Bài viết phản ánh những quan điểm của Giáo Hội trước kỳ họp thường niên tại Liên Hiệp Quốc
NEW YORK (Zenit.org).-Vào ngày hôm nay cho đến ngày 11 tháng 3 năm 2005, Liên Hiệp Quốc sẽ triệu tập một cuộc họp để nghiên cứu về địa vị của người phụ nữ. Để đánh dấu kỷ niệm 10 năm của cuộc hội thảo tại Bắc Kinh thuộc Trung Cộng về người phụ nữ, một Ủy Ban Nghiên Cứu về Điạ Vị của Người Phụ Nữ sẽ tổ chức một cuộc hội thảo đặc biệt, được biết đến như là Hội Nghị Bắc Kinh+10 ngay tại trụ sở của Liên Hiệp Quốc.
Vừa mới đây, trong ấn bản hằng tuần bằng tiếng Anh của Tờ Người Quan Sát Viên Tòa Thánh đã có rất nhiều những bài viết giải thích về quan điểm của Giáo Hội đối với những vấn đề có liên quan tới người phụ nữ. Trong ấn bản ngày 5 tháng 1 vừa qua, Tiến Sĩ Mary Ann Glendon, chủ tịch của Học Viện Giáo Hoàng về Khoa Học Xã Hội, và đồng thời cũng là Giáo Sư Luật tại trường Đại Học Harvard, đã đề cập đến vấn đề kỳ thị đối với người phụ nữ.
Tiến Sĩ ghi nhận rằng ngày 18 tháng 12 vừa qua chính là ngày kỷ niệm 25 năm của Hiến Chương Liên Hiệp Quốc về Việc Loại Bỏ Tất Cả Mọi Hình Thức Kỳ Thị Những Người Phụ Nữ (Convention on the Elimination of All Forms of Discirmination Against Women (CEDAW)). Dựa trên bối cảnh của sự kiện này, Tiến Sĩ Glendon đã hoan nghênh sự đóng góp của Liên Hiệp Quốc trong việc công bố về tính nhân phẩm và sự bình quyền của những người phụ nữ, được bắt đầu bằng Bản Tuyên Ngôn Chung về Nhân Quyền 1948.
Tuy nhiên, việc đem ra áp dụng các nguyên tắc của sự bình đẳng trong xã hội và nghành luật pháp đã gặp phải không ít nhiều thách đố. Tiến Sĩ Glendon nhìn nhận rằng, cố Đệ Nhất Phu Nhân Eleanor Roosevelt, người lúc đó là chủ tịch của Ủy Ban, đã giúp đưa ra Bản Tuyên Ngôn Chung 1948, nhằm bảo vệ quyền bình đẳng cho những người phụ nữ, bằng việc khẳng định rắn chắc rằng: “những sự khác biệt giữa việc sinh con và việc phục vụ quân ngũ, giữa hai phái, cần phải được cân nhắc và xem xét tới.” Thì quan điểm đó cũng tương đồng với quan điểm của Giáo Hội rằng gia đình chính là tổ ấm, là nơi mà “những người nam và nữ sống như là những người nam và những người nữ, để bổ sung lẫn nhau.”
Thế nhưng Tiến Sĩ Glendon nói rằng khi vấn đề có liên quan tới việc soạn thảo ra CEDAW, thì đã bị một ấn bản khác chi phối. Văn kiện bị ảnh hưởng bởi khuynh hướng của thuyết nam nữ bình quyền (feminism) nhằm nhấn mạnh đến những thái độ tiêu cực đối với phái nam, đối với việc hôn nhân và việc làm mẹ. Theo Tiến Sĩ Glendon, vì lý do này mà CEDAW “vẫn còn chứa đựng một số vấn đề mang tính nan giải.”
Việc Cấm Cản Ngày Lể Dành Cho Các Bà Mẹ (Outlawing Mother’s Day)
Trong số những yếu tố tiêu cực của Hiệp Định 1979 chính là những phần được diễn dịch nhằm ngăn cản việc bảo vệ đặc biệt dành cho các bà mẹ. Hơn nữa, nó thích cổ võ sự bình đẳng theo kiểu tạo ra thêm nhiều những mối căng thẳng với những quyền lợi cơ bản, chẳng hạn như quyền tự do diễn đạt và tự do tín ngưỡng. Một hội đồng được thiết lập ra để giám sát sự thi hành đúng với CDEDAW, chỉ uổng công vô ích. Chẳng hạn như, hội đồng chỉ trích các quốc gia không tạo điều kiện thuận lợi, dễ dàng cho việc phá thai và lên án việc xem Ngày Lễ Dành Cho Các Bà Mẹ như là một ngày nghĩ lễ. Thế nhưng giờ đây, theo Tiến Sĩ Glendon, đại đa số những người phụ nữ đó đã từ bỏ thuyết “nam nữ bình quyền theo kiểu xưa củ.” Trong khi phụ nữ vẫn tích cực vận động cho quyền bình đẳng, thì họ bị xa lánh bởi thái độ chống đối lại đàn ông, và chống đối lại gia đình của những thế hệ sơ khai về thuyết nam nữ bình quyền.
Trong khi đó, học thuyết của Giáo Hội, thì ngược lại, tạo nhiều cơ hội cho những người phụ nữ trong việc kiếm tìm và theo đuổi một chủ nghĩa nam nữ bình quyền đích thực, thuần túy, và Tiến Sĩ Glendon cũng đã đồng ý như vậy. Trong Hiến Chế (Encyclical) “Laborem Exercens” của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô Đệ Nhị, Ngài đã khẳng định tầm quan trọng của gia đình và nhu cầu giúp cho người phụ nữ có cơ hội được thăng tiến lên trong sở làm mà không phải hy sinh vai trò làm mẹ. Trong các bài viết khác, Đức Thánh Cha cũng đã kêu gọi cần phải có một sự thay đổi trong thái độ suy nghĩ của xã hội, để những người phụ nữ có dịp thi thố các tài năng tiềm ẩn của họ, ngay cả việc ở nhà.
Thì điều này theo Tiến Sĩ Glendon, chẳng có gì là ngạc nhiên cả. Các Sách Phúc Âm đã mạc khải việc Chúa Giêsu đã phá vở những truyền thống xưa củ bằng việc đối xử tốt và tín thác phần nào những giảng dạy của Ngài cho họ. Và đạo Kitô giáo, thông qua việc cổ võ chính sách một vợ-một chồng (monogamy) và sự bền vững (indissolubility) của hôn nhân, “có lẽ đã hành động nhiều hơn hẳn bất kỳ một thế lực nào khác trong lịch sử nhằm giải phóng những người phụ nữ khỏi những truyền thống ràng buộc và chối bỏ tính nhân phẩm của họ.”
Chủ Nghĩa Nam Nữ Bình Quyền Theo Kiểu Công Giáo (Catholic Feminism)
Vai trò của những người nam và những người nữ trong xã hội chính là đề tài của một bài báo, được viết ra bởi nữ tác giả Janne Haaland Matlary, và được đăng trong số ấn bản của ngày 12 tháng 1 của tờ Người Quan Sát Viên Tòa Thánh. Vị nữ Giáo Sư thuộc phân khoa chính trị học tại trường Đại Học Oslo (tại Na Uy) đã dùng Lá Thư được xuất bản vào ngày 31 tháng 7 vừa qua của Bộ Giáo Lý Đức Tin về đề tài: “Sự Cộng Tác của Những Người Nam và Nữ trong Giáo Hội và trên Thế Giới” làm nền tảng cho những suy nghĩ về bài viết.
Vị học giả người Na Uy ghi nhận rằng Lá Thư đó, nhìn nhận một sự khác biệt sâu rộng hơn giữa hai phái, chứ không phải chỉ có sự khác biệt về mặt sinh học mà thôi; sự khác nhau còn được mở rộng đến cả những khác biệt về mặt tâm lý và mặt bản thể học (ontological). Bằng cách này mà nhân loại học Công Giáo tránh được những lổi lầm của việc giản hóa luận (reductionism) về mặt sinh học, nhằm xem nhẹ vai trò sinh con của những người phụ nữ. Nó cũng còn cố tránh một lầm lổi lớn khi cố đem ra áp dụng một quan niệm nào đó, vốn chỉ dựa trên những yếu tố về mặt xã hội mà thôi, nhằm làm giảm sự khác biệt giữa hai phái xuống chỉ còn là một “cấu trúc xã hội” mà thôi.
Nữ Giáo Sư Matlary tóm tắt lại những gì mà Giáo Sư nhận thấy như là một cái nhìn tổng quan về “Chủ nghĩa nam nữ bình quyền theo kiểu Công Giáo” vốn được mô tả rất rõ ràng và cụ thể của Bộ Giáo Lý Đức Tinh. Nhìn chung lại thì Lá Thư được đưa ra là nhằm xoay quanh mối quan hệ giữa hai phái dựa trên việc bắt chước Chúa Kitô qua việc tự hiến dâng chính bản thân mình cho người khác, và để phục vụ người khác. Thì cái ý tưởng về việc tự hiến dâng chính bản thân mình có một sự liên quan đặc biệt đến những người phụ nữ, qua việc sinh và dưỡng nuôi con cái.
Về đề tài có liên quan tới công việc và đời sống gia đình, nữ Giáo Sư Matlary giải thích rằng Lá Thư của Bộ Giáo Lý Đức Tin nhấn mạnh đến khía cạnh gia đình. Chính vì thế, việc thông qua các luật lệ nhằm bảo đảm sự bình đẳng tại nơi làm việc đối với những người phụ nữ, không thôi thì cũng vẫn chưa đủ. “Phụ nữ phải được phép bắt chước và giống như những người nam,” Giáo Sư Matlary đã nhận định như vậy. “Thế nhưng chính những người phụ nữ đã không đạt được những chính sách nhằm chú trọng tới với việc làm mẹ và việc phản ánh đúng với sự thật đó, nếu như họ đúng thật sự là những người theo ý tưởng của Kitô giáo qua việc phục vụ, làm việc và thực thi vai trò lãnh đạo theo một cách khác hẳn so với nam giới.”
Thay Đổi Thái Độ (Changing Attitudes)
Lá Thư của Bộ Giáo Lý Đức Tin nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc thay đổi thái độ để nhằm đạt được một sự hợp tác đúng đắng giữa những người nam và những người nữ. Giáo Sư Matlary cho rằng những thái độ hiện thời thường hay chống đối lại đời sống gia đình cũng như những người phụ nữ muốn dành thời gian ở nhà. Chủ nghĩa nam nữ bình quyền đã được tập trung vào quan điểm của một cá nhân về các quyền lợi, nhằm xem nhẹ tầm quan trọng của gia đình, như là một tế bào trong xã hội. Thì trong hình thức về quyền lợi chủ nghĩa cá nhân này (rights-based individualism), gia đình và vai trò của người phụ nữ, chẳng là gì cả. Mà điều bổng dưng trở nên quan trọng chính là việc phụ nữ nắm giữ ít nhất là 50% các vị trí công cộng ngoài xã hội. Từ cách nhìn này, đời sống gia đình, tự dưng, trở thành những cản ngăn trong việc nhìn nhận ra tài năng của những người phụ nữ, và việc có con như là một gánh nặng.
Thì thái độ này đang bắt đầu thay đổi dần tại một số quốc gia, vì càng ngày càng có nhiều sự nhấn mạnh về việc giúp đỡ những người phụ nữ đạt được thế căng bằng giữa công việc và gia đình, Giáo Sư Matlary đã nhận định như vậy. Tuy nhiên, càng chú trọng nhiều về sự bình đẳng của những người phụ nữ tại công sở bao nhiêu, thì đó là một lỗi lầm quan trọng lớn bấy nhiêu, khi lại xem nhẹ gia đình.
Quan điểm của Công Giáo có một cách tiếp cận khác hẳn. Công Giáo nhìn về công việc như là cách để phục vụ những người khác, chứ không phải là hình thức kiếm tìm hay dành quyền hành tại công sở. Trong đời sống gia đình, Công Giáo xem đó như là cách để nâng cao, và bổ sung cho nhau, giữa người nam và người nữ, có nghĩa là người mẹ nên dành nhiều thời gian cho các con trẻ khi chúng hãy còn bé nhỏ. Và nhà nước, thay vì chỉ bảo đảm những quyền về cá nhân, phải có bổn phận để ủng hộ gia đình và vai trò làm mẹ, bởi vì gia đình chính là tảng đá góc tường, và là trụ cột của xã hội.
Thuyết nam nữ bình quyền của Công Giáo, như Giáo Sư Matlary viết, chính là nguyên tắc nền tảng xem gia đình là ưu tiên hàng đầu. Cùng với việc xem công việc như là cách để phục vụ và cho đi, thì như thế sẽ giúp nâng cao vai trò của người phụ nữ trong gia đình, xem gia đình là ưu tiên quan trọng hàng đầu. Việc chấp nhận và sống đúng với những nguyên tắc này, và hiểu được rằng “đây chính là loại quyền lực mà Thiên Chúa đã nói và giảng dạy cho chúng ta,” thì đó chính là thách đố mà những người Công Giáo hiện nay phải diện đối và suy nghĩ.
NEW YORK (Zenit.org).-Vào ngày hôm nay cho đến ngày 11 tháng 3 năm 2005, Liên Hiệp Quốc sẽ triệu tập một cuộc họp để nghiên cứu về địa vị của người phụ nữ. Để đánh dấu kỷ niệm 10 năm của cuộc hội thảo tại Bắc Kinh thuộc Trung Cộng về người phụ nữ, một Ủy Ban Nghiên Cứu về Điạ Vị của Người Phụ Nữ sẽ tổ chức một cuộc hội thảo đặc biệt, được biết đến như là Hội Nghị Bắc Kinh+10 ngay tại trụ sở của Liên Hiệp Quốc.
Vừa mới đây, trong ấn bản hằng tuần bằng tiếng Anh của Tờ Người Quan Sát Viên Tòa Thánh đã có rất nhiều những bài viết giải thích về quan điểm của Giáo Hội đối với những vấn đề có liên quan tới người phụ nữ. Trong ấn bản ngày 5 tháng 1 vừa qua, Tiến Sĩ Mary Ann Glendon, chủ tịch của Học Viện Giáo Hoàng về Khoa Học Xã Hội, và đồng thời cũng là Giáo Sư Luật tại trường Đại Học Harvard, đã đề cập đến vấn đề kỳ thị đối với người phụ nữ.
Tiến Sĩ ghi nhận rằng ngày 18 tháng 12 vừa qua chính là ngày kỷ niệm 25 năm của Hiến Chương Liên Hiệp Quốc về Việc Loại Bỏ Tất Cả Mọi Hình Thức Kỳ Thị Những Người Phụ Nữ (Convention on the Elimination of All Forms of Discirmination Against Women (CEDAW)). Dựa trên bối cảnh của sự kiện này, Tiến Sĩ Glendon đã hoan nghênh sự đóng góp của Liên Hiệp Quốc trong việc công bố về tính nhân phẩm và sự bình quyền của những người phụ nữ, được bắt đầu bằng Bản Tuyên Ngôn Chung về Nhân Quyền 1948.
Tuy nhiên, việc đem ra áp dụng các nguyên tắc của sự bình đẳng trong xã hội và nghành luật pháp đã gặp phải không ít nhiều thách đố. Tiến Sĩ Glendon nhìn nhận rằng, cố Đệ Nhất Phu Nhân Eleanor Roosevelt, người lúc đó là chủ tịch của Ủy Ban, đã giúp đưa ra Bản Tuyên Ngôn Chung 1948, nhằm bảo vệ quyền bình đẳng cho những người phụ nữ, bằng việc khẳng định rắn chắc rằng: “những sự khác biệt giữa việc sinh con và việc phục vụ quân ngũ, giữa hai phái, cần phải được cân nhắc và xem xét tới.” Thì quan điểm đó cũng tương đồng với quan điểm của Giáo Hội rằng gia đình chính là tổ ấm, là nơi mà “những người nam và nữ sống như là những người nam và những người nữ, để bổ sung lẫn nhau.”
Thế nhưng Tiến Sĩ Glendon nói rằng khi vấn đề có liên quan tới việc soạn thảo ra CEDAW, thì đã bị một ấn bản khác chi phối. Văn kiện bị ảnh hưởng bởi khuynh hướng của thuyết nam nữ bình quyền (feminism) nhằm nhấn mạnh đến những thái độ tiêu cực đối với phái nam, đối với việc hôn nhân và việc làm mẹ. Theo Tiến Sĩ Glendon, vì lý do này mà CEDAW “vẫn còn chứa đựng một số vấn đề mang tính nan giải.”
Việc Cấm Cản Ngày Lể Dành Cho Các Bà Mẹ (Outlawing Mother’s Day)
Trong số những yếu tố tiêu cực của Hiệp Định 1979 chính là những phần được diễn dịch nhằm ngăn cản việc bảo vệ đặc biệt dành cho các bà mẹ. Hơn nữa, nó thích cổ võ sự bình đẳng theo kiểu tạo ra thêm nhiều những mối căng thẳng với những quyền lợi cơ bản, chẳng hạn như quyền tự do diễn đạt và tự do tín ngưỡng. Một hội đồng được thiết lập ra để giám sát sự thi hành đúng với CDEDAW, chỉ uổng công vô ích. Chẳng hạn như, hội đồng chỉ trích các quốc gia không tạo điều kiện thuận lợi, dễ dàng cho việc phá thai và lên án việc xem Ngày Lễ Dành Cho Các Bà Mẹ như là một ngày nghĩ lễ. Thế nhưng giờ đây, theo Tiến Sĩ Glendon, đại đa số những người phụ nữ đó đã từ bỏ thuyết “nam nữ bình quyền theo kiểu xưa củ.” Trong khi phụ nữ vẫn tích cực vận động cho quyền bình đẳng, thì họ bị xa lánh bởi thái độ chống đối lại đàn ông, và chống đối lại gia đình của những thế hệ sơ khai về thuyết nam nữ bình quyền.
Trong khi đó, học thuyết của Giáo Hội, thì ngược lại, tạo nhiều cơ hội cho những người phụ nữ trong việc kiếm tìm và theo đuổi một chủ nghĩa nam nữ bình quyền đích thực, thuần túy, và Tiến Sĩ Glendon cũng đã đồng ý như vậy. Trong Hiến Chế (Encyclical) “Laborem Exercens” của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô Đệ Nhị, Ngài đã khẳng định tầm quan trọng của gia đình và nhu cầu giúp cho người phụ nữ có cơ hội được thăng tiến lên trong sở làm mà không phải hy sinh vai trò làm mẹ. Trong các bài viết khác, Đức Thánh Cha cũng đã kêu gọi cần phải có một sự thay đổi trong thái độ suy nghĩ của xã hội, để những người phụ nữ có dịp thi thố các tài năng tiềm ẩn của họ, ngay cả việc ở nhà.
Thì điều này theo Tiến Sĩ Glendon, chẳng có gì là ngạc nhiên cả. Các Sách Phúc Âm đã mạc khải việc Chúa Giêsu đã phá vở những truyền thống xưa củ bằng việc đối xử tốt và tín thác phần nào những giảng dạy của Ngài cho họ. Và đạo Kitô giáo, thông qua việc cổ võ chính sách một vợ-một chồng (monogamy) và sự bền vững (indissolubility) của hôn nhân, “có lẽ đã hành động nhiều hơn hẳn bất kỳ một thế lực nào khác trong lịch sử nhằm giải phóng những người phụ nữ khỏi những truyền thống ràng buộc và chối bỏ tính nhân phẩm của họ.”
Chủ Nghĩa Nam Nữ Bình Quyền Theo Kiểu Công Giáo (Catholic Feminism)
Vai trò của những người nam và những người nữ trong xã hội chính là đề tài của một bài báo, được viết ra bởi nữ tác giả Janne Haaland Matlary, và được đăng trong số ấn bản của ngày 12 tháng 1 của tờ Người Quan Sát Viên Tòa Thánh. Vị nữ Giáo Sư thuộc phân khoa chính trị học tại trường Đại Học Oslo (tại Na Uy) đã dùng Lá Thư được xuất bản vào ngày 31 tháng 7 vừa qua của Bộ Giáo Lý Đức Tin về đề tài: “Sự Cộng Tác của Những Người Nam và Nữ trong Giáo Hội và trên Thế Giới” làm nền tảng cho những suy nghĩ về bài viết.
Vị học giả người Na Uy ghi nhận rằng Lá Thư đó, nhìn nhận một sự khác biệt sâu rộng hơn giữa hai phái, chứ không phải chỉ có sự khác biệt về mặt sinh học mà thôi; sự khác nhau còn được mở rộng đến cả những khác biệt về mặt tâm lý và mặt bản thể học (ontological). Bằng cách này mà nhân loại học Công Giáo tránh được những lổi lầm của việc giản hóa luận (reductionism) về mặt sinh học, nhằm xem nhẹ vai trò sinh con của những người phụ nữ. Nó cũng còn cố tránh một lầm lổi lớn khi cố đem ra áp dụng một quan niệm nào đó, vốn chỉ dựa trên những yếu tố về mặt xã hội mà thôi, nhằm làm giảm sự khác biệt giữa hai phái xuống chỉ còn là một “cấu trúc xã hội” mà thôi.
Nữ Giáo Sư Matlary tóm tắt lại những gì mà Giáo Sư nhận thấy như là một cái nhìn tổng quan về “Chủ nghĩa nam nữ bình quyền theo kiểu Công Giáo” vốn được mô tả rất rõ ràng và cụ thể của Bộ Giáo Lý Đức Tinh. Nhìn chung lại thì Lá Thư được đưa ra là nhằm xoay quanh mối quan hệ giữa hai phái dựa trên việc bắt chước Chúa Kitô qua việc tự hiến dâng chính bản thân mình cho người khác, và để phục vụ người khác. Thì cái ý tưởng về việc tự hiến dâng chính bản thân mình có một sự liên quan đặc biệt đến những người phụ nữ, qua việc sinh và dưỡng nuôi con cái.
Về đề tài có liên quan tới công việc và đời sống gia đình, nữ Giáo Sư Matlary giải thích rằng Lá Thư của Bộ Giáo Lý Đức Tin nhấn mạnh đến khía cạnh gia đình. Chính vì thế, việc thông qua các luật lệ nhằm bảo đảm sự bình đẳng tại nơi làm việc đối với những người phụ nữ, không thôi thì cũng vẫn chưa đủ. “Phụ nữ phải được phép bắt chước và giống như những người nam,” Giáo Sư Matlary đã nhận định như vậy. “Thế nhưng chính những người phụ nữ đã không đạt được những chính sách nhằm chú trọng tới với việc làm mẹ và việc phản ánh đúng với sự thật đó, nếu như họ đúng thật sự là những người theo ý tưởng của Kitô giáo qua việc phục vụ, làm việc và thực thi vai trò lãnh đạo theo một cách khác hẳn so với nam giới.”
Thay Đổi Thái Độ (Changing Attitudes)
Lá Thư của Bộ Giáo Lý Đức Tin nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc thay đổi thái độ để nhằm đạt được một sự hợp tác đúng đắng giữa những người nam và những người nữ. Giáo Sư Matlary cho rằng những thái độ hiện thời thường hay chống đối lại đời sống gia đình cũng như những người phụ nữ muốn dành thời gian ở nhà. Chủ nghĩa nam nữ bình quyền đã được tập trung vào quan điểm của một cá nhân về các quyền lợi, nhằm xem nhẹ tầm quan trọng của gia đình, như là một tế bào trong xã hội. Thì trong hình thức về quyền lợi chủ nghĩa cá nhân này (rights-based individualism), gia đình và vai trò của người phụ nữ, chẳng là gì cả. Mà điều bổng dưng trở nên quan trọng chính là việc phụ nữ nắm giữ ít nhất là 50% các vị trí công cộng ngoài xã hội. Từ cách nhìn này, đời sống gia đình, tự dưng, trở thành những cản ngăn trong việc nhìn nhận ra tài năng của những người phụ nữ, và việc có con như là một gánh nặng.
Thì thái độ này đang bắt đầu thay đổi dần tại một số quốc gia, vì càng ngày càng có nhiều sự nhấn mạnh về việc giúp đỡ những người phụ nữ đạt được thế căng bằng giữa công việc và gia đình, Giáo Sư Matlary đã nhận định như vậy. Tuy nhiên, càng chú trọng nhiều về sự bình đẳng của những người phụ nữ tại công sở bao nhiêu, thì đó là một lỗi lầm quan trọng lớn bấy nhiêu, khi lại xem nhẹ gia đình.
Quan điểm của Công Giáo có một cách tiếp cận khác hẳn. Công Giáo nhìn về công việc như là cách để phục vụ những người khác, chứ không phải là hình thức kiếm tìm hay dành quyền hành tại công sở. Trong đời sống gia đình, Công Giáo xem đó như là cách để nâng cao, và bổ sung cho nhau, giữa người nam và người nữ, có nghĩa là người mẹ nên dành nhiều thời gian cho các con trẻ khi chúng hãy còn bé nhỏ. Và nhà nước, thay vì chỉ bảo đảm những quyền về cá nhân, phải có bổn phận để ủng hộ gia đình và vai trò làm mẹ, bởi vì gia đình chính là tảng đá góc tường, và là trụ cột của xã hội.
Thuyết nam nữ bình quyền của Công Giáo, như Giáo Sư Matlary viết, chính là nguyên tắc nền tảng xem gia đình là ưu tiên hàng đầu. Cùng với việc xem công việc như là cách để phục vụ và cho đi, thì như thế sẽ giúp nâng cao vai trò của người phụ nữ trong gia đình, xem gia đình là ưu tiên quan trọng hàng đầu. Việc chấp nhận và sống đúng với những nguyên tắc này, và hiểu được rằng “đây chính là loại quyền lực mà Thiên Chúa đã nói và giảng dạy cho chúng ta,” thì đó chính là thách đố mà những người Công Giáo hiện nay phải diện đối và suy nghĩ.