Nhân quyền và ý thức hệ giới tính cực đoan
Lược trích bài phỏng vấn với Luật Sư Á Căn Đình (Argentina) Jorge Scala
ASUNCION, Paraguay (Zenit.org).- Luật sư Á Căn Đình Jorge Scala, là một chuyên gia về sinh học đạo đức, tin rằng chỉ có Giáo Hội Công Giáo mới có thể bảo vệ nhân quyền một cách trọn vẹn mà thôi.
Luật Sư Scala vừa mới được Hiệp Hội các Giáo Sư của Phân Khoa Khoa Học Pháp Lý và Ngoại Giao, và Học Viện Tôma More thuộc Phân Khoa Khoa Học Pháp Lý và Ngoại Giao của trường Đại Học Công Giáo Đức Mẹ Lên Trời ở nước Paraguay mời để nói chuyện về giới tính và nhân quyền.
Là một giáo sư của chương trình giảng dạy Cao Học tại trường Đại Học Tự Do Quốc Tế ở Châu Mỹ, Luật Sư Scala cũng còn là tác giả của 9 cuốn sách, bao gồm cuốn có nhan đề: “Nhân Quyền: 7 Trường Hợp Gây Ra Sự Tranh Cãi ở Châu Mỹ La Tinh.” Ông đã dành thời gian chia sẽ quan điểm của Ông với hãng tin Zenit.
Hỏi (H): Thưa Luật Sư, có phải Giáo Hội tại Mỹ Châu La Tinh là một trong những thể chế chính bảo vệ nhân quyền không?
Luật Sư Scala (T): Thưa, nếu không nói quá, thì chỉ có duy nhất mỗi Giáo Hội Công Giáo là đứng ra bảo vệ nhân quyền theo đúng thực bản chất của nó. Giáo Hội chính là chuyên gia về con người vì lẽ, Giáo Hội theo Chúa Kitô, một Đấng hoàn hảo, cũng như là một Thiên Chúa toàn năng, và ai nấy cũng đều có thể biết về điều cơ bản này.
Những tổ chức khác chỉ đứng ra “bảo vệ nhân quyền theo một khía cạnh nào đó,” do đó, những gì mà họ bảo vệ không phải là nhân quyền thật sự. Tôi muốn ám chỉ đến chủ nghĩa Mac xít, thuyết nam nữ bình quyền, việc đồng tính luyến ái, vân vân, và những chủ nghĩa hay lý thuyết đương đại. Đối với họ, “nhân quyền” chẳng khác nào hơn là một thứ dụng cụ mà họ dùng để có thể dành được những lợi thế về chính trị và xã hội. Họ không thành thật, họ sống theo kiểu một mặt nhưng hai lòng (duplicity).
(H): Thưa Luật Sư, Ông muốn diễn đạt điều gì qua cuộc nói chuyện của Ông về: “Giới Tính và Nhân Quyền”?
(T): Thưa, một số ý tưởng nền tảng như: Nhân Quyền - thì đó chính là những quyền cơ bản, tương xứng với mỗi một người và chung cho toàn thể loài người, vì chưng, tất cả chúng ta đều sẽ chia cùng một bản tính nhân loại.
Những quyền như vậy theo sát trọn cuộc sống của một con người nhân loại, kể từ khi loài người được tao dựng nên, đến lúc phát triển, và mãi cho đến lúc chết đi theo một cách tự nhiên. Hay nói tóm lại, chúng chính là phản ánh pháp lý về nhân phẩm của con người.
Tùy thuộc vào bản tính, tự bản chất của nó là không thể thay đổi, chúng là những quyền phổ quát, có nghĩa, chúng lúc nào cũng cần phải được luật lệ nhìn nhận tại bất cứ thời gian hay không gian nào; và tự bản chất, mổi cá nhân con người không thể nào từ bỏ chúng được, và chúng chính là những quyền mãi mãi không thể thiếu cho mỗi một con người nhân loại, cũng như không thể nào bị xã hội hủy bỏ hay cướp đi được.
Bằng cách nói rằng những quyền đó cần phải được “nhìn nhận,” ý tôi muốn nhấn mạnh đến rằng chúng lệ thuộc vào điều kiện con người của chúng ta, và do đó, chúng đã hiện hữu trước khi có luật lệ và nhà nước.
Sau đó tôi phân tích về sự thay đổi của nền văn hóa vào những năm cuối của thập niên 60, nghĩa là: Con người đã không còn được xem như là một người tự do, có khả năng tự quyết định về một điều tích cực nào đó nữa, mà là được hiểu và nhìn nhận ngang bằng với sự tự do, và sự tự do được hiểu như là quyền tự trị tuyệt đối.
Nói một cách cô đọng, con người thời nay nghĩ rằng mình được tự do, theo nghĩa là có thể làm gì đó theo ý mình, cũng như tự tạo ra các quy luật cho riêng mình. Ý tưởng này có sức hấp dẫn ghê gớm, đặc biệt là đối với giới trẻ, thế nhưng, rủi thay, việc thi hành nó lại là một sự thảm khốc, như đã từng được chứng kiến trong lãnh vực tư pháp.
(H): Thưa Luật Sư, thế nhận thức này sẽ dẫn đến cái gì, và con người tự mình tạo ra luật lệ theo những kiểu nào vậy?
(T): Thưa, nếu con người có quyền tự trị tuyệt đối, thì loài người không thể nào là tự trị được, có nghĩa là, những ai không thể tự giúp cho chính bản thân họ, khía cạnh tư pháp của họ đã bị chối từ, tức mất đi khả năng dành các quyền cho chính họ.
Đó là lý do tại sao mà những trẻ em chưa được sinh ra đã bị từ chối quyền sống. Cũng tương tự như việc trợ tử. Và đó chỉ mới là những bắt đầu mà thôi..
Ý thức hệ giới tính chính là một sự cực đoan hóa về ý tưởng cho rằng con người có quyền tự trị tuyệt đối. Nó biện luận rằng giới tính chỉ là điều kiện về mặt sinh lý học mà thôi, và nó cũng là cảm nhận cá nhân hay xã hội về giới tính của một người nào đó. Giới tính có thể được “hình thành” theo một cách tự trị tuyệt đối, mà không cần gì đến những giới hạn về mặt sinh học.
Tuy nhiên, nếu theo cách lập luận đó, thì việc thực hành giới tính chẳng thể nào bị bản tính con người hay luật lệ bên ngoài chi phối cho được. Hay nói cách khác, hôn nhân chỉ là cách để thêm một giới tính nữa mà thôi, và có giá trị tương tự như việc có vợ/chồng bé, những cuộc liên kết đồng giới tính, tục đa thê (pologamy) hay thói đồng dâm nam (prederasty).
Những giới hạn không thể được áp đặt một cách chủ quan trong việc thỏa mãn sinh dục của bất kỳ ai, và hơn thế nữa, nó sẽ là trách nhiệm của nhà nước trong việc xúi giục (forment), chẳng hạn như “sức khỏe sinh sản” - thì đó cũng là một thứ “nhân quyền,” và họ xem nó cũng tương tự như chuyện phá thai, hay liên kết đồng giới tính trong số những việc loạn trí (aberrations) khác.
Giới tính chính là một ý thức hệ, bị khoa học con người và khoa học thực nghiệm từ chối, và theo họ giới tính chỉ có thể khải hoàn được nếu nó được áp đặt theo một cách chuyên chế hay cực quyền (totalitarian). Các phương thức nhằm áp đặt ý thức hệ này chính là các phương tiện truyền thông, việc giáo dục chính quy trong nhà trường và các tiêu chuẩn về pháp lý. Nghịch lý của nó chính là nền dân chủ theo “thuyết tương đối” bổng trở thành một sự gian lận, dối lừa (surreptitiously), thì đó là hình thức tệ hại nhất của sự chuyên chế hay cực quyền.
Lược trích bài phỏng vấn với Luật Sư Á Căn Đình (Argentina) Jorge Scala
ASUNCION, Paraguay (Zenit.org).- Luật sư Á Căn Đình Jorge Scala, là một chuyên gia về sinh học đạo đức, tin rằng chỉ có Giáo Hội Công Giáo mới có thể bảo vệ nhân quyền một cách trọn vẹn mà thôi.
Luật Sư Scala vừa mới được Hiệp Hội các Giáo Sư của Phân Khoa Khoa Học Pháp Lý và Ngoại Giao, và Học Viện Tôma More thuộc Phân Khoa Khoa Học Pháp Lý và Ngoại Giao của trường Đại Học Công Giáo Đức Mẹ Lên Trời ở nước Paraguay mời để nói chuyện về giới tính và nhân quyền.
Là một giáo sư của chương trình giảng dạy Cao Học tại trường Đại Học Tự Do Quốc Tế ở Châu Mỹ, Luật Sư Scala cũng còn là tác giả của 9 cuốn sách, bao gồm cuốn có nhan đề: “Nhân Quyền: 7 Trường Hợp Gây Ra Sự Tranh Cãi ở Châu Mỹ La Tinh.” Ông đã dành thời gian chia sẽ quan điểm của Ông với hãng tin Zenit.
Hỏi (H): Thưa Luật Sư, có phải Giáo Hội tại Mỹ Châu La Tinh là một trong những thể chế chính bảo vệ nhân quyền không?
Luật Sư Scala (T): Thưa, nếu không nói quá, thì chỉ có duy nhất mỗi Giáo Hội Công Giáo là đứng ra bảo vệ nhân quyền theo đúng thực bản chất của nó. Giáo Hội chính là chuyên gia về con người vì lẽ, Giáo Hội theo Chúa Kitô, một Đấng hoàn hảo, cũng như là một Thiên Chúa toàn năng, và ai nấy cũng đều có thể biết về điều cơ bản này.
Những tổ chức khác chỉ đứng ra “bảo vệ nhân quyền theo một khía cạnh nào đó,” do đó, những gì mà họ bảo vệ không phải là nhân quyền thật sự. Tôi muốn ám chỉ đến chủ nghĩa Mac xít, thuyết nam nữ bình quyền, việc đồng tính luyến ái, vân vân, và những chủ nghĩa hay lý thuyết đương đại. Đối với họ, “nhân quyền” chẳng khác nào hơn là một thứ dụng cụ mà họ dùng để có thể dành được những lợi thế về chính trị và xã hội. Họ không thành thật, họ sống theo kiểu một mặt nhưng hai lòng (duplicity).
(H): Thưa Luật Sư, Ông muốn diễn đạt điều gì qua cuộc nói chuyện của Ông về: “Giới Tính và Nhân Quyền”?
(T): Thưa, một số ý tưởng nền tảng như: Nhân Quyền - thì đó chính là những quyền cơ bản, tương xứng với mỗi một người và chung cho toàn thể loài người, vì chưng, tất cả chúng ta đều sẽ chia cùng một bản tính nhân loại.
Những quyền như vậy theo sát trọn cuộc sống của một con người nhân loại, kể từ khi loài người được tao dựng nên, đến lúc phát triển, và mãi cho đến lúc chết đi theo một cách tự nhiên. Hay nói tóm lại, chúng chính là phản ánh pháp lý về nhân phẩm của con người.
Tùy thuộc vào bản tính, tự bản chất của nó là không thể thay đổi, chúng là những quyền phổ quát, có nghĩa, chúng lúc nào cũng cần phải được luật lệ nhìn nhận tại bất cứ thời gian hay không gian nào; và tự bản chất, mổi cá nhân con người không thể nào từ bỏ chúng được, và chúng chính là những quyền mãi mãi không thể thiếu cho mỗi một con người nhân loại, cũng như không thể nào bị xã hội hủy bỏ hay cướp đi được.
Bằng cách nói rằng những quyền đó cần phải được “nhìn nhận,” ý tôi muốn nhấn mạnh đến rằng chúng lệ thuộc vào điều kiện con người của chúng ta, và do đó, chúng đã hiện hữu trước khi có luật lệ và nhà nước.
Sau đó tôi phân tích về sự thay đổi của nền văn hóa vào những năm cuối của thập niên 60, nghĩa là: Con người đã không còn được xem như là một người tự do, có khả năng tự quyết định về một điều tích cực nào đó nữa, mà là được hiểu và nhìn nhận ngang bằng với sự tự do, và sự tự do được hiểu như là quyền tự trị tuyệt đối.
Nói một cách cô đọng, con người thời nay nghĩ rằng mình được tự do, theo nghĩa là có thể làm gì đó theo ý mình, cũng như tự tạo ra các quy luật cho riêng mình. Ý tưởng này có sức hấp dẫn ghê gớm, đặc biệt là đối với giới trẻ, thế nhưng, rủi thay, việc thi hành nó lại là một sự thảm khốc, như đã từng được chứng kiến trong lãnh vực tư pháp.
(H): Thưa Luật Sư, thế nhận thức này sẽ dẫn đến cái gì, và con người tự mình tạo ra luật lệ theo những kiểu nào vậy?
(T): Thưa, nếu con người có quyền tự trị tuyệt đối, thì loài người không thể nào là tự trị được, có nghĩa là, những ai không thể tự giúp cho chính bản thân họ, khía cạnh tư pháp của họ đã bị chối từ, tức mất đi khả năng dành các quyền cho chính họ.
Đó là lý do tại sao mà những trẻ em chưa được sinh ra đã bị từ chối quyền sống. Cũng tương tự như việc trợ tử. Và đó chỉ mới là những bắt đầu mà thôi..
Ý thức hệ giới tính chính là một sự cực đoan hóa về ý tưởng cho rằng con người có quyền tự trị tuyệt đối. Nó biện luận rằng giới tính chỉ là điều kiện về mặt sinh lý học mà thôi, và nó cũng là cảm nhận cá nhân hay xã hội về giới tính của một người nào đó. Giới tính có thể được “hình thành” theo một cách tự trị tuyệt đối, mà không cần gì đến những giới hạn về mặt sinh học.
Tuy nhiên, nếu theo cách lập luận đó, thì việc thực hành giới tính chẳng thể nào bị bản tính con người hay luật lệ bên ngoài chi phối cho được. Hay nói cách khác, hôn nhân chỉ là cách để thêm một giới tính nữa mà thôi, và có giá trị tương tự như việc có vợ/chồng bé, những cuộc liên kết đồng giới tính, tục đa thê (pologamy) hay thói đồng dâm nam (prederasty).
Những giới hạn không thể được áp đặt một cách chủ quan trong việc thỏa mãn sinh dục của bất kỳ ai, và hơn thế nữa, nó sẽ là trách nhiệm của nhà nước trong việc xúi giục (forment), chẳng hạn như “sức khỏe sinh sản” - thì đó cũng là một thứ “nhân quyền,” và họ xem nó cũng tương tự như chuyện phá thai, hay liên kết đồng giới tính trong số những việc loạn trí (aberrations) khác.
Giới tính chính là một ý thức hệ, bị khoa học con người và khoa học thực nghiệm từ chối, và theo họ giới tính chỉ có thể khải hoàn được nếu nó được áp đặt theo một cách chuyên chế hay cực quyền (totalitarian). Các phương thức nhằm áp đặt ý thức hệ này chính là các phương tiện truyền thông, việc giáo dục chính quy trong nhà trường và các tiêu chuẩn về pháp lý. Nghịch lý của nó chính là nền dân chủ theo “thuyết tương đối” bổng trở thành một sự gian lận, dối lừa (surreptitiously), thì đó là hình thức tệ hại nhất của sự chuyên chế hay cực quyền.