Phong Trào Phò Sự Sống chính là Những Dấu Hiệu của Sự Tin Cậy (Phần II)

NEW YORK, JAN. 20, 2005 (Zenit.org).- Phong trào phò sự sống là một phong trào bao gồm nhiều hoạt động, chứ không phải chỉ đơn thuần là một lời đáp trả lại Roe vs. Wade (*), mà đúng hơn đó là một lời đáp trả với Chúa Giêsu Kitô. Và đó chính là lời nhận xét của Cha Frank Pavone, giám đốc của Hội Các Linh Mục vì Sự Sống.

Cha đã chia sẽ với hãng tin Zenit về vai trò của Giáo Hội và những người tín hữu của Chúa Giêsu cần phải hành động trong phong trào bảo vệ sự sống, và những gì phong trào đang làm chính là để cổ võ tính nhân phẩm của đời sống con người.

Hỏi (H): Thưa Cha, Giáo Hội đóng vai trò như thế nào trong hoạt động của phong trào phò sự sống? Và đâu là vai trò của người giáo dân Công Giáo?

Cha Pavone (T): Thưa, trước tiên hết vẫn là Giáo Hội đóng vai trò tiên tri, trong việc công bố, gìn giữ và bảo tồn bức thông điệp rằng mỗi một người đều tùy thuộc về Thiên Chúa, và do đó, sinh mạng của họ không được sở hữu hay trấn áp bởi bất kỳ một người nào. Hơn nữa, mạng sống con người đã cùng nhập chung với đời sống thiêng liêng của Thiên Chúa qua việc Nhập Thể, và do đó, con người được mời gọi để sẽ chia cuộc sống đó trong vinh quang cho đến mãi muôn đời.

Thì những sự thật mạnh mẽ đó đã giúp hình thành nên cái căn cơ chính của phong trào phò sự sống, chứ không phải chỉ đơn thuần là một lời / cách đáp trả lại phán quyết của Tòa Án Tối Cao về vụ Roe vs. Wade. Mà đúng hơn, đó chính là một lời đáp trả lại cho Chúa Giêsu Kitô.

Phong trào phò sự sống, trước và sau vẫn vậy, cùng đích chính của phong trào là khuyến khích những người Kitô giáo hãy cứu vớt những trẻ em bị bỏ rơi trong Vương Quốc La Mã, để thành lập ra các bệnh viện để chăm sóc cho những người bệnh tật, yếu đau và để thực thi những công việc bác ái và công bình xã hội.

Trung tâm điểm của công bằng xã hội chính là sự bất khả xâm phạm của đời sống con người, và nền tảng của tất cả những quyền lợi con người lại chính là quyền về sự sống. Việc thành hình tốt nhất của sứ vụ tiên tri của Giáo Hội đối với sự sống chính là tông thư về “Evangelium Vitae” của Đức Thánh Cha và vào tháng 3 tới này, chúng ta sẽ mừng kỷ niệm 10 năm ngày công bố tông thư ấy, một sự kiện mà mỗi người trong chúng ta cần phải luôn tôn trọng.

Bằng việc thi hành vai trò tiên tri của mình, Giáo Hội đã trở nên ý thức hơn về vấn đề lương tâm con người. Các chính phủ đời, tuy độc lập khỏi Giáo Hội, nhưng vẫn bị ràng buộc bởi luật lệ về luân lý mà Giáo Hội giảng dạy. Cả Giáo Hội và nhà nước đều phải có những nghĩa vụ cơ bản và nền tảng đối với sự sống con người. Phải chăng Giáo Hội không hiện hữu để nhắc nhớ nhà nước về luật lệ của Thiên Chúa sao? Nếu đúng thế thì nhà nước có toàn quyền và không cần phải lắng nghe và trả lời cho bất kỳ ai, để nhà nước muốn làm gì thì làm sao?

Hơn thế nữa, vì Giáo Hội chính là Thân Thể Nhiệm Mầu của Chúa Kitô, nên Giáo Hội cần phải đáp ứng những mong muốn, đòi hỏi của bức thông điệp tiên tri trong mọi hoạt động của Giáo Hội có liên quan tới sự sống. Chính vì thế, Giáo Hội, qua sứ vụ tông đồ của người giáo dân, đang tìm cách đưa ra những giải pháp thay thế cho việc phá thai từng ngày, từng ngày một; chữa lành cho những ai sau khi đã phá thai và đề ra những dự án cụ thể để hình thành nên việc gọi là phong trào phò sự sống, bằng cách: vận động hành lang tại các nghị viện, đưa ra những sáng kiến mới về giáo dục, vân vân..

Và trong khía cạnh này, một thách đố quan trọng về tính lãnh đạo được đặt ra, cụ thể, đó là Giáo Hội và các vị cha sở được mời gọi để khám phá, khuyến khích và tận dụng những tài năng mà Thiên Chúa đã trao cho các giáo dân. Nghĩa là, phải biết phục tùng và tuân theo Thiên Chúa, Người đã mời gọi mọi người trong việc tôn trọng sự sống.

Các vị cha sở trong Giáo Hội đã được yêu cầu, theo đúng như những ngôn từ của Mẹ Chân Phước Teresa, chính là “Hãy cho phép Thiên Chúa,” và để cầu nguyện với Ngài mỗi ngày rằng: “Lạy Chúa, xin đừng để con phải cản ngăn bất kỳ ai ngày hôm nay, khi họ quyết định làm điều gì đó thiện hảo.”

(H): Thưa Cha, những nhóm hay những người nào đã giúp hình thành nên “phong trào phò sự sống”?

(T): Thưa, phong trào phò sự sống có rất nhiều khuôn mặt và hoạt động trong nhiều lãnh vực khác nhau, chẳng hạn như: những nổ lực về việc giáo dục; vận động hành lang tại các nghị viện và các hoạt động chính trị; cung cấp những giải pháp thay thế thay vì phải phá thai; giúp chữa lành và tìm sự tha thứ sau khi đã phá thai; tiến hành điều nghiên những khía cạnh về y học, xã hội học, pháp lý, triết và thần học của từng vấn nạn; giúp cho thông điệp đến được với giới truyền thông công cộng; gây sự chú ý của công cộng qua những cuộc diễn hành hay phản đối trong hòa bình và những hoạt động dựa trên Đạo Luật Đầu Tiên (về quyền tự do ngôn luận), và các hoạt động khác nữa.

Chúng tôi là những người điều hành các tổ chức quốc gia tại Hoa Kỳ, có những cuộc hội họp và gặp gỡ thường xuyên với nhau để vạch ra các chiến thuật, chia sẽ thông tin và khám phá ra những phương cách để điều phối và hợp tác.

Chúng tôi cũng có nhiều cơ hội để giao tiếp với những nhóm khác trên bình diện quốc tế, cụ thể là thông qua những sự kiện đang diễn ra tại Liên Hiệp Quốc-là nơi mà chúng tôi hiện diện để vận động hành lang-hay với nhiều các tổ chức quốc tế khác trong Giáo Hội, như là Hội Đồng Giáo Hoàng đặc trách về Gia Đình, là nơi mà tôi đã từng làm việc trong nhiều năm qua, giúp duy trì những hợp tác quốc tế qua những nổ lực nhằm bảo vệ sự sống.

(H): Thưa Cha, làm thế nào mà những bất đồng về chiến lược lẫn chính sách được hòa giải giữa rất nhiều nhóm khác nhau trong phong trào?

(T): Thưa, đôi lúc, tại những cuộc gặp gỡ thường xuyên, các lãnh đạo quốc gia có thể đi đến những thỏa thuận về phương cách tiếp cận và những chiến lược mà trước đó họ không đồng ý với nhau.

Tuy nhiên, việc tồn tại những chiến lược và các chính sách khác nhau, không nhất thiết đều là điều xấu cả. Vì suy cho cùng, không ai có thể khám phá ra một công thức nhiệm mầu nào cả để chấm dứt nạn phá thai, và phương cách tiếp cận thông minh nhất chính là cho phép những phương pháp và chiến lược khác nhau, có cơ hội được nảy sinh, trong khi đó, cứ dõi theo những diễn tiến của các hoạt động hay sách lược ấy, cần phải có sự khiêm tốn để học hỏi lẫn nhau và cần phải uyển chuyển để thích ứng với những chiến lược đó với những đòi hỏi nhanh chóng của rất nhiều tình huống khác nhau.

Một trong những giảng dạy quan trọng nhất của tông thư “Evangelium Vitae” chính là ở chổ mà Đức Thánh Cha đã công bố rằng không một cá nhân hay nhóm nào có quyền khống chế, độc quyền đối với vấn đề bảo vệ sự sống. Do vậy mọi người cầ phải tích cực, hồ hởi để cộng tác và học hỏi lẫn nhau, đặc biệt là từ những ai mà họ có quan điểm bất đồng với.

(H): Thưa Cha, điều gì đã thu hút được những ủng hộ viên có tên tuổi của những người phò phá thai như Bernard Nathanson và Norma McCorvey hay còn gọi là những người theo phe của “Jane Roe,” để tham gia vào những hoạt động phò sự sống?

(T): Thưa, điều đã thật sự thu hút họ chính là việc chăm sóc và quan tâm đến những người phò sự sống, vì cả họ đều có liên hệ trong việc đưa ra những lời chứng thực về những trường hợp của riêng họ. Họ đã nhận thấy rằng những người phò sự sống và phong trào phò sự sống, chỉ đơn giản là không thích hợp cho lắm đối với kiểu cách và khuôn mẫu mà phong trào phò phá thai, đã gây ra nhiều đau khổ, và phiền hà cho chính họ.

(H): Thưa Cha, trong tương lai, liệu phong trào phò sự sống có tập trung nhiều vào việc đáp ứng những nhu cầu của những người phụ nữ trong nạn mang thai khủng hoảng cũng như đề ra những sáng kiến về giáo dục, hay liệu sự kiện tụng, tranh chấp (litigation) và pháp luật (legislation) vẫn còn là những mối ưu tiên hàng đầu?

(T): Thưa, cả hai chiều kích ấy vẫn là những mối quan tâm hàng đầu, và hoạt động trong cả hai lãnh vực đó sẽ được gia tăng nhiều hơn nữa. Một trong những lãnh vực đã gây ra sự hứng khởi cho việc đề ra những nổ lực để hổ trợ cho việc mang thai chính là có rất nhiều trung tâm đang dần trở thành những bệnh viện, phòng khám y tế. Thì bằng cách này, chúng sẽ thu hút nhiều người phụ nữ mang tâm tưởng muốn phá thai trong đầu, và do thế, tỉ lệ thành công cũng sẽ cao hơn trong việc giúp đỡ những người phụ nữ ấy chọn sự sống.

Về khía cạnh luật pháp và tranh chấp kiện tụng, sự hứng khởi là nằm ở chổ việc bầu chọn ra rất nhiều ứng cử viên phò sự sống mới đây, và những người này, tới phiên họ, sẽ giúp hình thành nên các phương cách và phương hướng hành động tại các tòa án ở Hoa Kỳ trong nhiều thế hệ sắp tới và càng về sau nữa.

(H): Thưa Cha, nhìn về phía trước, thì đâu là những kế hoạch cho phong trào bảo vệ sự sống?

(T): Thưa, chính là việc hiểu và chăm sóc mục vụ cho những người còn sống sót của các vụ phá thai, và hiện tượng về “hội chứng còn sống sót” (survivor syndrome) chính là một điều gì đó mà chúng ta sẽ càng nghe nhiều, và lặp đi lặp lại trong thời gian tới.

Những người trẻ của chúng ta bị ảnh hưởng nặng nề bởi sự việc là luật pháp đã xem họ không phải với tư cách là những con người khi họ lại là những trẻ em không được cho sinh ra. Các lãnh đạo của những nhóm người trẻ tuổi, hàng giáo sĩ và những nhà lãnh đạo ủng hộ sự sống, các cha mẹ, các thầy cô giáo, và tất cả chúng ta phải cần hiểu và nhận thức ra những điều này sẽ ảnh hưởng đến những người trẻ của chúng ta như thế nào, để từ đó mà biết cách hành động cho tương xứng.

(*) Roe vs. Wade: chính là vụ kiện tụng gay gắt và gây ra nhiều chia rẽ nhất trong lịch sử về ngành luật pháp của Hoa kỳ. Nói nôm na và vắn tắt, đó chính là một phán quyết của Tòa Án Tối Cao, được đưa ra vào ngày 22 tháng 1 năm 1973 bởi 5 vị thẩm phán và một vị chánh án tối cao là: Harry A. Blackman, Potter Stewart, William H. Rehnquist (đương kim Chánh Án Tối Cao của Tòa Án Tối Cao Quốc Gia), Warren E. Burger, William O. Douglas và Bryon R. White trong việc cho phép Cô Jane Roe, một người phụ nữ không chồng, nhưng lại có thai, được quyền phá thai. Quyết định trên, tuy được đưa ra hơn 20 năm qua, nhưng cho đến nay, nó vẫn còn gây ra rất nhiều vụ tranh cãi, bất đồng tại xã hội Mỹ. Jane Roe sống tại Quận Dallas của tiểu bang Texas, vì không chồng nhưng lại có thai, và vì luật lệ của tiểu bang Texas lúc đó là cấm không cho phá thai, chỉ trường hợp vì thai nhi có ảnh hưởng nguy hại đến sức khỏe của bà mẹ mà thôi. Không chịu với phán quyết của tòa án tiểu bang, Jane Roe đã mang vụ kiện lên tòa án liên bang, trực tiếp kiện tụng chống lại Wade, là vị luật sư đại diện của Quận, với lập luận cho cho rằng hiến pháp và luật lệ của tiểu bang Texas là vi hiến và mơ hồ, và rằng chúng đã tước đoạt đi quyền riêng tư, cá nhân của riêng Cô, vốn được bảo vệ bởi các Tu Chánh Án 1, 4, 5, 9 và 14, và rằng vì lý do đó Cô kiện “vì danh nghĩa của riêng Cô và vì tất cả những người phụ nữ khác.” Đây là vụ kiện phức tạp và có liên quan tới rất nhiều các ngành về luật, y học, luân lý, xã hội học, vân vân. (Chú giải của dịch giả).