Giải thích Thánh vịnh 114 (116)
VATICAN Bài huấn đức của Đức Gioan Phaolo II đưa ra trong buổi triều yết chung Thứ Tư hàng tuần 26/1 mà ngài dành để giải thích Thánh Vinh 114 (116).
* * *
1. Trong Thánh vịnh 114 (116), vừa được công bố, tiếng nói của tác giả Thánh vịnh diễn tả tình yêu biết ơn của ông đối với Thiên Chúa, sau khi Người đã nghe một lời cầu xin mãnh liệt: "Lòng tôi yêu mến Chúa, vì Chúa đã nghe tiếng tôi khẩn nài. Người lại lắng tai ngày tô kêu cứu." (cc1-2).Liền sau lời công bố tình yêu này, có một sư mô tả sống động về cơn ác mộng ghê gớm bám chặt mạng sống của người đang cầu nguyện (x. cc 3-6).
Vở kịch được miêu tả với những biểu trưng thông thường của các Thánh vịnh. Những cuộn thừng vướn vào mạng sống là những cuộn thừng sư chết, những cạm bẩy làm cho sự sống khổ não là những đau nhói của hỏa ngục, ra sức lôi cuốn kẻ sống về với mình mà không bao giờ đuợc thoả mãn (x. Prov. 30: 15-16).
2. Đó là hình ảnh con mồi sa vào bẫycủa thợ săn gay gắt. Sự chết giống như cái kẹp siết chặc (x. Tv 114 [116]:3). Do đó, sau lưng người cầu nguyện là nguy cơ sự chết, đi kèm với môt kinh nghiệm tâm linh đau đớn: "Tôi cảm thấy hấp hối và hãi hùng" (c.3). Nhưng từ vực thẳm bi thảm này ông kêu tới Đấng duy nhất có thể giơ tay và kéo người sầu khổ đang cầu nguyện khỏi tình trạng rối loạn không thể gỡ: "Bây giờ tôi kêu nhân danh Chúa, 'Ôi lạy Chúa,xin cứu gỡ mạng con!" (c.4).
Đó là một lời cầu nguyện vắn tắt nhưng mãnh liệt của người thấy mình ở trong một tình trạng tuyệt vọng, bám chặc vào tấm ván cứu độ. Cũng một cách đó, các môn đệ kêu lên trong Tin Mừng giữa cơn bảo tố (x. Mt. 8:25); cũng một cách đó Thánh Phêrô đã kêu xin khi bước đi trên biển mà ông bắt đầu chìm (x. Mt 14: 30).
3 Một khi được cứu rồi, người cầu nguyện công bố rằng Chúa là "Đấng nhân từ và chính trực," còn hơn thế nữa là "môt dạ thương xót" (Tv 114[116]:5). Tĩnh từ cuối cùng này trong tiếng gốc Do thái, qui chiếu về lòng nhân hậu của môt người mẹ, gợi lên "những chiều sâu" của bà.
Sự tin tưởng đích thực luôn luôn thấy Chúa là tình yêu, mặc dầu thỉnh thoảng khó mà hiểu được những hành động của Người. Nhưng, điều chắc chắn là "Chúa hằng gìn giữ những ai bé mọn" (c.6). Do đó, trong cảnh khốn cùng và bị bỏ rơi, người ta luôn luôn có thể trông cậy vào Nguời, "Cha nuôi dưỡng cô nhi, Đấng đỡ bênh quả phụ" (Tv 67[69]:6).
4. Bấy giờ một cuộc đối thoại bắt đầu giữa Tác giả Thánh Vịnh và linh hồn ông, cuộc đối thoại tiếp diễn trong Thánh Vịnh 115 sau đó, và phải được xem như là một với Thánh vịnh mà chúng ta đang suy tư. Đó là điều truyền thống Do thái đã làm, khi nói nguồn gốc của duy nhất Thánh Vịnh 116, theo cách đếm sách Thánh vịnh Dothái. Tác giả Thánh vịnh mời linh hồn mình khôi phục sự bình an thanh thoả sau cơn ác mộng kinh khủng (x. Tv. 114[116]: 7).
Khi được kêu cầu với đức tin, Chúa giơ tay Người, bẻ gãy những cuộn thừng quấn quanh con người cầu nguyện, lau khô những giọt lệ từ mắt ông, và giữ ông khỏi rơi từ nơi cao xuống vực thẳm hoả ngục (x. c.9). Sự thay đổi sáng sủa và bài ca kết thúc với phong cảnh ánh sáng. Người cầu nguyện trở về "đất dành cho kẻ sống," nghĩa là, tới những con đường thế giới, để "bước đi trước mặt Chúa." Ông kết hợp với sự cầu nguyện công đồng trong đền thờ, là sự báo trước về sự hiệp thông với Chúa sẽ chờ đợi ông cuối cuộc đời (x. c.9)
5. Để kết thúc, chúng ta muốn tham gia lại những đoạn quan trọng nhất của Thánh Vịnh, bằng cách để chúng ta theo sự hương dẫn của một văn sĩ lớn của thế kỷ thứ ba, là ông Origen, bài giải thích của ông bằng tiếng Hy lạp về Thánh vịnh 114(116) đã đến với chúng ta trong bản Latinh của thánh Jerome.
Khi đọc Chúa " nghiêng tai Người để nghe tôi," ông nhận xét: "Chúng ta nhỏ bé và thấp hèn chúng ta không thể giương mình lên và cất mình lên cao. Vì lẽ này, Chúa nghiêng tai Người và khấn nghe chúng ta. Khi tất cả đã được nói và được làm rồi, vì chúng ta là những con người và chúng ta không thể biến thành thần thánh, nên Chúa trở nên người và nghiêng mình, theo như đã viết: "Chúa nghiêng trời ngự xuống' (Tv 17[18]:10"
Thật vậy thánh vịnh còn tiếp tục, "Chúa hằng gìn giữ những kẻ bé mọn" (Tv 114[116]:6: "Nếu người ta là trọng đại, nếu người ta tán dương mình và kiêu hãnh, Chúa không gìn giữ họ; nếu người ta tưởng mình là trọng đại, Chúa không thương xót họ; nhưng nếu ngưới ta hạ mình xuống, Chúa thương xót họ và gìn giữ họ. Đến mức độ ông nói: 'Này tôi và những đứa con mà Đức Chúa đã ban cho tôi' (Is. 8:18). Và lại :"Khi tôi bị hạ xuống thấp, thì Người cứu tôi.'"
Như vậy người nhỏ bé và nghèo hèn có thể phục hồi sự bình an, sư nghỉ ngơi, như Thánh vịnh nói (x. Tv 114[116]:7 và như chính Origen giải thích: "Khi nói: 'hãy trở về chốn an nghỉ của ngươi,' đó là một dấu trước kia ông đã có chỗ nghỉ ngơi, và rồi sau đó đã mất.. . Chúa tạo dựng chúng ta tốt lành và cho chúng ta làm trọng tài những quyết định chúng ta, và đăt chúng ta tất cả trong vườn địa đàng, cùng với Adam. Nhưng vì, bởi quyết định tự do chúng ta, chúng ta bị xô ra khỏi sự chúc lành này, và bị đày trong thung lũng khóc lóc, người công chính khuyên bảo linh hồn mình trở về nơi nó bị té khỏi.. ' hãy trở về, hỡi linh hồn tôi, nơi nghỉ ngơi của ngươi: bởi vì Chúa đã làm điều lành cho nguươi.' Hỡi linh hồn, nếu ngươi trở về thiên đàng, không phải là ngươi xứng đáng, nhửng bởi công trình lòng thương xót của Chúa. Nếu ngươi bỏ thiên đàng, đó là lỗi tại ngươi; ngược lại, việc ngưởi trở lại là công trình của lòng thương xót Chúa. Chúng ta cũng hãy nói với linh hồn chúng ta: 'hãy trở lại nơi an nghỉ của ngươi' Nơi an nghỉ chúng ta là Chúa kitô, Chúa chúng ta" (Origen-Jertome, "74 Omelie sul Libro dei Salmi" [74 bài Giảng về Sách Thánh vịnh], Milan, 1993, pp. 409, 412-413).
Cuối buổi triều yết, môt viên chức giáo hoàng đọc bản tóm sau đây bằng tiếng Anh:
Anh chị em thân mến,
Thánh vịnh 114 nhắc nhở chúng ta về giá trị cao cả của sự cầu nguyện. Thánh vịnh nói về một lời kêu xin giúp đỡ dâng lên Chúa trong một hoàn cảnh hết sức nguy hiểm. Người tín hữu bám chặc vào Chúa như nguồn hy vọng duy nhất cứu độ của mình và bày tỏ tình yêu biết ơn của mình đối với sự gìn giữ mà mình được lãnh nhận.
Đức tin chân chính luôn luôn thấy Chúa là tình yêu, mặc dầu thỉnh thoảng chúng ta thấy khó mà hiểu đầy đủ những hành động của Người. Sư cầu nguyện giúp chúng ta tái khám phá gương mặt yêu thương của Chúa. Người không bao giờ từ bỏ dân Người nhưng bảođảm rằng, bất chấp những thử thách và dau khổ, cuối cùng sự lành sẽ thắng.
Đức Thánh Cha chào những người hành hương trong nhiều thứ tiếng. Trong tiếng Anh, ngài nói:
Tôi gởi một lời chào đặc biệt tới các người hành hương nói tiếng Anh hiện diện ở đây hôm nay, kể cả những nhóm đến từ Đan Mạch, Canada và Hoa Kỳ. Trên tất cả anh chị em tôi cầu xin sự bình an và niềm vui của Chúa chúng ta, và tôi chúc anh chị em môt cuộc lưu trú hạnh phúc tại Roma!
VATICAN Bài huấn đức của Đức Gioan Phaolo II đưa ra trong buổi triều yết chung Thứ Tư hàng tuần 26/1 mà ngài dành để giải thích Thánh Vinh 114 (116).
* * *
1. Trong Thánh vịnh 114 (116), vừa được công bố, tiếng nói của tác giả Thánh vịnh diễn tả tình yêu biết ơn của ông đối với Thiên Chúa, sau khi Người đã nghe một lời cầu xin mãnh liệt: "Lòng tôi yêu mến Chúa, vì Chúa đã nghe tiếng tôi khẩn nài. Người lại lắng tai ngày tô kêu cứu." (cc1-2).Liền sau lời công bố tình yêu này, có một sư mô tả sống động về cơn ác mộng ghê gớm bám chặt mạng sống của người đang cầu nguyện (x. cc 3-6).
Vở kịch được miêu tả với những biểu trưng thông thường của các Thánh vịnh. Những cuộn thừng vướn vào mạng sống là những cuộn thừng sư chết, những cạm bẩy làm cho sự sống khổ não là những đau nhói của hỏa ngục, ra sức lôi cuốn kẻ sống về với mình mà không bao giờ đuợc thoả mãn (x. Prov. 30: 15-16).2. Đó là hình ảnh con mồi sa vào bẫycủa thợ săn gay gắt. Sự chết giống như cái kẹp siết chặc (x. Tv 114 [116]:3). Do đó, sau lưng người cầu nguyện là nguy cơ sự chết, đi kèm với môt kinh nghiệm tâm linh đau đớn: "Tôi cảm thấy hấp hối và hãi hùng" (c.3). Nhưng từ vực thẳm bi thảm này ông kêu tới Đấng duy nhất có thể giơ tay và kéo người sầu khổ đang cầu nguyện khỏi tình trạng rối loạn không thể gỡ: "Bây giờ tôi kêu nhân danh Chúa, 'Ôi lạy Chúa,xin cứu gỡ mạng con!" (c.4).
Đó là một lời cầu nguyện vắn tắt nhưng mãnh liệt của người thấy mình ở trong một tình trạng tuyệt vọng, bám chặc vào tấm ván cứu độ. Cũng một cách đó, các môn đệ kêu lên trong Tin Mừng giữa cơn bảo tố (x. Mt. 8:25); cũng một cách đó Thánh Phêrô đã kêu xin khi bước đi trên biển mà ông bắt đầu chìm (x. Mt 14: 30).
3 Một khi được cứu rồi, người cầu nguyện công bố rằng Chúa là "Đấng nhân từ và chính trực," còn hơn thế nữa là "môt dạ thương xót" (Tv 114[116]:5). Tĩnh từ cuối cùng này trong tiếng gốc Do thái, qui chiếu về lòng nhân hậu của môt người mẹ, gợi lên "những chiều sâu" của bà.Sự tin tưởng đích thực luôn luôn thấy Chúa là tình yêu, mặc dầu thỉnh thoảng khó mà hiểu được những hành động của Người. Nhưng, điều chắc chắn là "Chúa hằng gìn giữ những ai bé mọn" (c.6). Do đó, trong cảnh khốn cùng và bị bỏ rơi, người ta luôn luôn có thể trông cậy vào Nguời, "Cha nuôi dưỡng cô nhi, Đấng đỡ bênh quả phụ" (Tv 67[69]:6).
4. Bấy giờ một cuộc đối thoại bắt đầu giữa Tác giả Thánh Vịnh và linh hồn ông, cuộc đối thoại tiếp diễn trong Thánh Vịnh 115 sau đó, và phải được xem như là một với Thánh vịnh mà chúng ta đang suy tư. Đó là điều truyền thống Do thái đã làm, khi nói nguồn gốc của duy nhất Thánh Vịnh 116, theo cách đếm sách Thánh vịnh Dothái. Tác giả Thánh vịnh mời linh hồn mình khôi phục sự bình an thanh thoả sau cơn ác mộng kinh khủng (x. Tv. 114[116]: 7).
Khi được kêu cầu với đức tin, Chúa giơ tay Người, bẻ gãy những cuộn thừng quấn quanh con người cầu nguyện, lau khô những giọt lệ từ mắt ông, và giữ ông khỏi rơi từ nơi cao xuống vực thẳm hoả ngục (x. c.9). Sự thay đổi sáng sủa và bài ca kết thúc với phong cảnh ánh sáng. Người cầu nguyện trở về "đất dành cho kẻ sống," nghĩa là, tới những con đường thế giới, để "bước đi trước mặt Chúa." Ông kết hợp với sự cầu nguyện công đồng trong đền thờ, là sự báo trước về sự hiệp thông với Chúa sẽ chờ đợi ông cuối cuộc đời (x. c.9)
5. Để kết thúc, chúng ta muốn tham gia lại những đoạn quan trọng nhất của Thánh Vịnh, bằng cách để chúng ta theo sự hương dẫn của một văn sĩ lớn của thế kỷ thứ ba, là ông Origen, bài giải thích của ông bằng tiếng Hy lạp về Thánh vịnh 114(116) đã đến với chúng ta trong bản Latinh của thánh Jerome.Khi đọc Chúa " nghiêng tai Người để nghe tôi," ông nhận xét: "Chúng ta nhỏ bé và thấp hèn chúng ta không thể giương mình lên và cất mình lên cao. Vì lẽ này, Chúa nghiêng tai Người và khấn nghe chúng ta. Khi tất cả đã được nói và được làm rồi, vì chúng ta là những con người và chúng ta không thể biến thành thần thánh, nên Chúa trở nên người và nghiêng mình, theo như đã viết: "Chúa nghiêng trời ngự xuống' (Tv 17[18]:10"
Thật vậy thánh vịnh còn tiếp tục, "Chúa hằng gìn giữ những kẻ bé mọn" (Tv 114[116]:6: "Nếu người ta là trọng đại, nếu người ta tán dương mình và kiêu hãnh, Chúa không gìn giữ họ; nếu người ta tưởng mình là trọng đại, Chúa không thương xót họ; nhưng nếu ngưới ta hạ mình xuống, Chúa thương xót họ và gìn giữ họ. Đến mức độ ông nói: 'Này tôi và những đứa con mà Đức Chúa đã ban cho tôi' (Is. 8:18). Và lại :"Khi tôi bị hạ xuống thấp, thì Người cứu tôi.'"
Như vậy người nhỏ bé và nghèo hèn có thể phục hồi sự bình an, sư nghỉ ngơi, như Thánh vịnh nói (x. Tv 114[116]:7 và như chính Origen giải thích: "Khi nói: 'hãy trở về chốn an nghỉ của ngươi,' đó là một dấu trước kia ông đã có chỗ nghỉ ngơi, và rồi sau đó đã mất.. . Chúa tạo dựng chúng ta tốt lành và cho chúng ta làm trọng tài những quyết định chúng ta, và đăt chúng ta tất cả trong vườn địa đàng, cùng với Adam. Nhưng vì, bởi quyết định tự do chúng ta, chúng ta bị xô ra khỏi sự chúc lành này, và bị đày trong thung lũng khóc lóc, người công chính khuyên bảo linh hồn mình trở về nơi nó bị té khỏi.. ' hãy trở về, hỡi linh hồn tôi, nơi nghỉ ngơi của ngươi: bởi vì Chúa đã làm điều lành cho nguươi.' Hỡi linh hồn, nếu ngươi trở về thiên đàng, không phải là ngươi xứng đáng, nhửng bởi công trình lòng thương xót của Chúa. Nếu ngươi bỏ thiên đàng, đó là lỗi tại ngươi; ngược lại, việc ngưởi trở lại là công trình của lòng thương xót Chúa. Chúng ta cũng hãy nói với linh hồn chúng ta: 'hãy trở lại nơi an nghỉ của ngươi' Nơi an nghỉ chúng ta là Chúa kitô, Chúa chúng ta" (Origen-Jertome, "74 Omelie sul Libro dei Salmi" [74 bài Giảng về Sách Thánh vịnh], Milan, 1993, pp. 409, 412-413).
Cuối buổi triều yết, môt viên chức giáo hoàng đọc bản tóm sau đây bằng tiếng Anh:Anh chị em thân mến,
Thánh vịnh 114 nhắc nhở chúng ta về giá trị cao cả của sự cầu nguyện. Thánh vịnh nói về một lời kêu xin giúp đỡ dâng lên Chúa trong một hoàn cảnh hết sức nguy hiểm. Người tín hữu bám chặc vào Chúa như nguồn hy vọng duy nhất cứu độ của mình và bày tỏ tình yêu biết ơn của mình đối với sự gìn giữ mà mình được lãnh nhận.
Đức tin chân chính luôn luôn thấy Chúa là tình yêu, mặc dầu thỉnh thoảng chúng ta thấy khó mà hiểu đầy đủ những hành động của Người. Sư cầu nguyện giúp chúng ta tái khám phá gương mặt yêu thương của Chúa. Người không bao giờ từ bỏ dân Người nhưng bảođảm rằng, bất chấp những thử thách và dau khổ, cuối cùng sự lành sẽ thắng.
Đức Thánh Cha chào những người hành hương trong nhiều thứ tiếng. Trong tiếng Anh, ngài nói:
Tôi gởi một lời chào đặc biệt tới các người hành hương nói tiếng Anh hiện diện ở đây hôm nay, kể cả những nhóm đến từ Đan Mạch, Canada và Hoa Kỳ. Trên tất cả anh chị em tôi cầu xin sự bình an và niềm vui của Chúa chúng ta, và tôi chúc anh chị em môt cuộc lưu trú hạnh phúc tại Roma!