VietCatholic News (10/04/2005)

Tân Giáo Hoàng Benedicto XVI
Vào lúc 6:50 chiều (9:50 sáng giờ Los Angeles) ngày thứ Ba hôm nay, Đức Tân Giáo Hoàng Benedictô XVI đã xuất hiện trước ban-công đền Thánh Phêrô để chào mừng dân chúng và thế giới. Ngài nói bằng tiếng Ý như sau: "Anh chị em thân mến, sau Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II vĩ đại, tôi được các vị hồng y chọn làm người thợ đơn sơ và khiêm nhường làm vườn nho của Chúa. Sự kiện là Thiên Chúa có thể làm việc và hành động bằng những phương tiên thiếu thốn làm tôi được an ủi, và trên tất cả tôi tín thác thân tôi vào lời cầu nguyện của anh chị em và ơn phù trơ của Đức Maria".

Sau đó dân chúng hoản hỉ hạnh phúc hô vang trời "Benêđíctô! Benedictô!" không ngừng.

Đức Benedict XV, người vị Giáo Hoàng cai quản Giáo Hội từ năm 1914 tới 1922, là một vị Giáo Hoàng trung dung kế nhiệm Đức Giáo Hoàng Piô X, là vị Giáo Hoàng đã chấn chỉnh và thanh trừng chống lại những học thuyết và trào lưu "tân tiến" của thời đó. Có lẽ đây cũng là ước nguyện của Đức Tân Giáo Hoàng Benedictô XVI chăng?

Mới ngày hôm qua, khi khai mạc Cơ Mật Viện, trong bài giảng, ngài đã nhắc nhở hồng y đoàn như sau: Biết bao nhiêu làn gió chủ thuyết mà chúng ta đã biết đến trong những thập niên cuối cùng … Con thuyền nhỏ tư duy của nhiều Kitô hữu đã thường bị đánh bởi những đợt sóng này - trôi giạt từ thái cực này sang thái cực khác: từ Mác Xít tới chủ nghĩa tự do, tới mức chủ nghĩa tự do phóng túng; từ chủ nghĩa tập thể đến chủ nghĩa cá nhân; từ chủ nghĩa vô thần tới chủ nghĩa duy huyền bí tôn giáo mơ hồ; từ chủ nghĩa vô tín đến chủ nghĩa hỗn tạp và vân vân. Nhiều giáo phái mới được đẻ ra mỗi ngày và xảy ra điều mà Thánh Phaolô đã nói về sự lường gạt con người và sự tinh quái nhắm lôi kéo con người đến chỗ lầm lạc(x Eph 4:14). Có một đức tin rõ ràng, theo kinh Tin Kính của Giáo Hội, lại bị gán cho nhãn hiệu cuồng tín. Trong khi chủ nghĩa tương đối, nghĩa là để chính mình “bị sóng đánh trôi giạt theo mọi chiều gió đạo lý” dường như lại là cách thức hành xử duy nhất thức thời. Người ta đang thành lập một chế độ độc tài của chủ nghĩa tương đối, nó không nhìn nhận điều gì là chung kết và để cho cái tôi và ý muốn của mình là mẫu mực duy nhất.

Về đường hướng tương lai, có lẽ đây sẽ là những gì mà vị tân Giáo Hoàng sẽ nhắm tới. Cũng trong bài giảng nêu trên, ngài nói:

Trái lại chúng ta có một mẫu mực khác, đó là Con Thiên Chúa, là người thật. Ngài là thước đo của chủ nghĩa nhân bản đích thật. Đức tin “trưởng thành” không phải là một đức tin trôi theo những làn sóng thời thượng hay mốt mới. Đức tin với vóc dáng đầy đủ và trưởng thành là một đức tin ăn rễ sâu xa nơi tình bằng hữu với Chúa Kitô. Đó là tình bằng hữu mở lòng chúng ta cho tất cả những gì là thiện hảo và cho chúng ta những tiêu chuẩn để phân biệt giữa đúng và sai, giữa giả trá và chân thật. Chúng ta phải đạt đến mức trưởng thành trong đức tin chín chắn này và chúng ta phải hướng dẫn đàn chiên Chúa đến với đức tin này. Và đó là đức tin – và chỉ có đức tin ấy kiến tạo sự hiệp nhất được thực hiện trong đức bác ái. Về vấn đề này, thánh Phaolô mang lại cho chúng ta những lời thật đẹp trái với những lời vòng vo lên xuống của những kẻ như trẻ thơ bị vùi giập theo làn sóng. Ngài nói hãy thực thi chân lý trong tình bác ái, vì đó là công thức căn bản cho sự hiện hữu Kitô Giáo. Chân lý và yêu thương đồng quy nơi Đức Kitô. Chân lý và bác ái đồng nhất với nhau tùy theo mức độ gần gũi của chúng ta với Chúa Kitô trong cuộc sống của chúng ta. Tình yêu mà không có chân lý chỉ là tình yêu mù quáng; chân lý mà không có yêu thương chỉ là “não bạt phèng la” mà thôi(1 Cor:13-1).

Chỉ sau có 3 lần bầu phiếu ĐHY Ratzinger đã được chọn làm giáo hoàng, điều đó chứng tỏ có sự nhất trí của các hồng y và cũng chứng tỏ tầm ảnh hưởng và thế giá của Đức Tân Giáo Hoàng.

Đức tân giáo hoàng là người Đức dầu tiên được chọn làm Giáo Hoàng sau 9 thế kỷ, nghĩa là từ thế kỷ thứ XI giờ mới có người Đức làm giáo hoàng.

Ai trong chúng ta cũng biết Đức Tân Giáo Hoàng là người đã làm việc tại Vatican trong suốt 24 năm qua, là người cầm cân nảy mực về giáo lý và đức tin Công giáo. Ngài là cánh tay phải của Đức Gioan Phaolô II. Và vì thế ngài không những quen thuộc với giáo triều Vatican mà còn có cơ hội biết nhiều về tình hình thế giới nói chung.

Ngài cũng là vị hồng y mà hầu hết mọi người khi nói tới ngài đều ca tụng là một người lỗi lạc, thông minh, chính truyền và khiêm nhường.

ĐGH Ratzinger thời còn làm giám mục tại Đức
Mới 35 tuổi ngài được mời làm cố vấn tham dự Công Đồng Vatican II là Công Đồng đã đưa Giáo Hội nhập cuộc vào thế giới mới.

Trước khi làm việc tại Giáo triều Vatican, ngài đã từng dậy học tại nhiều đại học danh tiếng khác nhau. Cũng có thể vì thế mà một số người nói rằng, ngài thực ra không có kinh nghiệm trực tiếp về mục vụ. Thế nhưng sau 24 năm làm việc tại Roma, ngài hẳn đã quen thuộc với hniều vấn đề trong lãnh vực đức tin, truyền giáo và mục vụ, vì văn phòng của ngài hằng ngày phải đối diện với các vấn đề này.

Hiện nay thế giới Công Giáo cần một vị Giáo Hoàng vừa có thể đối diện với thế giới bên ngoài, nhưng đồng thời về nội bộ cần phải duy trì những điều căn bản của đạo giáo và đưa tới sự hiệp nhất và nhất trí. Đức tân Giáo Hoàng Benedictô đã có những khả năng này, vì chỉ sau 3 cuộc bỏ phiếu ngài đã được đắc cử, chứng tỏ các đức hồng y hoàn toàn tin tưởng nơi Ngài.

Đức Hồng Y Joseph Ratzinger, niên trưởng Hồng Y Đoàn, nguyên tổng trưởng Bộ Giáo Lý Đức Tin, chủ tịch Ủy Ban Tòa Thánh về Thánh Kinh, chủ tịch Ủy Ban Thần Học Quốc Tế, sinh ngày 16/4/1927 tại Marktl am Inn, Đức quốc. Ngài được thụ phong linh mục ngày 29/6/1951.

Thân phụ ngài là một cảnh sát viên xuất thân từ một gia đình nông dân miền Hạ Baviera. Thời thiếu niên, ngài theo học tại Traunstein và bị gọi nhập ngũ phục vụ với tư cách quân nhân dự bị trong lực lượng phòng không Đức quốc xã vào những tháng sau cùng của Thế Chiến Thứ Hai.

Đức TGH có người anh là LM Goerg Ratzinger 81 tuổi
Sau chiến tranh, từ 1946 đến 1951 ngài theo học Triết Học và Thần Học tại Đại Học Munich. Sau khi được thụ phong linh mục năm 1951 ngài tiếp tục học Cao Học tại Traunstein. Năm 1953, ngài được cấp bằng Tiến Sĩ Thần Học với đề tài: “Dân Chúa trong học thuyết của Thánh Augustinô về Giáo Hội”.

Bốn năm sau đó, ngài trở thành Giáo Sư Đại Học. Ngài dạy Tín Lý và Thần Học Căn Bản tại Viện Cao Học Freising, sau đó tại Bonn từ 1959 đến 1969, Münster từ 1963 đến 1966, Tubinga từ 1966 đến 1969. Từ năm 1969, ngài là Giáo Sư Thần Học Tín Lý và Lịch Sử Tín Lý tại Đại Học Regensburg và là phó Giám Đốc viện Đại Học này.

Năm 1962, lúc 35 tuổi ngài đã rất nổi tiếng trên thế giới và trở thành cố vấn cho Tòa Thánh tại Công Đồng Chung Vatican II, cũng như cố vấn cho Đức Hồng Y Joseph Frings, lúc ấy là Tổng Giám Mục Cologne.

Trong vô số các tác phẩm của ngài, nổi tiếng nhất là cuốn “Nhập Môn Kitô Giáo” xuất bản năm 1968 và cuốn “Tín Lý và Mạc Khải” tổng hợp các suy tư, bài giảng và tiểu luận dành riêng cho việc mục vụ xuất bản năm 1973.

Tháng 3 năm 1977, Đức Giáo Hoàng Phaolô Đệ Lục bổ nhiệm ngài là Tổng Giám Mục Munich và Freising. Ngài được tấn phong ngày 28/5/1977.

Liền đó, ngài được Đức Giáo Hoàng Phaolô Đệ Lục tấn phong Hồng Y ngày 27/6/1977.

Ngày 25/11/1981, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II cử ngài giữ chức tổng trưởng Bộ Giáo Lý Đức Tin, chủ tịch Ủy Ban Tòa Thánh về Thánh Kinh, và chủ tịch Ủy Ban Thần Học Quốc Tế.

Ngài đã từng là phát ngôn viên tại Thượng Hội Đồng Giám Mục kỳ 5 (1980), chủ tịch Đại Biểu tại Thượng Hội Đồng Giám Mục kỳ 6 (1983).

Ngài được bầu làm phó niên trưởng Hồng Y Đoàn ngày 6/11/1998. Ngày 30/11/2002, Đức Thánh Cha đã phê chuẩn việc các Hồng Y bầu ngài là niên trưởng Hồng Y Đoàn.

Trong 6 năm (1986-92), ngài đã là chủ tịch Ủy Ban Soạn Thảo Sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo.

Tại giáo triều Rôma, ngài là thành viên

* Bộ Quan Hệ với Các Dân Nước

* Bộ Giáo Hội Đông Phương, Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích, Bộ Giám Mục, Bộ Rao Giảng Tin Mừng Cho Các Dân Tộc, Bộ Giáo Dục Công Giáo.

* Hội Đồng Tòa Thánh về Hiệp Nhất Các Tín Hữu Kitô, Hội Đồng Tòa Thánh đặc trách Văn Hóa

* Ủy Ban Châu Mỹ La Tinh và Ủy Ban Giáo Hội Chúa