Hậu Cologne: Một bài học xuất sắc của giáo sư Ratzinger cho các tín hữu Công giáo, Tin lành, Do thái giáo và Hồi giáo.
Dù Ngày Giới Trẻ Thế Giới lần thứ 20 tại Cologne đã qua hơn một tuần, nhưng dư âm của những thành công vang dội của nó vẫn còn được các cơ quan ngôn luận và các phương tiện truyên thông tiếp tục bình luận và đăng tải. Chắc chắn thành công của nó không chỉ dừng ở các nghiên cứu hay bình luận, nhưng nó sẽ là dấu ấn sự chuyển đổi nội tâm và cuộc hành hương thiêng liêng lâu dài hơn trong lòng rất nhiều người, đặc biệt là những người trẻ có mặt tại Cologne trong những ngày hội ngộ hồng ân và đầy sức sống này.
Một nhân vật được cả thế giới theo dõi nhất trong những ngày này là Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI. Mọi người theo dõi từng bước chân cũng như từng lời nói của ngài, vì đây là cơ hội đầu tiên để nhiều người nhận ra chân dung vị mục tử của thế giới Công Giáo sau gần 4 tháng lãnh nhận sứ vụ, cũng như nghe được và thấy được phần nào những dự tính và con đường mà vị mục tử này sẽ đưa đoàn chiên mình đi tới trong triều đại kế tiếp một vĩ nhân của thế kỷ hai mươi là Đức Gioan Phaolô II.
Bài nhận định dưới đây lược dịch và viết theo bài viết của của nhà báo người Ý Sandro Magister về chuyến tông du đầu tiên bên ngoài lãnh thổ của vị tân giáo hoàng, người mà theo ông “càng bị đòi hỏi khắc khe bao nhiêu, càng chinh phục tâm trí và tâm hồn bấy nhiêu”. Nhà báo này là một chuyên viên về các vấn đề của Vatican và cũng đã từng viết những bài phê bình gay gắt và đôi khi tiêu cực về các cá nhân cũng như các diễn biến trong giáo triều:
Đức Thánh Cha đã công bố ngay buổi sáng đầu tiên trong chức vị Giáo Hoàng tại nhà nguyện Sistine vào ngày 20 tháng Tư rằng: “Thánh Thể sẽ là trọng tâm của Ngày Giới Trẻ Thế Giới (NGTTG) tại Cologne vào tháng Tám”. Và ngài đã làm những gì ngài nói. Tới một triệu người trẻ từ 197 quốc gia đã quy tụ nhau bốn ngày tại thành phố có lưu giữ thánh tích của các Đạo Sĩ, gồm cả những người yếu đức tin hay không Công Giáo. Đức Biển Đức XVI đã giáo huấn về “sự cao cả phi thường của Thiên Chúa đấng tự hạ mình khiêm tốn đến trong máng cỏ, để trao ban chính mình thành của ăn trên bàn thờ”.
Một trong những phát biểu đầu tiên khác của Đức Thánh Cha là “không công bố những ý tưởng riêng của mình, nhưng thường xuyên cùng với Giáo hội ràng buộc mình tuân theo lời Chúa, đối lại với những toan tính thích ứng hay làm dịu đi, và mọi hình thức của cơ hội chủ nghĩa”. Và ngài cũng giữ lời hứa này. Từ ngày 18 đến 21 thánh Tám, Đức Thánh Cha không xuất hiện trước đám đông với những cử chỉ có vẻ đóng kịch hay những lời cường điệu để gây ấn tượng. Ngài luôn dẫn dắt người trẻ để nhìn, không phải về ngài, nhưng luôn luôn và duy nhất về nhân vật chính đích thực: Chúa Giêsu mà các đạo sĩ tôn thờ ở Bêlem, theo tiếng Do thái có nghĩa “Nhà của Bánh”, và là đấng hiện nay đang ẩn mình trong Thánh thể. Đức Thánh Cha Joseph Ratzinger rất liều lỉnh ở Cologne. Đức Hồng Y Angelo Sclola, Giáo Chủ Venice, đã đến Cologne cùng với các giám mục Ý khác để giảng dạy trong chương trình giáo lý ba ngày trước đêm canh thức với Đức thánh Cha, nghĩ rằng sẽ chinh phục được giới trẻ với mười phút diễn tấu tác phẩm “On the Road” của Jack Kerouac. Nhưng Đức Giáo hoàng Biển Đức XVI lại khác, ngài kích thích sự chú ý của mọi người vơí một giải thích phức tạp về “những sắc thái khác nhau của chữ “thờ phượng” trong tiếng Hi lạp và Latinh. Trong tiếng Hi lap chữ này là ‘proskynesis’, nói về một cữ chỉ thần phục, công nhận Thiên Chúa là chủ tể của mình. Trong tiếng La tinh chữ này là ‘ad-oratio’, một tiếp xúc miệng kề miệng, một nụ hôn, một cử chỉ ôm ấp, vì vậy nói lên một tình yêu thân thiết. Thần phục trở nên kết hiệp, vì đấng mà chúng ta thần phục là tình yêu”.
Chủ đề của Ngày Giới Trẻ Thế Giới lần thứ 20 này là: “Chúng tôi đã đến thờ lạy Ngài”, là lời của các đạo sĩ đi theo ánh sao để tìm gặp Chúa Hài Nhi. Đức Giáo Hoàng đã dùng trình thuật này trong Phúc Âm như là những nét chính cho bài học xuất sắc trong bốn ngày - khởi đầu với việc ngài đến trên bờ sông Rhine - cho “đoàn rước của các tín hữu được mệnh danh là Giáo Hội”. Bước tiếp theo các đạo sĩ là các thánh mà “trong cuộc sống của họ Thiên Chúa đã mở ra trước mắt chúng ta Phúc Âm của ngài, và mở từng trang”. Thánh tích của họ “chỉ là xương người”, nhưng là “của những người được quyền năng siêu việt của Thiên Chúa chạm đến”. Và trên hòm thánh tích của họ “là hòm thánh tích cực kỳ diễm lệ của toàn thể thế giới Kitô giáo”, Cologne “đã xây trên hòm thánh tích này một hòm thánh tích lớn hơn, đó là nhà thờ chính toà kiểu Gothic này, […] là một trong những nơi hành hương quan trọng nhất của Kitô giáo Phương Tây”, cùng với Roma, Santiago di Compostela, và Giêrusalem. Vì thế, “tại Cologne này chúng ta khám phá ra niềm vui được thuộc về một gia đình rộng lớn như thế giới, gồm cả trời và đất, quá khứ, hiện tại và tương lai”. Giáo hội có thể bị phê bình chỉ trích, bởi vì cùng có cả lúa tốt và cỏ lùng, nhưng “trên thực tế cũng được an ủi khi nhận ra có cỏ lùng trong Giáo hội. Vì như thế, cho dù những khuyết điểm của chúng ta, chúng ta cũng có thể còn hi vọng được kể vào số các môn đệ của Chúa Giêsu, đấng đến để kêu gọi các tội nhân”.
Đức Biển Đức nói những lời vừa rồi vào lúc cao điểm của đêm canh thức ở cánh đồng Marienfeld, trước bàn thờ và dưới bầu trời đầy sao. Và rồi, một cách bất ngờ ngài nói thêm: “Các bạn trẻ thân mến, đây không phải là chuyện xa xôi đã xảy ra từ lâu rồi. Nhưng đó là chuyện xảy ra cho chúng ta bây giờ. Trong Mình Thánh Chúa đây Ngài đang hiện diện trước mặt và ở giữa chúng ta. […] Ngài hiện diện diện bây giờ và ở đây như Ngài đã hiện diện ngày xưa ở Bêlem. Ngài mời chúng ta vào cuộc hành hương nội tâm được gọi là thờ phượng”. Thinh lặng. Đức Thánh Cha ban phép lành Thánh Thể cho đám đông bạn trẻ rồi nhanh chóng lui vào bóng tối, không đi qua giữa đám đông. Ngài muốn trở lại sáng hôm sau để cử hành Thánh Lễ, để lập lại rằng chỉ qua Thiên Chúa và Bí tích Thánh Thể cuộc tiến hoá thực sự mới đến trong thế giới. Và ngài đưa ra hai lời khuyên với các bạn trẻ: hãy tham dự thánh lễ Chủ Nhật và học giáo lý.
Các bài tường thuật của các hãng truyền hình đã bỏ sót những nét đặt thù nhất của cuộc gặp gỡ này. Đó là ba buổi sáng học giáo lý của 270 nhóm trong các nhà thờ, các hội trường tại Cologne và các vùng phụ cận, được các hồng y và các giám mục hướng dẫn. Những đám người hành hương không ngớt đổ về nhà thờ chính tòa, nơi có thánh tích của các vị đạo sĩ. Các cuộc đi đàng thánh giá diễn ra chiều thứ sáu. Hàng vạn người đến xưng tội bằng các ngôn ngữ khác nhau. Các cuộc cầu nguyện liên tục ngày đêm trong các nhà thờ; như tại nhà thờ thánh Anê ở Cologne, dưới sự hướng dẩn của cộng đồng đại kết Taizé, là cộng đồng tiên phong cho các cuộc gặp gở đức tin quốc tế cho các bạn trẻ. Sự triển nở tình yêu giữa các bạn nam nữ, cũng như sự triển nở ơn gọi linh mục và tu sĩ. Đức Thánh Cha còn thêm vào chương trình của Ngày Giới Trẻ Thế Giới cuộc gặp gở với các chủng sinh, các linh mục của Giáo hội trong tương lai.
Những diễn tiến còn lại đã được soạn sẵn. Nhưng không phải mọi cái đều được giữ theo thiên hướng của Hồng Y Ratzinger trước đây. Thánh lễ, chầu Thánh Thể, kinh chiều đều được cữ hành với ca đoàn, rock guitar, vũ điệu thổ dân, tambourine Châu phi và sáo vùng Andes Nam Mỹ theo phong cách nhạc pop, là những điều mà trước đây khi còn là Hồng Y và thần học gia Đức Tân Giáo Hoàng không mấy đồng ý. Lần này tại Cologne mọi thứ đều được dung hoà, chổ này thì một chút bình ca Gregorian hay nhạc suy niệm theo phong cách Taizé, nhưng nơi khác cũng có những điệu múa lắc Argentina tung mũ lên trời trước bàn thờ như ‘những người hát rong ở nhà thờ Notre Dame’. Đức Thánh Cha với sự nhẫn nại đã làm cho quân bình tất cả những hình thái khác nhau đó bằng sự hiện diện trang nghiêm đúng mực và đơn sơ mộc mạc của mình.
Trong chuyến tông du ở Đức năm 1980, cũng cùng khoảng thời gian lưu lại trên đất nước này như nhau, Đức Gioan Phaolô II đã có 26 bài diễn văn. Đức Biển Đức XVI có ít hơn, chỉ có 12 bài, nhưng đến ba bài nói với cộng đồng Do thái giáo, Hồi giáo, và anh em Kitô hữu không Công Giáo: cả ba đều đưa ra đường hướng rỏ ràng cho cách thức “hướng ngoại” của triều đại giáo hoàng của ngài. Tại hội đường Do thái ở Cologne hôm 19 tháng Tám, ngài nói với các đại diện Do thái giáo rằng điều đặc biệt quan trọng là “tiến triển trong những lượng định đánh giá về thần học cho mối quan hệ Kitô giáo và Do thái giáo”. Ngài lập lại quả quyết của thánh Phaolô rằng: “ân huệ và lời kêu gọi của Thiên Chúa là không thể thay đổi”. Ngài nói về: “ngọn đuốc của niềm hy vọng mà Thiên Chúa đã tặng ban cho người Do thái và cho các Kitô hữu” để mỗi bên phải chuyền lại ngọn đuốc đó cho các thế hệ trẻ. Với tư tưởng này Đức Biển Đức XVI đã chạm đến căn nguyên của những xung đột lâu đời giữa Do thái giáo và Kitô giáo: “thần học của sự thay thế” hiện nay vẫn còn rất phổ biến, theo đó Giáo hội là Israel mới duy nhất đích thực thay thế cho Israel cũ đã bị Thiên Chúa từ bỏ. Đức Thánh Cha phát biểu rằng các tín hữu Do thái giáo và Kitô giáo đuợc nối kết với nhau qua một giao ước mà Thiên Chúa đã thiết lập, nên vì vậy “trong những lãnh vực mà chúng ta bất đồng do những xác tín về đức tin, thì cũng chính trong những lãnh vực này chúng ta cần biểu lộ sự tôn trọng lẫn nhau”. Điều này bắt nguồn từ sự khác biệt chính yếu: tin hay không tin Chúa Giêsu là đấng Thiên sai và là Con Thiên Chúa. Giáo trưởng hội đường Netanel Teitelbaum, xúc động đưa “bàn tay của dân tộc Do thái” bắt tay Đức Thánh Cha. Trong cung điệu của bài nhạc dân tộc Do thái (kletzmer), ca viên hát lên trình thuật tạo dựng trong chương đầu của sách Khởi Nguyên và của thánh vịnh 23 “Chúa là mục tử tôi”. Kèn sừng Shofar, sừng của hòa bình, cũng được cất lên. Đức Thánh cha không nhắc đến quốc gia Israel. Ngài chỉ chú tâm vào nền tảng và về mối liên hệ giữa hai niềm tin. Ngài cũng xác định hai dấn thân cụ thể: đối với Kitô hữu, phải đề phòng “những dấu hiệu mới của phong trào bài Do thái”, còn đối với chung cả hai Do thái giáo và Kitô giáo, phải “bảo vệ và phát huy quyền con người và sự thánh thiêng của mạng sống con người”, dùng Thập giới như là kiểu mẫu, vì Thập giới “đối với chúng ta là gia sản và dấn thân cùng chia sẻ với nhau”.
Và khi tiếp đón những “anh em Hồi giáo thân mến” tại toà tổng giám mục vào ngày 20 tháng Tám, Đức Biển Đức XVI cũng xin họ hành động “để phục vụ cho những giá trị luân lý căn bản […] được thông truyền cho chúng ta một cách không sai lầm qua tiếng nói âm thầm nhưng rõ ràng của lương tâm”. Một cách cụ thể, ngài đề nghị các tín hữu Kitô giáo và Hồi giáo cùng làm việc chung cho quyền lợi của con người, cho tự do tôn giáo và tôn trọng những nhóm thiểu số. Nhưng trước đó ngài xin hãy “xoá khỏi tâm hồn” sự thù hằn, bất khoan dung, và chủ nghĩa quá khích là mầm mống nuôi dưỡng chủ nghĩa khủng bố. Từ trước cơ hội này ở Cologne, chưa có đức giáo hoàng nào rỏ ràng dứt khoát và mạnh mẽ chống lại chủ nghĩa khủng bố trong cương vị cá nhân trước những đại diện của cộng đồng Hồi giáo như Đức Biển Đức XVI. Ngài không đưa ra bất cứ sự thừa nhận nào về hiện tượng này, và cũng không nhắc tới những áp bức và khốn khổ. Ngài nói rằng việc nhân danh Thiên Chúa của chủ nghĩa khủng bố không gì khác hơn là làm cho tổn hại danh Ngài. Ngài còn thêm: “những người xúi giục và lập chương trình cho những cuộc tấn công này rỏ ràng là muốn đầu độc mối liên hệ giữa chúng ta bằng mọi giá, cả đến nhân danh tôn giáo”. Ngài tố cáo chủ nghĩa khủng bố tác hại đến “ngay chính những nền tảng của mọi xã hội dân sự”. Ngài nhắc lại những cuộc chiến giữa người Kitô giáo và Hồi giáo đã chém giết nhau “như chém giết kẻ thù để làm đẹp lòng Chúa”. Và ngài thêm: “việc nhớ lại những biến cố đau buồn này làm chúng ta vô cùng hổ thẹn, vì chúng ta biết quá rỏ vì nhân danh danh tôn giáo đã phạm biết bao nhiêu điều tàn bạo. Những bài học của quá khứ giúp chúng ta tránh đừng lập lại những lỗi lầm đó”. Ngài xin các tín đồ Hồi giáo trong hiện tại cũng như trong tương lai hãy trở nên những thầy dạy về hoà bình: “Quý vị hướng dẫn các tín hữu Hối giáo và huấn luyện họ trong đức tin Hồi giáo. Dạy dỗ là phương tiện truyền đạt những ý tưởng và những xác quyết. Lời nói có ảnh hưởng lớn lao trong việc giáo dục tâm trí. Vì vậy quý vị có trách nhiệm nặng nề trong việc đào tạo thế hệ mai sau. Là các tín hữu Kitô giáo và Hồi giáo, chúng ta phải cùng nhau đối đầu với những thách thức của thời đại chúng ta. Không có chỗ cho sự lãnh đạm và rút lui, cũng như thiên vị và chủ nghĩa bè phái”. Đây là cuộc “đối thoại liên tôn và giữa các nền văn hoá” mà Đức ThánhCha Biển Đức XVI muốn. Một cuộc đối thoại phải trả giá cao.
Khaled Fouad Allam, một người Hồi giáo gốc Algêri có quốc tịch Ý, là giáo sư ở các đại học Trieste và Urbino đã viết trên tờ “Avvenire”, tờ nhật báo của hội đồng giám mục Ý, rằng: “Những lời của Đức Biển Đức XVI tạo một cơn choáng váng lớn nhưng bổ ích. Trong khi các thầy dạy xấu xa đang hoành hành trong các cộng đồng chúng tôi, thì những lời của ngài là một khích lệ cho các nhà giáo dục chân chính tiến lên, họ đang có mặt và năng động, nhưng họ không thể làm cho tiếng nói của họ được nghe như nó cần phải được nghe. Ngài thật đúng khi nói rằng không còn chỗ cho lãnh đạm hay thờ ơ. Chúng ta cần khuyến khích việc tố cáo và cô lập những người dùng những bài diễn văn nẩy lửa để xúi dục bạo động bằng cách nhân danh Thiên Chúa”.
Dù Ngày Giới Trẻ Thế Giới lần thứ 20 tại Cologne đã qua hơn một tuần, nhưng dư âm của những thành công vang dội của nó vẫn còn được các cơ quan ngôn luận và các phương tiện truyên thông tiếp tục bình luận và đăng tải. Chắc chắn thành công của nó không chỉ dừng ở các nghiên cứu hay bình luận, nhưng nó sẽ là dấu ấn sự chuyển đổi nội tâm và cuộc hành hương thiêng liêng lâu dài hơn trong lòng rất nhiều người, đặc biệt là những người trẻ có mặt tại Cologne trong những ngày hội ngộ hồng ân và đầy sức sống này.
Một nhân vật được cả thế giới theo dõi nhất trong những ngày này là Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI. Mọi người theo dõi từng bước chân cũng như từng lời nói của ngài, vì đây là cơ hội đầu tiên để nhiều người nhận ra chân dung vị mục tử của thế giới Công Giáo sau gần 4 tháng lãnh nhận sứ vụ, cũng như nghe được và thấy được phần nào những dự tính và con đường mà vị mục tử này sẽ đưa đoàn chiên mình đi tới trong triều đại kế tiếp một vĩ nhân của thế kỷ hai mươi là Đức Gioan Phaolô II.
Bài nhận định dưới đây lược dịch và viết theo bài viết của của nhà báo người Ý Sandro Magister về chuyến tông du đầu tiên bên ngoài lãnh thổ của vị tân giáo hoàng, người mà theo ông “càng bị đòi hỏi khắc khe bao nhiêu, càng chinh phục tâm trí và tâm hồn bấy nhiêu”. Nhà báo này là một chuyên viên về các vấn đề của Vatican và cũng đã từng viết những bài phê bình gay gắt và đôi khi tiêu cực về các cá nhân cũng như các diễn biến trong giáo triều:
Đức Thánh Cha đã công bố ngay buổi sáng đầu tiên trong chức vị Giáo Hoàng tại nhà nguyện Sistine vào ngày 20 tháng Tư rằng: “Thánh Thể sẽ là trọng tâm của Ngày Giới Trẻ Thế Giới (NGTTG) tại Cologne vào tháng Tám”. Và ngài đã làm những gì ngài nói. Tới một triệu người trẻ từ 197 quốc gia đã quy tụ nhau bốn ngày tại thành phố có lưu giữ thánh tích của các Đạo Sĩ, gồm cả những người yếu đức tin hay không Công Giáo. Đức Biển Đức XVI đã giáo huấn về “sự cao cả phi thường của Thiên Chúa đấng tự hạ mình khiêm tốn đến trong máng cỏ, để trao ban chính mình thành của ăn trên bàn thờ”.
Một trong những phát biểu đầu tiên khác của Đức Thánh Cha là “không công bố những ý tưởng riêng của mình, nhưng thường xuyên cùng với Giáo hội ràng buộc mình tuân theo lời Chúa, đối lại với những toan tính thích ứng hay làm dịu đi, và mọi hình thức của cơ hội chủ nghĩa”. Và ngài cũng giữ lời hứa này. Từ ngày 18 đến 21 thánh Tám, Đức Thánh Cha không xuất hiện trước đám đông với những cử chỉ có vẻ đóng kịch hay những lời cường điệu để gây ấn tượng. Ngài luôn dẫn dắt người trẻ để nhìn, không phải về ngài, nhưng luôn luôn và duy nhất về nhân vật chính đích thực: Chúa Giêsu mà các đạo sĩ tôn thờ ở Bêlem, theo tiếng Do thái có nghĩa “Nhà của Bánh”, và là đấng hiện nay đang ẩn mình trong Thánh thể. Đức Thánh Cha Joseph Ratzinger rất liều lỉnh ở Cologne. Đức Hồng Y Angelo Sclola, Giáo Chủ Venice, đã đến Cologne cùng với các giám mục Ý khác để giảng dạy trong chương trình giáo lý ba ngày trước đêm canh thức với Đức thánh Cha, nghĩ rằng sẽ chinh phục được giới trẻ với mười phút diễn tấu tác phẩm “On the Road” của Jack Kerouac. Nhưng Đức Giáo hoàng Biển Đức XVI lại khác, ngài kích thích sự chú ý của mọi người vơí một giải thích phức tạp về “những sắc thái khác nhau của chữ “thờ phượng” trong tiếng Hi lạp và Latinh. Trong tiếng Hi lap chữ này là ‘proskynesis’, nói về một cữ chỉ thần phục, công nhận Thiên Chúa là chủ tể của mình. Trong tiếng La tinh chữ này là ‘ad-oratio’, một tiếp xúc miệng kề miệng, một nụ hôn, một cử chỉ ôm ấp, vì vậy nói lên một tình yêu thân thiết. Thần phục trở nên kết hiệp, vì đấng mà chúng ta thần phục là tình yêu”.
Chủ đề của Ngày Giới Trẻ Thế Giới lần thứ 20 này là: “Chúng tôi đã đến thờ lạy Ngài”, là lời của các đạo sĩ đi theo ánh sao để tìm gặp Chúa Hài Nhi. Đức Giáo Hoàng đã dùng trình thuật này trong Phúc Âm như là những nét chính cho bài học xuất sắc trong bốn ngày - khởi đầu với việc ngài đến trên bờ sông Rhine - cho “đoàn rước của các tín hữu được mệnh danh là Giáo Hội”. Bước tiếp theo các đạo sĩ là các thánh mà “trong cuộc sống của họ Thiên Chúa đã mở ra trước mắt chúng ta Phúc Âm của ngài, và mở từng trang”. Thánh tích của họ “chỉ là xương người”, nhưng là “của những người được quyền năng siêu việt của Thiên Chúa chạm đến”. Và trên hòm thánh tích của họ “là hòm thánh tích cực kỳ diễm lệ của toàn thể thế giới Kitô giáo”, Cologne “đã xây trên hòm thánh tích này một hòm thánh tích lớn hơn, đó là nhà thờ chính toà kiểu Gothic này, […] là một trong những nơi hành hương quan trọng nhất của Kitô giáo Phương Tây”, cùng với Roma, Santiago di Compostela, và Giêrusalem. Vì thế, “tại Cologne này chúng ta khám phá ra niềm vui được thuộc về một gia đình rộng lớn như thế giới, gồm cả trời và đất, quá khứ, hiện tại và tương lai”. Giáo hội có thể bị phê bình chỉ trích, bởi vì cùng có cả lúa tốt và cỏ lùng, nhưng “trên thực tế cũng được an ủi khi nhận ra có cỏ lùng trong Giáo hội. Vì như thế, cho dù những khuyết điểm của chúng ta, chúng ta cũng có thể còn hi vọng được kể vào số các môn đệ của Chúa Giêsu, đấng đến để kêu gọi các tội nhân”.
Đức Biển Đức nói những lời vừa rồi vào lúc cao điểm của đêm canh thức ở cánh đồng Marienfeld, trước bàn thờ và dưới bầu trời đầy sao. Và rồi, một cách bất ngờ ngài nói thêm: “Các bạn trẻ thân mến, đây không phải là chuyện xa xôi đã xảy ra từ lâu rồi. Nhưng đó là chuyện xảy ra cho chúng ta bây giờ. Trong Mình Thánh Chúa đây Ngài đang hiện diện trước mặt và ở giữa chúng ta. […] Ngài hiện diện diện bây giờ và ở đây như Ngài đã hiện diện ngày xưa ở Bêlem. Ngài mời chúng ta vào cuộc hành hương nội tâm được gọi là thờ phượng”. Thinh lặng. Đức Thánh Cha ban phép lành Thánh Thể cho đám đông bạn trẻ rồi nhanh chóng lui vào bóng tối, không đi qua giữa đám đông. Ngài muốn trở lại sáng hôm sau để cử hành Thánh Lễ, để lập lại rằng chỉ qua Thiên Chúa và Bí tích Thánh Thể cuộc tiến hoá thực sự mới đến trong thế giới. Và ngài đưa ra hai lời khuyên với các bạn trẻ: hãy tham dự thánh lễ Chủ Nhật và học giáo lý.
Các bài tường thuật của các hãng truyền hình đã bỏ sót những nét đặt thù nhất của cuộc gặp gỡ này. Đó là ba buổi sáng học giáo lý của 270 nhóm trong các nhà thờ, các hội trường tại Cologne và các vùng phụ cận, được các hồng y và các giám mục hướng dẫn. Những đám người hành hương không ngớt đổ về nhà thờ chính tòa, nơi có thánh tích của các vị đạo sĩ. Các cuộc đi đàng thánh giá diễn ra chiều thứ sáu. Hàng vạn người đến xưng tội bằng các ngôn ngữ khác nhau. Các cuộc cầu nguyện liên tục ngày đêm trong các nhà thờ; như tại nhà thờ thánh Anê ở Cologne, dưới sự hướng dẩn của cộng đồng đại kết Taizé, là cộng đồng tiên phong cho các cuộc gặp gở đức tin quốc tế cho các bạn trẻ. Sự triển nở tình yêu giữa các bạn nam nữ, cũng như sự triển nở ơn gọi linh mục và tu sĩ. Đức Thánh Cha còn thêm vào chương trình của Ngày Giới Trẻ Thế Giới cuộc gặp gở với các chủng sinh, các linh mục của Giáo hội trong tương lai.
Những diễn tiến còn lại đã được soạn sẵn. Nhưng không phải mọi cái đều được giữ theo thiên hướng của Hồng Y Ratzinger trước đây. Thánh lễ, chầu Thánh Thể, kinh chiều đều được cữ hành với ca đoàn, rock guitar, vũ điệu thổ dân, tambourine Châu phi và sáo vùng Andes Nam Mỹ theo phong cách nhạc pop, là những điều mà trước đây khi còn là Hồng Y và thần học gia Đức Tân Giáo Hoàng không mấy đồng ý. Lần này tại Cologne mọi thứ đều được dung hoà, chổ này thì một chút bình ca Gregorian hay nhạc suy niệm theo phong cách Taizé, nhưng nơi khác cũng có những điệu múa lắc Argentina tung mũ lên trời trước bàn thờ như ‘những người hát rong ở nhà thờ Notre Dame’. Đức Thánh Cha với sự nhẫn nại đã làm cho quân bình tất cả những hình thái khác nhau đó bằng sự hiện diện trang nghiêm đúng mực và đơn sơ mộc mạc của mình.
Trong chuyến tông du ở Đức năm 1980, cũng cùng khoảng thời gian lưu lại trên đất nước này như nhau, Đức Gioan Phaolô II đã có 26 bài diễn văn. Đức Biển Đức XVI có ít hơn, chỉ có 12 bài, nhưng đến ba bài nói với cộng đồng Do thái giáo, Hồi giáo, và anh em Kitô hữu không Công Giáo: cả ba đều đưa ra đường hướng rỏ ràng cho cách thức “hướng ngoại” của triều đại giáo hoàng của ngài. Tại hội đường Do thái ở Cologne hôm 19 tháng Tám, ngài nói với các đại diện Do thái giáo rằng điều đặc biệt quan trọng là “tiến triển trong những lượng định đánh giá về thần học cho mối quan hệ Kitô giáo và Do thái giáo”. Ngài lập lại quả quyết của thánh Phaolô rằng: “ân huệ và lời kêu gọi của Thiên Chúa là không thể thay đổi”. Ngài nói về: “ngọn đuốc của niềm hy vọng mà Thiên Chúa đã tặng ban cho người Do thái và cho các Kitô hữu” để mỗi bên phải chuyền lại ngọn đuốc đó cho các thế hệ trẻ. Với tư tưởng này Đức Biển Đức XVI đã chạm đến căn nguyên của những xung đột lâu đời giữa Do thái giáo và Kitô giáo: “thần học của sự thay thế” hiện nay vẫn còn rất phổ biến, theo đó Giáo hội là Israel mới duy nhất đích thực thay thế cho Israel cũ đã bị Thiên Chúa từ bỏ. Đức Thánh Cha phát biểu rằng các tín hữu Do thái giáo và Kitô giáo đuợc nối kết với nhau qua một giao ước mà Thiên Chúa đã thiết lập, nên vì vậy “trong những lãnh vực mà chúng ta bất đồng do những xác tín về đức tin, thì cũng chính trong những lãnh vực này chúng ta cần biểu lộ sự tôn trọng lẫn nhau”. Điều này bắt nguồn từ sự khác biệt chính yếu: tin hay không tin Chúa Giêsu là đấng Thiên sai và là Con Thiên Chúa. Giáo trưởng hội đường Netanel Teitelbaum, xúc động đưa “bàn tay của dân tộc Do thái” bắt tay Đức Thánh Cha. Trong cung điệu của bài nhạc dân tộc Do thái (kletzmer), ca viên hát lên trình thuật tạo dựng trong chương đầu của sách Khởi Nguyên và của thánh vịnh 23 “Chúa là mục tử tôi”. Kèn sừng Shofar, sừng của hòa bình, cũng được cất lên. Đức Thánh cha không nhắc đến quốc gia Israel. Ngài chỉ chú tâm vào nền tảng và về mối liên hệ giữa hai niềm tin. Ngài cũng xác định hai dấn thân cụ thể: đối với Kitô hữu, phải đề phòng “những dấu hiệu mới của phong trào bài Do thái”, còn đối với chung cả hai Do thái giáo và Kitô giáo, phải “bảo vệ và phát huy quyền con người và sự thánh thiêng của mạng sống con người”, dùng Thập giới như là kiểu mẫu, vì Thập giới “đối với chúng ta là gia sản và dấn thân cùng chia sẻ với nhau”.
Và khi tiếp đón những “anh em Hồi giáo thân mến” tại toà tổng giám mục vào ngày 20 tháng Tám, Đức Biển Đức XVI cũng xin họ hành động “để phục vụ cho những giá trị luân lý căn bản […] được thông truyền cho chúng ta một cách không sai lầm qua tiếng nói âm thầm nhưng rõ ràng của lương tâm”. Một cách cụ thể, ngài đề nghị các tín hữu Kitô giáo và Hồi giáo cùng làm việc chung cho quyền lợi của con người, cho tự do tôn giáo và tôn trọng những nhóm thiểu số. Nhưng trước đó ngài xin hãy “xoá khỏi tâm hồn” sự thù hằn, bất khoan dung, và chủ nghĩa quá khích là mầm mống nuôi dưỡng chủ nghĩa khủng bố. Từ trước cơ hội này ở Cologne, chưa có đức giáo hoàng nào rỏ ràng dứt khoát và mạnh mẽ chống lại chủ nghĩa khủng bố trong cương vị cá nhân trước những đại diện của cộng đồng Hồi giáo như Đức Biển Đức XVI. Ngài không đưa ra bất cứ sự thừa nhận nào về hiện tượng này, và cũng không nhắc tới những áp bức và khốn khổ. Ngài nói rằng việc nhân danh Thiên Chúa của chủ nghĩa khủng bố không gì khác hơn là làm cho tổn hại danh Ngài. Ngài còn thêm: “những người xúi giục và lập chương trình cho những cuộc tấn công này rỏ ràng là muốn đầu độc mối liên hệ giữa chúng ta bằng mọi giá, cả đến nhân danh tôn giáo”. Ngài tố cáo chủ nghĩa khủng bố tác hại đến “ngay chính những nền tảng của mọi xã hội dân sự”. Ngài nhắc lại những cuộc chiến giữa người Kitô giáo và Hồi giáo đã chém giết nhau “như chém giết kẻ thù để làm đẹp lòng Chúa”. Và ngài thêm: “việc nhớ lại những biến cố đau buồn này làm chúng ta vô cùng hổ thẹn, vì chúng ta biết quá rỏ vì nhân danh danh tôn giáo đã phạm biết bao nhiêu điều tàn bạo. Những bài học của quá khứ giúp chúng ta tránh đừng lập lại những lỗi lầm đó”. Ngài xin các tín đồ Hồi giáo trong hiện tại cũng như trong tương lai hãy trở nên những thầy dạy về hoà bình: “Quý vị hướng dẫn các tín hữu Hối giáo và huấn luyện họ trong đức tin Hồi giáo. Dạy dỗ là phương tiện truyền đạt những ý tưởng và những xác quyết. Lời nói có ảnh hưởng lớn lao trong việc giáo dục tâm trí. Vì vậy quý vị có trách nhiệm nặng nề trong việc đào tạo thế hệ mai sau. Là các tín hữu Kitô giáo và Hồi giáo, chúng ta phải cùng nhau đối đầu với những thách thức của thời đại chúng ta. Không có chỗ cho sự lãnh đạm và rút lui, cũng như thiên vị và chủ nghĩa bè phái”. Đây là cuộc “đối thoại liên tôn và giữa các nền văn hoá” mà Đức ThánhCha Biển Đức XVI muốn. Một cuộc đối thoại phải trả giá cao.
Khaled Fouad Allam, một người Hồi giáo gốc Algêri có quốc tịch Ý, là giáo sư ở các đại học Trieste và Urbino đã viết trên tờ “Avvenire”, tờ nhật báo của hội đồng giám mục Ý, rằng: “Những lời của Đức Biển Đức XVI tạo một cơn choáng váng lớn nhưng bổ ích. Trong khi các thầy dạy xấu xa đang hoành hành trong các cộng đồng chúng tôi, thì những lời của ngài là một khích lệ cho các nhà giáo dục chân chính tiến lên, họ đang có mặt và năng động, nhưng họ không thể làm cho tiếng nói của họ được nghe như nó cần phải được nghe. Ngài thật đúng khi nói rằng không còn chỗ cho lãnh đạm hay thờ ơ. Chúng ta cần khuyến khích việc tố cáo và cô lập những người dùng những bài diễn văn nẩy lửa để xúi dục bạo động bằng cách nhân danh Thiên Chúa”.