"Giai đoạn đầu của sự Khôn Ngoan"
VATICAN (Zenit.org).- Bài huấn đức của Đức Biển Đứct XVI trong buổi tiếp kiến chung hôm thứ Tư 8/6: ngài suy niệm về Thánh Vịnh 110(111)
* * *
1. Hôm nay chúng ta cảm thấy một ngọn gió mạnh. Gió trong Kinh Thánh là biểu trưng của Chúa Thánh Thần. Chúng ta hy vọng rằng Chúa Thánh Thần sẽ soi sáng chúng ta bây giờ trong bài suy niệm về Thánh Vịnh 110(111), mà chúng ta vừa mới nghe. Trong Thánh Vịnh này chúng ta gặp một thánh thi ngợi khen và tạ ơn Chúa vì nhiều ơn lành của Người. Thánh Vịnh này qui chiếu về những thuộc tính và về công việc cứu rỗi của Người. Có nhắc tới "lòng thương xót," "tính hào hiệp," "đức công chính," "quyền phép," "chân lý," "sự chính trực," sự trung thành," giao ước," những công trình," "những kỳ công," kèm theo "lương thực" Người ban cho và, cuối cùng, "danh" vinh hiển của Người," nghĩa là bản thân Người. Do đó, sự cầu nguyện là sự chiêm ngắm mầu nhiệm của Chúa và các kỳ công Người thực hiện trong lịch sử cứu rỗi.
2. Thánh Vịnh bắt đầu với một lời tạ ơn nổi lên không những từ con tim tác giả Thánh Vinh, mà cũng còn từ tất cả cộng đoàn phụng vụ (x. c. 1). Đối tượng của sự cầu nguyện này, gồm nghi thức tạ ơn, được diễn tả với tiếng "những sự nghiệp" (x. cc. 2, 3, 6, 7). Chúng chỉ những sự can thiệp cứu rỗi của Chúa, sự bày tỏ đức "công chính của Người" (x.c,3), từ ngữ trong ngôn ngữ kinh thánh chỉ hơn hết tình yêu sinh ơn cứu rỗi.
Do đó, trung tâm Thánh Vịnh biến thành một thánh thi ca ngợi đối với giao ước ( x. cc. 4-9), sợi giây thân mật kết nối Thiên Chúa với dân Người và bao hàm một loạt những thái độ và những cử chỉ. Có nhắc tới "lòng từ bi và nhân hậu" (x. c.4), tương tự với sự cao rao từ núi Sinai: "Đức Chúa, Đức Chúa, Thiên Chúa nhân hậu và từ bi, hay ném giận, giàu nhân nghĩa và thành tín" ( Xh 34: 6).
"Lòng thương xót" là ân sủng của Chúa bao bọc và biến đổi người tín hữu, đang khi "lòng nhân hậu" được diễn tả trong bản gốc Do thái với một từ đặc biệt qui chiếu về "ruột gan" từ mẫu của Chúa, còn giàu thương xót hơn lòng thưông xót của một người mẹ (x. Is.49: 15).
3. Sợi giây tình yêu này bao gồm ân huệ cơ bản là thức ăn và, do đó, là sự sống (x. Tv. 110[111]:5, ân huệ này, theo sự hiểu biết kitô hữu, được đồng hoá với Thánh Thể, như Thánh Jerome nói: "Người ban bánh từ trới xuống làm của ăn: Nếu chúng ta xứng đáng, chúng ta hãy ăn!" ("Breviarium in Psalmos," 110: PL XXVI, 1238-1239).
Lúc đó có ân huệ trái đất, "gia sản của chư dân" (Tv. 110[111]:6), ân huệ này ám chỉ tới biến cố vĩ đại Xuất hành, khi Chúa tự mặc khải như là Thiên Chúa giải phóng. Sự phân tích trung tâm của bài ca này phải được tìm, do đó, trong chủ đề giao ước đặc biệt giữa Chúa và dân Người, như câu 9 tuyên bố cách vắn tắt: "[Chúa] thiết lập giao ước đến muôn đời."
4.Thánh Vịnh 110(111) cuối cùng được đóng dấu bởi sự chiêm ngưỡng dung nhan Chúa, con người của Chúa, được diễn tả qua "danh" thánh và siêu việt của người. Sau đó, trưng dẫn một lời nói khôn ngoan (x. Prov. 1:7; 9:10; 15:33), tác giả Thánh Vịnh mời người tín hữu trau dồi "sự kính sợ Chúa" ( Tv 110[111]:10, là đầu mối khôn ngoan.
Sự khiếp sợ và sự kinh hoàng không ẩn giấu dưới từ này, nhưng sự tôn kính sốt sắng và chân tình, hậu quả của tình yêu, sự gắn bó đích thực và sinh động với Thiên Chúa giải phóng. Và, nếu lời thứ nhất của bài ca là sự tạ ơn, lời cuối là sự ngợi khen : Cũng như đức công chính cứu rỗi của Chúa "tồn tại đến muôn đời" (c. 3} lòng biết ơn của tác giả Thánh Vinh là liên tục, nó vang dội trong kinh nguyện "mãi đến thiên thu" (c.10).
Nói tóm lại, Thánh Vịnh mời gọi chúng ta sau cùng khám phá tất cả những sự tốt lành Chúa ban cho chúng ta mỗi ngày. Chúng ta thấy dễ dàng hơn đến những phương diện tiêu cực trong đời sống chúng ta. Thánh Vịnh cũng mời gọi chúng ta thấy những điểm tích cực, nhiều ân huệ chúng ta nhận lãnh, và như vậy mới tỏ lòng biết ơn, vì chỉ một con tim biết ơn có thể cử hành xứng đáng phụng vụ tạ ơn, tức là Thánh Thể.
5. Cuối bài suy niệm của chúng ta, chúng ta muốn suy gẫm, theo truyền thống giáo hội trong những thế kỷ Kitô hữu đầu tiên, về câu cuối với sự công bố nổi danh của nó được lập lại trong các lần khác trong Kinh Thánh (x. Pr.1:7): "Kính sợ Chúa là đầu mối khôn ngoan" (Tv 110[111]:10).
Văn sĩ Kitô hữu Barsanuphius thành Gaza (hoạt động trong nữa đầu thế kỷ thứ sáu) giải thích câu đó như sau: "Đầu mối sự khôn ngoan là gì nếu không kiêng tất cả những gì Thiên Chúa chán ghét? Và bằng cách nào người ta có thể kiêng, nếu không bằng cách không làm gì mà không hỏi trước lời khuyên, hay là không nói điều gì không nên nói, hay là nhìn thấy mình là điên, dại khờ, đáng khinh và vô giá trị?" ("Epistplario," 234: "Collana di Testi Patristici" ( [Collecion of Patristic Texts], XCIII, Rome, 1991, pp.265-266)
Dầu sao John Cassian (sống giữa những thế kỷ bốn và năm) thích nói rõ rằng "có một khác biệt lớn giữa tình yêu, (thứ tình yêu) không thiếu gì và là kho tàng khôn ngoan và khoa học, và tình yêu bất toàn, gọi là "đầu mối khôn ngoan"; tình yêu sau, chứa đựng trong mình ý niệm về hình phạt, bị loại khỏi lòng người trọn lành để đạt sự viên mãng của tình yêu: (" Conferenze ai Monaci" (Những bài diễn thuyết cho các Đăn sĩ], 2,11,13: "Collana di Testi Patristici," Rome, 2000, p. 29). Như vậy, trong hành trình đời sống chúng ta tới Chúa Kitô, sự sợ nô lệ hiện hữu lúc đầu được thay thế bằng sự sợ trọn lành, là tình yêu, ân huệ của Chúa Thánh Thần.
Cuối buổi tiếp kiến, Đức Thánh Cha đọc bản tóm bằng tiếng Anh:
Anh chị em thân mến,
Bài suy niệm của chúng ta hôm nay tập trung vào Thánh Vịnh 110, một thánh thi ngợi khen và ta ơn, chiêm ngắm mầu nhiệm Thiên Chúa và những công trình ký diệu cứu rỗi của Người. Những hành vi cứu rỗi này của Chúa bày tỏ sự công chính, sự đồng cảm và tình yêu hình thành giao ước thân mật và vững bền Người thực hiện với dân Người.
Tác giả Thánh Vịnh mời chúng ta đáp ứng giao ước này bằng cách chiêm ngắm thánh danh Thiên Chúa với lòng kính sợ là giai đoạn đầu sự khôn ngoan. Từ ngữ sợ không có nghĩa là sự khủng khiếp, nhưng là sự cung kính chân tình đối với Chúa và là sự tán thành chân chính đối với những đường lối của Thiên Chúa. Chúng ta cũng hãy cất lòng chúng ta lên tới Chúa trong sự cám ơn và ngợi khen!
Sau đó Đức Giáo Hoàng chào các người hành hương trong nhiều thứ tiếng. Trong tiếng Anh ngài nói:
Tôi gởi một lời chào đặc biệt tới những người hành hương nói tiếng Anh hiện diện ở đây hôm nay, gồm các nhóm từ Anh Quốc, Scotland, Australia và Hoa Kỳ. Cám ơn anh chị em vì lònh yêu mến anh chị em dành cho tôi. Trên tất cả anh chị em, tôi cầu xin sự bình an và niềm vui của Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta!
VATICAN (Zenit.org).- Bài huấn đức của Đức Biển Đứct XVI trong buổi tiếp kiến chung hôm thứ Tư 8/6: ngài suy niệm về Thánh Vịnh 110(111)
* * *
1. Hôm nay chúng ta cảm thấy một ngọn gió mạnh. Gió trong Kinh Thánh là biểu trưng của Chúa Thánh Thần. Chúng ta hy vọng rằng Chúa Thánh Thần sẽ soi sáng chúng ta bây giờ trong bài suy niệm về Thánh Vịnh 110(111), mà chúng ta vừa mới nghe. Trong Thánh Vịnh này chúng ta gặp một thánh thi ngợi khen và tạ ơn Chúa vì nhiều ơn lành của Người. Thánh Vịnh này qui chiếu về những thuộc tính và về công việc cứu rỗi của Người. Có nhắc tới "lòng thương xót," "tính hào hiệp," "đức công chính," "quyền phép," "chân lý," "sự chính trực," sự trung thành," giao ước," những công trình," "những kỳ công," kèm theo "lương thực" Người ban cho và, cuối cùng, "danh" vinh hiển của Người," nghĩa là bản thân Người. Do đó, sự cầu nguyện là sự chiêm ngắm mầu nhiệm của Chúa và các kỳ công Người thực hiện trong lịch sử cứu rỗi.2. Thánh Vịnh bắt đầu với một lời tạ ơn nổi lên không những từ con tim tác giả Thánh Vinh, mà cũng còn từ tất cả cộng đoàn phụng vụ (x. c. 1). Đối tượng của sự cầu nguyện này, gồm nghi thức tạ ơn, được diễn tả với tiếng "những sự nghiệp" (x. cc. 2, 3, 6, 7). Chúng chỉ những sự can thiệp cứu rỗi của Chúa, sự bày tỏ đức "công chính của Người" (x.c,3), từ ngữ trong ngôn ngữ kinh thánh chỉ hơn hết tình yêu sinh ơn cứu rỗi.
Do đó, trung tâm Thánh Vịnh biến thành một thánh thi ca ngợi đối với giao ước ( x. cc. 4-9), sợi giây thân mật kết nối Thiên Chúa với dân Người và bao hàm một loạt những thái độ và những cử chỉ. Có nhắc tới "lòng từ bi và nhân hậu" (x. c.4), tương tự với sự cao rao từ núi Sinai: "Đức Chúa, Đức Chúa, Thiên Chúa nhân hậu và từ bi, hay ném giận, giàu nhân nghĩa và thành tín" ( Xh 34: 6)."Lòng thương xót" là ân sủng của Chúa bao bọc và biến đổi người tín hữu, đang khi "lòng nhân hậu" được diễn tả trong bản gốc Do thái với một từ đặc biệt qui chiếu về "ruột gan" từ mẫu của Chúa, còn giàu thương xót hơn lòng thưông xót của một người mẹ (x. Is.49: 15).
3. Sợi giây tình yêu này bao gồm ân huệ cơ bản là thức ăn và, do đó, là sự sống (x. Tv. 110[111]:5, ân huệ này, theo sự hiểu biết kitô hữu, được đồng hoá với Thánh Thể, như Thánh Jerome nói: "Người ban bánh từ trới xuống làm của ăn: Nếu chúng ta xứng đáng, chúng ta hãy ăn!" ("Breviarium in Psalmos," 110: PL XXVI, 1238-1239).
Lúc đó có ân huệ trái đất, "gia sản của chư dân" (Tv. 110[111]:6), ân huệ này ám chỉ tới biến cố vĩ đại Xuất hành, khi Chúa tự mặc khải như là Thiên Chúa giải phóng. Sự phân tích trung tâm của bài ca này phải được tìm, do đó, trong chủ đề giao ước đặc biệt giữa Chúa và dân Người, như câu 9 tuyên bố cách vắn tắt: "[Chúa] thiết lập giao ước đến muôn đời."
4.Thánh Vịnh 110(111) cuối cùng được đóng dấu bởi sự chiêm ngưỡng dung nhan Chúa, con người của Chúa, được diễn tả qua "danh" thánh và siêu việt của người. Sau đó, trưng dẫn một lời nói khôn ngoan (x. Prov. 1:7; 9:10; 15:33), tác giả Thánh Vịnh mời người tín hữu trau dồi "sự kính sợ Chúa" ( Tv 110[111]:10, là đầu mối khôn ngoan.
Sự khiếp sợ và sự kinh hoàng không ẩn giấu dưới từ này, nhưng sự tôn kính sốt sắng và chân tình, hậu quả của tình yêu, sự gắn bó đích thực và sinh động với Thiên Chúa giải phóng. Và, nếu lời thứ nhất của bài ca là sự tạ ơn, lời cuối là sự ngợi khen : Cũng như đức công chính cứu rỗi của Chúa "tồn tại đến muôn đời" (c. 3} lòng biết ơn của tác giả Thánh Vinh là liên tục, nó vang dội trong kinh nguyện "mãi đến thiên thu" (c.10).
Nói tóm lại, Thánh Vịnh mời gọi chúng ta sau cùng khám phá tất cả những sự tốt lành Chúa ban cho chúng ta mỗi ngày. Chúng ta thấy dễ dàng hơn đến những phương diện tiêu cực trong đời sống chúng ta. Thánh Vịnh cũng mời gọi chúng ta thấy những điểm tích cực, nhiều ân huệ chúng ta nhận lãnh, và như vậy mới tỏ lòng biết ơn, vì chỉ một con tim biết ơn có thể cử hành xứng đáng phụng vụ tạ ơn, tức là Thánh Thể.
5. Cuối bài suy niệm của chúng ta, chúng ta muốn suy gẫm, theo truyền thống giáo hội trong những thế kỷ Kitô hữu đầu tiên, về câu cuối với sự công bố nổi danh của nó được lập lại trong các lần khác trong Kinh Thánh (x. Pr.1:7): "Kính sợ Chúa là đầu mối khôn ngoan" (Tv 110[111]:10).
Văn sĩ Kitô hữu Barsanuphius thành Gaza (hoạt động trong nữa đầu thế kỷ thứ sáu) giải thích câu đó như sau: "Đầu mối sự khôn ngoan là gì nếu không kiêng tất cả những gì Thiên Chúa chán ghét? Và bằng cách nào người ta có thể kiêng, nếu không bằng cách không làm gì mà không hỏi trước lời khuyên, hay là không nói điều gì không nên nói, hay là nhìn thấy mình là điên, dại khờ, đáng khinh và vô giá trị?" ("Epistplario," 234: "Collana di Testi Patristici" ( [Collecion of Patristic Texts], XCIII, Rome, 1991, pp.265-266)Dầu sao John Cassian (sống giữa những thế kỷ bốn và năm) thích nói rõ rằng "có một khác biệt lớn giữa tình yêu, (thứ tình yêu) không thiếu gì và là kho tàng khôn ngoan và khoa học, và tình yêu bất toàn, gọi là "đầu mối khôn ngoan"; tình yêu sau, chứa đựng trong mình ý niệm về hình phạt, bị loại khỏi lòng người trọn lành để đạt sự viên mãng của tình yêu: (" Conferenze ai Monaci" (Những bài diễn thuyết cho các Đăn sĩ], 2,11,13: "Collana di Testi Patristici," Rome, 2000, p. 29). Như vậy, trong hành trình đời sống chúng ta tới Chúa Kitô, sự sợ nô lệ hiện hữu lúc đầu được thay thế bằng sự sợ trọn lành, là tình yêu, ân huệ của Chúa Thánh Thần.
Cuối buổi tiếp kiến, Đức Thánh Cha đọc bản tóm bằng tiếng Anh:
Anh chị em thân mến,
Bài suy niệm của chúng ta hôm nay tập trung vào Thánh Vịnh 110, một thánh thi ngợi khen và ta ơn, chiêm ngắm mầu nhiệm Thiên Chúa và những công trình ký diệu cứu rỗi của Người. Những hành vi cứu rỗi này của Chúa bày tỏ sự công chính, sự đồng cảm và tình yêu hình thành giao ước thân mật và vững bền Người thực hiện với dân Người.
Tác giả Thánh Vịnh mời chúng ta đáp ứng giao ước này bằng cách chiêm ngắm thánh danh Thiên Chúa với lòng kính sợ là giai đoạn đầu sự khôn ngoan. Từ ngữ sợ không có nghĩa là sự khủng khiếp, nhưng là sự cung kính chân tình đối với Chúa và là sự tán thành chân chính đối với những đường lối của Thiên Chúa. Chúng ta cũng hãy cất lòng chúng ta lên tới Chúa trong sự cám ơn và ngợi khen!
Sau đó Đức Giáo Hoàng chào các người hành hương trong nhiều thứ tiếng. Trong tiếng Anh ngài nói:
Tôi gởi một lời chào đặc biệt tới những người hành hương nói tiếng Anh hiện diện ở đây hôm nay, gồm các nhóm từ Anh Quốc, Scotland, Australia và Hoa Kỳ. Cám ơn anh chị em vì lònh yêu mến anh chị em dành cho tôi. Trên tất cả anh chị em, tôi cầu xin sự bình an và niềm vui của Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta!