lá mà rải lên lối đi. Dân chúng, người đi trước, kẻ theo sau, reo hò vang dậy: Hoan hô Con vua Ðavít!

Chúc tụng Ðấng ngự đến nhân danh Ðức Chúa! Hoan hô trên các tầng trời.

Khi Ðức Giêsu vào Giêrusalem, cả thành náo động, và thiên hạ hỏi nhau: “Ông này là ai vậy?” Dân chúng trả lời: “Ngôn sứ Giêsu, người Nadarét, xứ Galilê đấy.” (Mt. 21:1-11) Hình số 11: “Chúa làm trổi vang lên khúc ca mừng con được giải thoát.”

Ðoàn người dài một cây số hay bao nhiêu? Không biết rõ được. Cuộc rước Lá trong đền thờ Golgotha xảy ra lúc tám giờ sáng. Cuộc rước Lá từ Betphage vào Jerusalem xảy ra lúc hai giờ rưỡi chiều. Xét về địa lý, nơi đây Thiên Chúa đã thật sự bước đi hai nghìn năm trước.

BETHAGE và BÊTANIA

Vùng địa lý cách Jerusalem ba cây số này quá nhiều biến cố lịch sử. Nơi đây Chúa hay nghỉ ở nhà mấy chị em Mácta, Maria và Ladarô. Nơi đây Ladarô đã chết rồi Chúa cho sống lại. Bethage và Bêtania gần nhau. Theo tiếng Aram, Bêtania là nhà của người nghèo. Bây giờ đa số dân Palestine sinh sống. Người Do Thái muốn cô lập dân Palestine, không mở mang trường sở, bệnh viện, đường phố để cuộc sống họ hết cách phát triển.

Tại sao Chúa lại quen gia đình này. Ai giới thiệu? Không thấy nói về cha mẹ mấy chị em này. Hay là họ mồ côi? Bạn bè của Chúa là những người miền quê như bao người. Bêtania là ngôi làng của tình cảm êm đềm. Chúa cũng cần một chỗ dừng chân. Chúa quý mối liên hệ với gia mấy chị em này. Có thể sau những bữa cơm tối với ôliu thanh đạm, Chúa nói về Nước Trời cho mấy chị em nghe. Nước Trời là câu chuyện nói trong những bữa ăn độ nhật thường ngày. Lớp giáo lý là sân nhà im lặng dưới trăng khuya. Tôi đến đây thăm mộ Ladazô và thương về bóng hình người chị xót xa khóc em:

- Nếu Thầy ở đây thì em con không chết. (Hình 12: Mộ Ladarô) (Hình 13: Người làng Bêtania)

Tôi muốn nhìn những người Palestine mặt sạm nắng để hình dung cảnh Maria chạy ra đầu ngõ đón Chúa như Phúc Âm Gioan tường thuật:

  • - Vừa được tin Ðức Giêsu đến, cô Mácta liền ra đón Người (Jn. 11:20).
  • Bêtania, vùng đất của người nghèo này cũng được Phúc Âm Luca ghi lại:
  • - Có một người phụ nữ tên là Mácta đón Người vào nhà. Cô có người em gái tên là Maria. Cô này cứ ngồi bên chân Chúa mà nghe lời Người dạy. Còn cô Mácta thì tất bật lo việc phục vụ. Cô tiến lại mà nói: “Thưa Thầy, em con để mình con phục vụ, mà Thầy không để ý tới sao? Xin Thầy bảo nó giúp con một tay! “Chúa đáp: “Mácta! Mácta ơi! Con băn khoăn lo lắng nhiều chuyện quá! Chỉ có một chuyện cần thiết mà thôi. Maria đã chọn phần tốt nhất và sẽ không bị lấy đi” (Lc. 10:38-42).
Mácta là chị, muốn mời cơm Chúa mà cũng có chút muốn Chúa để ý đến mình. Chúa mắng thân tình như lời chỉ bảo quen thuộc. Trong cách đối thoại ta thấy mấy chị em này quen Chúa lắm.

Cùng địa danh này Phúc Âm cũng ghi lại:

“Có một người bị đau nặng, tên là Ladarô, quê ở Bêtania, làng của hai chị em cô Mácta và Maria. Cô Maria là người sau này sẽ xức dầu thơm cho Chúa, và lấy tóc lau chân Người. Anh Ladarô, người bị đau nặng, là em của cô. Hai cô cho người đến nói với Ðức Giêsu: “Thưa Thầy, người Thầy thương mến đang bị đau nặng” (Jn. 11:1-3).

Chúa lưu lại Bêtania mấy ngày rồi mới vào thành. Chắc hẳn mấy chị em Mácta cũng theo Chúa vào Jerusalem. Hôm nay là ngày lễ Lá duy nhất trong đời, chắc tôi không có cơ hội trở lại đây ngày lễ Lá nào nữa. Cùng với mấy chị em Ladarô, tôi muốn sống lại cảnh hai nghìn năm xưa:

Khi Người đến gần chỗ dốc xuống núi Ôliu, tất cả đoàn môn đệ vui mừng bắt đầu lớn tiếng ca tụng Thiên Chúa, vì các phép lạ họ đã được thấy. Họ hô lên: Chúc tụng Ðức Vua, Ðấng ngự đến nhân danh Chúa! Bình an trên cõi trời cao, vinh quang trên các tầng trời!

Trong đám đông, có vài người thuộc nhóm Pharisêu nói với Ðức Giêsu: “Thưa Thầy, Thầy trách môn đệ Thầy đi chứ!” Người đáp: “Tôi bảo các ông: Họ mà làm thinh, thì sỏi đá cũng sẽ kêu lên!” (Lc 19:37-40). (Hình 14: Hosana!) (Hình 15: Hosana!) (Hình 16: Hosana!)

BƯỚC CHÂN BATIMÊ

Chúa nói với người mù: “Anh hãy đi, lòng tin của anh đã cứu anh!” Tức khắc, anh ta nhìn thấy được và đi theo Người trên con đường Người đi. Lời Chúa đã làm anh hạnh phúc và anh đã hạnh phúc theo lối Người đi. Lối vào Jerusalem đâu có dễ, vào để chết. Làm sao người mù có thể theo Người đi lối ấy? Khi Chúa nói “Anh hãy đi.” Có nghĩa là anh có thể đi về. Anh có thể đi bất cứ hướng nào. Anh có thể nhìn bất cứ điều gì. Anh đã chọn một lối đi riêng cho anh. Chuẩn bị Lễ Vượt Qua, Chúa từ Jerico về Jerusalem. Trong đám người từ Jerico này có anh mù Batimê. Vì “anh ta nhìn thấy được và đi theo Người trên con đường Người đi.”

Hoan hô Đấng nhân danh Chúa mà đến!
Hôm nay tôi nghĩ nhiều tới anh trong cuộc rước Lá. Một lòng dũng cảm, anh tìm cho mình một con đường riêng. (Hình 17: Vạn tuế con vua Ðavít!) (Hình 18: Vạn tuế con vua Ðavít!) (Hình 19: Vạn tuế con vua Ðavít!)

Tôi không đến đây như khách du lịch. Tôi là kẻ hành hương. Tôi muốn đi lại những con đường lịch sử có thật. Trên đường đi, tôi bâng khuâng hỏi mình. Nơi này Thiên Chúa đã thực sự bước đi sao? Tôi thấy Thiên Chúa quá gần con người. Thiên Chúa là con người thật sự.

Khi đọc bài Chúa vào thành, tôi tưởng Chúa đi trên một đường mòn, như con đường làng. Thấy địa lý vùng này mới thấm thía khi Chúa dừng chân khóc Jerusalem. Từ hướng Jerico về Jerusalem thì đến Bêtania và Bethage trước. Từ Bêtania và Bethage, leo núi Oliu, từ độ cao nhìn xuống, dưới chân núi Oliu là thung lũng Kidron, và bên kia là thành Jerusalem. Ở độ cao này, ánh mặt trời ngả chiều hắt xuống mái vàng đền thờ. Bấy giờ ta mới thấy cái hoành tráng của các vì vua Salomon. Vì thế các môn đệ mới phải trầm trồ khen ngợi. Kìa! Thầy nhìn vẻ đẹp của đền thờ. Ðứng trên triền núi nhìn qua thung lũng Kidron, Jesusalem rất gần. Gần trong không gian mà khó đến vì ngăn cách một thung lũng. Thung lũng nhỏ thôi nhưng khó đến trong ý nghĩa thiêng liêng. Phêrô chạy trốn. Chính thung lũng Kidron này là nơi Ðavít đem quân lập quốc. Bên này núi Oliu, bây giờ có đền thờ Chúa khóc thương Jerusalem. Ánh chiều hắt xuống, mầu vàng đền thờ rực sáng. Bên bờ Oliu này Chúa đem các môn đệ đến cầu nguyện và nghỉ ngơi. Hai nghìn năm xưa với rừng ôliu thinh vắng, bên bờ núi này Chúa bị bắt. Ðứng trên sườn đồi nhìn qua bên kia Jerusalem, tôi không ngờ tôi đang đi giữa những dấu tích lịch sử có thật của một thời Thiên Chúa đã đi. Tôi phân vân hỏi lòng. Thiên Chúa gần gũi con người đến như vậy sao. (Hình 20: Xuống núi Ôliu. Nhìn trong hình, giữa núi Ôliu và Jerusalem là thung lũng Kidron. Hai bên bờ là mộ người Do Thái, họ tin Giavê sẽ đến trên ngọn núi này đưa họ về trời)

Tôi đang vào Tuần Thánh. Ðường đến Jerusalem với bóng hình của hai cuộc gặp gỡ: Ông Dakêu và người mù Batimê.

Ông Dakêu và người mù, cả hai đều là người “muốn nhìn.”

Ðể nhìn rõ, cả hai tìm lối lên cao.

Ðể lên cao, người mù vứt chiếc áo choàng.

Ông Dakêu vứt: “Phân nửa tài sản của tôi, tôi cho người nghèo; và nếu tôi đã chiếm đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn.” (Hình 21: Vào tới cổng Thành) (Hình 22: Trong cổng là hồ Bethsaiđa. Tiếp con đường này về phía trái theo hình chụp vài chục mét là dinh Philatô) (Hình 23: Ngoài cửa đền thờ)

Ðoàn người rước Lá qua chân núi Ôliu, nơi hôm nay có vương cung thánh đường Gietsimani. Vườn Gietsimani còn sót lại vài gốc ôliu già không biết từ nghìn năm nào, tôi sẽ gởi những hình này trong một bài khác. Qua vườn Gietsimani là tới chân thung lũng vào cổng thành Jerusalem rồi. Qua cổng thành, chừng mươi phút sẽ tới hồ Betsaiđa, nơi Chúa chữa người bất toại. Ðoàn kiệu Lá kết thúc ở đền thờ bên hồ Bethsaiđa. Trên con đường này, cách vài chục mét là dinh tổng trấn Philatô. Chặng Ðàng Thánh Giá bắt đầu từ dinh tổng trấn này lên đồi Golgotha. Một chặng đường lên cao cho những ai muốn nhìn. Chắc đoạn này phải có chân người mù Batimê từ Jerico. Vì anh là kẻ đi tìm ánh sáng, kẻ muốn nhìn.

Muốn sống vẻ đẹp phải là kẻ muốn nhìn.

Muốn nhìn vẻ đẹp phải lên cao.

Muốn lên cao cần phải bỏ đi những gì cản trở.

Lạy Chúa, nhiều người đã nâng đỡ con đi, đã chỉ cho con đi. Con hiểu bước chân người mục tử phải đi về đâu, xin cho con những ơn cần thiết. Làm sao con chuẩn bị lối đi hôm nay để bước vào đền thánh vĩnh cửu giờ con chết. Con dự ngày lễ Lá ở Jerusalem cũng chẳng có ý nghĩa gì nếu không gặp dấu chân người xưa đã đi.

Xin Chúa con con sáng kiến như ông Dakêu. Cho con muốn nhìn như người mù. Cho con những liên hệ tình cảm với người này, gia đình kia được thánh thiện, đơn sơ vui vẻ như liên hệ giữa Chúa với mấy chị em Mácta. Con cần can đảm đứng phắt dậy trong nhiều hoàn cảnh. Như người mù khi nghe Chúa gọi, đứng phắt dậy, vứt cái áo choàng. Con cần Chúa cho con tinh tế đối với những tấm áo choàng ăn xin mà hôm nay nó bao quanh cuộc sống bằng nhiều hình thức khác nhau. Cuộc sống đẹp là bước chân không gì ràng buộc được. Con muốn lên cao để tìm mình, để nhìn trời, để gặp Chúa và yêu đời.


Jerusalem, ngày lễ Lá, Tuần Thánh 2006