"Thiên Chúa không dửng dưng đối với Kịch Tính của Tạo Vật Người"

VATICAN (Zenit.org).- Bài huấn dụ của Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI phát biểu trong cuộc tiếp kiến chung Thứ Tư hàng tuần hôm 24/5, dành cho việc suy niệm về một đoạn trích từ Thánh Vịnh 115(116).

* * *

1. Thánh vịnh 115(116) như chúng ta mới cầu nguyện, đã luôn luôn được sử dụng trong truyền thống Kitô hữu, bắt đầu với Thánh Phaolô, ngài trưng phần dẫn nhập, theo bản dịch 70 Hy lạp, viết cho các Kitô hữu Côrintô: "Vì có cùng một lòng tin, như đã chép, "Tôi đã tin, nên tôi mới nói," thì chúng tôi cũng tin, nên chúng tôi mới nói" ( 2 Co. 4: 13).

Vị Tông đồ có lòng đồng thuận thiêng liêng với tác giả Thánh vịnh, trong sự tin cậy bình thản và chứng từ chân thật, dầu cho những đau khổ và những yếu hèn con người. Khi viết cho người Roma, thánh Phaolô trích câu 2 Thánh vịnh và làm rõ nét sự tương phản giữa lòng trung của Thiên Chúa và sự không nhất quán của con người: "Thiên Chúa nhất định là Đấng chân thật, còn mọi người đều giả dối." (Rom.3:4).

Truyền thống sau này muốn biến bài ca này thành một sự ca ngợi phúc tử đạo (x. Origen, "Exhortation to Martyrdom,18: "Testi di Spiritualita," Milan, 1985,tr. 127-129) vì sự khẳng định "thật là đắc giá cái chết của những ai trung hiếu với Ngài" (x. TV 115[116[:15), hay là truyền thống muốn coi đó là một văn bản Thánh Thể vì sự qui chiếu tới "chén cứu độ" mà tác giả Thánh Vịnh nâng lên khi kêu cầu danh Chúa (x. c.13).

Truyền thống Kitô hữu đồng hóa chén này với "chén chúc tụng" (x. 1 Cor 10:16), "chén Giáo Ước Mới" (x. 1 Cor 11:25; Lc 22:20): những kiểu nói, trong Tân Ước, qui chiếu đặc biệt về Thánh Thể.

2. Trong bản gốc Do thái, Thánh Vịnh 115 (116) làm thành một sáng tác duy nhất với Thánh Vịnh trước là 114(115). Cả hai là một lời tạ ơn hợp nhất dâng lên Chúa Đấng giải thoát khỏi cơn ác mộng sự chết.

Trong văn bản của chúng ta xuất hiện ký ức về một thời quá khứ đầy thống khổ. Tác giả Thánh vịnh đã dương cao ngọn đuốc đức tin, cả khi trên miệng lưỡi ông có sự cay đắng của tuyệt vọng và bất hạnh (x. Tv 115 (116): 10). Trên thực tế, hoàn toàn chung quanh ông, một bức màn lạnh lùng hận thù và phỉnh gạt đã kéo lên, bởi vì người bạn của ông chứng tỏ mình là giả đối và bất trung (x. c.11). Nhưng, bây giờ, lời cầu biến thành lời tạ ơn vì Chúa đã nâng người tín hữu của Người khỏi cơn lốc đen tối sự giả dối (x. c.12)

Do đó, tác giả Thánh Vịnh chuẩn bị dâng một hy lễ tạ ơn trong đó sẽ uống chén nghi lễ, chén nước thánh, dấu chỉ sự công nhận ơn cứu độ (x. c.13). Do đó, phung vụ là nơi ưu tiên để cất lên lời ca ngợi biết ơn dâng Thiên Chúa Cứu Độ.

3. Trên thực tế, thêm vào nghi thức hy tế, cũng có sự qui chiếu minh nhiên về cộng đoàn "mọi dân tộc," trước họ tác giả Thánh Vịnh giữ trọn lời khẩn nguyện của mình và minh chứng cho đức tin của mình (x. c.14). Chính trong hoàn cảnh này ông công khai hóa sự tạ ơn của ông, vì biết rõ rằng, cả khi sự chết kề bên, Chúa cúi xuống ông với tình yêu của Người. Thiên Chúa không dửng dưng với kịch tính của tạo vật Người, nhưng bẻ gãy những xiềng xích trói buộc họ (x.c.16).

Được cứu khỏi chết, tác giả thánh Vịnh cảm thấy mình là "tôi tớ" của Chúa, "con của nữ tỳ Ngài" (ibid.), một kiểu nói phương Đông đẹp đẽ để chỉ người được sinh ra tại nhà chủ. Tác giả tuyên xưng cách khiêm tốn và vui mừng vì ông thuộc về nhà Thiên Chiên Chúa, về gia đình các tạo vật hiệp nhất với Chúa trong tình yêu và lòng trung thành.

4. Luôn luôn với những lời của một người cầu nguyện, Thánh Vịnh kết thúc bằng cách khơi lại nghi thức tạ ơn sẽ được cử hành trong bối cảnh đền thờ (x. cc.17-19). Như vậy sự cầu nguyện của ông sẽ được đặt trong phạm vi cộng đồng. Tiểu sử cá nhân của ông được tường thuật hầu có thể nên một động lực thúc đẩy mọi người tin và yêu mến Chúa, Do đó, trong hậu trường, chúng ta có thể thấy toàn dân Chúa khi họ tạ ơn Chúa hằng sống, Người không từ bỏ những kẻ công chính trong lãnh vực đen tối sự đau đớn và sự chết, nhưng dẫn họ tới nguồn hy vọng và sự sống.

5. Chúng ta hãy kết thúc bài suy niệm chúng ta bằng cách phó thác chúng ta cho những lời của Thánh Basil Cả đấng, trong bài giảng của ngài về Thánh vịnh 115 (116), bình luận về câu hỏi và câu trả lời hiện diện trong Thánh Vịnh:

"Tôi sẽ trả lại cho Chúa điều gì vì tất cả lòng tốt của Người đối với tôi? Tôi sẽ nâng chén cứu độ. Tác giả Thánh Vịnh đã hiểu biết rất nhiều ân huệ nhận lãnh từ Thiên Chúa: từ chỗ vô-hữu thể ông được đem vào trong hữu thể, ông được dựng nên từ bụi đất và được ban cho có lý trí... bấy giờ ông thấy nhiệm cục cứu độ sinh lợi ích cho nhân loại, nhận biết Chúa đã hiến chính mình làm giá cứu chuộc thay cho mọi người; và, khi tìm kiếm qua tất cả những gì thuộc về ông, ông không chắc về ân huệ nào ông có thể thấy là xứng đáng với Chúa.

Vậy tôi sẽ trả gì lại cho Chúa? Không phải những hy lễ hay những sát tế.. . nhưng là toàn diện cuộc sống tôi. Đó là lý do tại sao ông nói: 'Tôi sẽ nâng chén cứu độ,' gọi một 'chén' là sự đau khổ trong trận chiến thiêng liêng, sự chống đối tội lỗi cho đến chết. Hơn nữa, đó là điều Đấng Cứu Độ chúng ta đã dạy trong Tin Mừng: "Lạy Cha, nếu Cha muốn, xin cho con khỏi uống chén này', và khi Người nói với các môn đệ: 'Các anh có thể uống chén tôi sắp uống chăng?' Người qui chiếu rõ rệt tới sự chết Người đã chấp nhận vì phần rỗi thế gian" (PGXXX,109).

Cuối buổi tiếp kiến, Đức Thánh Cha đọc bản tóm tắt bằng tiếng Anh:

Thánh vịnh 115 là một lời kinh tạ ơn dâng lên Chúa Đấng đã trung thành ủng hộ tác giả Thánh Vịnh trong những lúc gian nan. Thánh vịnh bắt đầu như một kinh cá nhân nhưng sau đó biến thành một hành vị thờ phượng. Tác giả Thánh Vịnh thấy mình ở trong đền thờ, trước mặt dân, đang dâng một hy lễ tạ ơn và nâng "chén cứu độ." Truyền thống Kitô hữu chúng ta phân biệt trong Thánh Vịnh này một lời mời tin cậy vào Chúa Đấng không bao giờ tử bỏ những tôi tớ trung thành của Người. "Chén cứu độ," khơi lên Thánh thể và sự Thương Khó của Chúa, và kêu gọi mỗi người chúng ta can đảm dấn thân trong trận chiến thiêng liêng hằng ngày của chúng ta.

Rồi Đức Giáo Hoàng chào những kẻ hành hương trong nhiều thứ tiếng. Trong tiếng Anh, ngài nói:

Anh chị em thân mến,

Tôi gởi một lời chào nồng ấm tới tất cả những khách hành hương nói tiếng Anh hiện diện hôm nay. Tôi cháo cách riêng đến nhóm đến từ Anh Quốc, Malta, Canada, Trung Hoa, và Hoa Kỳ, cũng như những Thừa Sai Bác Ái từ nhiều xứ khác nhau. Xin Thiên Chúa chúc lành cho tất cả anh chị em!

Hôm nay là Ngày Châu Phi. Tôi nghĩ tới và cầu nguiyện cho dân thân yêu châu Phi. Tôi khuyến khích các cơ sở Công Giáo chúng ta tiếp tục chú ý cách quãng đại tới những nhu cầu của họ, và tôi hy vọng và cầu xin cho cộng đồng quốc tế sẽ dấn thân nhiều hơn trong những vấn đề thuộc lục địa châu Phi.

Ngày mai, lễ trọng Mình Máu Chúa Kitô, tôi sẽ chủ sự Thánh lễ lúc 7g. chiều, tại quảng trường Vương Cung Thánh Gioan Lateranô. Sau đó sẽ có cuộc kiệu truyền thống của chúng ta tới Vương Cung Thánh Đường Đức Bà Cả. Tôi chân thành mời tất cả anh chị em kết hợp trong cuộc cử hành này nơi chúng ta cùng nhau chứng minh đức tin chúng ta trong Chúa Kitô, hiện diện trong Thánh thể.