Quyển Cẩm nang (Compendium) giải thích bối cảnh
Roma, 06/11/2004 (Zenit. org) - Giáo huấn Công giáo về xã hội thường đề cập đến tầm quan trọng của con người, hoặc những khái niệm như là công ích, nhưng không đi sâu vào nhiều chi tiết như đối với những gì chúng nhắm đến. Sau khi giải thích những yếu tố làm nền tảng xây dựng học thuyết xã hội của Giáo Hội, Quyển Cẩm nang Học thuyết Xã hội của Giáo Hội vừa mới được công bố, đã dành riêng hai chương bàn về con người và đưa ra một loạt những nguyên tắc.
“Giáo Hội nhìn thấy nơi những người nam và những người nữ, nơi mỗi một con người, hình ảnh sống động của chính Thiên Chúa”, số 105 khẳng định. Đức Kitô, bằng việc nhập thể của Ngài, đã kết hợp chính mình với nhân loại, tiếp nối sự gián đoạn, trao ban cho chúng ta “một phẩm giá khôn sánh và bất khả chuyển nhượng”.
Điều này có liên quan đến xã hội, Quyển Cẩm nang lưu ý, bởi vì nhân vật chính của đời sống xã hội luôn là con người. Thật vậy, toàn bộ giáo huấn xã hội được Giáo hội cống hiến “khai triển từ nguyên tắc khẳng định phẩm giá bất khả xâm phạm của con người” (Số 107).
Sách Sáng Thế nói về con người như là hữu thể được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa. Con người thụ tạo được đặt ở trung tâm và chóp đỉnh của tất cả tạo vật, và nhận lãnh từ Thiên Chúa hơi thở sự sống. Do đó, trong mỗi con người có một mối tương quan nội tại với Thiên Chúa, là điều không bao giờ có thể bị loại bỏ, cho dù có thể bị người ta quên đi hay không nhìn nhận (Số 108-109). Sách Sáng Thế cũng thuật lại cách người nam và người nữ cùng được sáng tạo với nhau như thế nào, do đó chứng minh rằng con người không phải là một tạo vật đơn độc, nhưng có một bản tính xã hội.
Trình thuật Kinh Thánh cũng nói đến tội lỗi đã tác hại bản tính con người như thế nào và trở nên “cội rễ của những chia rẽ cá nhân và xã hội” (Số 116). Tội lỗi, tách lìa khỏi Thiên Chúa, cũng kéo theo việc tách lìa khỏi tha nhân và thế giới chung quanh mình. Cũng có những tội lỗi tạo nên một cuộc tấn cống trực tiếp vào đồng loại, nhất là chúng tác hại đến những vấn đề công bình, quyền được sống, và quyền tự do tin vào Thiên Chúa.
Nhưng cùng với thực tại tội lỗi vẫn luôn hiện diện, chúng ta đừng quên “tính phổ quát của ơn cứu độ trong Đức Giêsu Kitô”, Quyển Cẩm nang nhắc nhở (Số 120). Hơn nữa, ơn cứu chuộc do Đức Kitô mang lại có khả năng làm cho mỗi người thông phần bản tính của Thiên Chúa.
Quyển Cẩm nang cũng cảnh giác trước một vài sai lầm trong những ý niệm về con người. Chúng ta phải tránh những quan niệm giản lược chủ trương những cá nhân hoặc như là có quyền tự quyết tuyệt đối (absolutely autonomous) hoặc như chỉ là một tế bào trong một cơ thể to lớn. Một sai lầm khác đó là bỏ qua tính duy nhất giữa thân xác và linh hồn, lầm lẫn này có thể dẫn đến hoặc là chủ thuyết duy linh (spiritualism) khinh chê thân xác, hoặc chủ thuyết duy vật không nhìn nhận linh hồn (Các số 125-129).
Một xã hội công bằng
Dựa vào những hệ quả của quan niệm của Giáo Hội về con người, Quyển Cẩm nang khẳng định rằng chỉ có thể có một xã hội công bằng “khi nó được đặt nền tảng trên sự kính trọng phẩm giá siêu việt của con người” (Số 132). Bản văn cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của sự tự do. Những nhà cầm quyền phải cẩn thận về những hạn chế mà họ đặt trên sự tự do (Số 133), và nhân phẩm của chúng ta đòi hỏi chúng ta phải hành động “theo khả năng lựa chọn có tự do và ý thức” (Số 135).
Tuy nhiên, sự tự do này không phải là vô hạn, bởi lẽ chỉ mình Thiên Chúa mới có quyền quyết định điều gì là tốt hay xấu. Hơn nữa, sự tự do phải được sử dụng bởi một lương tâm được luật luân lý tự nhiên hướng dẫn (Các số 136-143).
Những hệ quả khác là:
- Phẩm giá bình đẳng của tất cả mọi người, bất luận giữa đàn ông hay đàn bà, hoặc những người thiểu năng (disabilities) (Các số 144-148).
- Bản tính xã hội của mọi người có nghĩa là chúng ta lớn lên và thực hiện ơn gọi của mình trong mối tương quan với những người khác (Các số 149-151).
- Sự hiện hữu các quyền của con người đặt nền trên phẩm giá của con người (Các số 152-155).
“Chính trung tâm”
Sau khi nghiên cứu kỹ lưỡng về con người, Quyển Cẩm nang tiếp tục xem xét những nguyên tắc cơ bản khác “cấu thành chính trung tâm của giáo huấn Công giáo về xã hội” (Số 160). Nguyên tắc cơ bản đầu tiên của chúng là công ích (common good).
Công ích vượt lên trên tổng số đơn thuần những lợi ích của cá nhân trong xã hội. Nó là toàn thể những điều kiện cho phép người ta đạt được sự thành toàn của mình một cách đầy đủ và dễ dàng hơn (Số 164). Những điều kiện này thay đổi tùy theo những điều kiện lịch sử cụ thể, nhưng bao hàm những yếu tố như là dấn thân cho hòa bình, một hệ thống pháp lý lành mạnh và cung cấp những dịch vụ thiết yếu.
Nhà nước phải có trách nhiệm bảo đảm công ích, nhưng các cá nhân cũng có trách nhiệm trong việc giúp cho công ích phát triển, tùy theo khả năng cho phép mỗi người. Nhà nước cũng có trách nhiệm điều hòa những thiện ích đặc thù của các nhóm người và các cá nhân với công ích. Đây là một nhiệm vụ tế nhị, Quyển Cẩm nang lưu ý, và trong thể chế dân chủ, nhà cầm quyền phải cẩn thận giải thích công ích không chỉ theo ý muốn của thành phần đa số, nhưng cũng phải tôn trọng thiện ích của các thành phần thiểu số.
Chia sẻ của cải
Nguyên tắc tiếp theo đó là mục đích chung của của cải (Các số 171-184). Thiên Chúa muốn trái đất và tài nguyên của nó có ích cho tất cả mọi người. Điều này có nghĩa là mỗi người phải được quyền hưởng đồng đều phúc lợi cần thiết cho sự phát triển đầy đủ.
Nguyên tắc này, Quyển Cẩm nang giải thích, phải được thực thi tùy theo bối cảnh văn hóa và xã hội khác nhau, nhưng không có nghĩa rằng mọi sự đều có sẵn cho mọi người sử dụng tùy ý. Quyền sử dụng tài nguyên của trái đất cần phải được thực hiện trong một đường lối công bằng và trật tự, theo một trật tự pháp lý minh bạch. Nhưng nguyên tắc này không loại trừ quyền tư hữu. Tuy nhiên, điều quan trọng đừng quên thực tại này là của cải chỉ là một phương tiện, chứ không phảỉ là cùng đích nơi chính nó.
Điều quan trọng cần ghi nhớ đó là: “Nguyên tắc của cải dành cho mọi người là một lời mời gọi phát triển một quan niệm về kinh tế được cảm hứng bởi những giá trị luân lý giúp cho mọi người không quên nguồn gốc và mục đích của của cải, hầu đạt đến một thế giới công bằng và liên đới, trong đó việc làm giàu của cải có thể nhận lấy một nhiệm vụ tích cực” (Số 174).
Quyển Cẩm nang cũng nhấn mạnh nguyên tắc dành quyền ưu tiên cho người nghèo, được thực thi bởi đức ái Kitô giáo, được cảm hứng từ sự khó nghèo của Đức Giêsu và việc Ngài quan tâm đến người nghèo.
Tổ chức xã hội
Một nguyên tắc khác xây dựng học thuyết xã hội đó là nguyên tắc bổ trợ (subsidiarity). Xã hội dân sự được thành lập bởi nhiều nhóm người, nhà nước không những chỉ nhìn nhận vai trò của họ và tôn trọng quyền tự do hành động của họ, nhưng còn phải giúp đỡ để họ có thể thực hiện chức năng của mình.
Mỗi người, mỗi gia đình và mỗi nhóm người đều có điều độc đáo để cống hiến cho cộng đồng, Quyển Cẩm nang lưu ý (Số 187), và việc từ chối vai trò này sẽ giới hạn, hoặc thậm chí phá hủy, tinh thần tự do và sáng kiến.
Do đó, nguyên tắc bổ trợ chống lại “một vài hình thức tập trung quyền lực, chế độ quan liêu bàn giấy, và sự trợ giúp phúc lợi cũng như sự hiện diện thái quá và không thể biện minh của Nhà nước trong những cơ chế công quyền”.
Một hàm ý của nguyên tắc bổ trợ là một nguyên tắc khác - đó là sự tham gia (participation). Thật là quan trọng khi tất cả mọi người đều cộng tác vào đời sống xã hội, văn hóa và chính trị (Số 189). Sự tham gia, Quyển Cẩm nang khẳng định, là một trong những cột trụ của hệ thống dân chủ.
Một nguyên tắc khác liên quan đến đời sống xã hội đó là sự liên đới (solidarity). Trong thời hiện đại có một ý thức ngày càng mạnh mẽ hơn về sự phụ thuộc lẫn nhau (interdependence) giữa các cá nhân và các dân tộc. Sự liên đới vừa là một nguyên tắc của đời sống xã hội vừa là một nhân đức luân lý (Số 193). Nhờ việc thực thi sự liên đới, mỗi người sẽ dấn thân cho việc thực hiện công ích và phục vụ tha nhân.
Do đó, sự liên đới nói lên ước muốn trao tặng chính mình vì thiện ích của đồng loại. Tuy nhiên, đây không chỉ là một mối quan tâm có tính nhân ái (philanthropic). Đồng loại của chúng ta, Số 196 nói, không chỉ là một ai đó có những quyền lợi “nhưng là hình ảnh sống động của Thiên Chúa Cha, được máu Đức Giêsu Kitô cứu chuộc và hằng được Chúa Thánh Thần tác động”.
Roma, 06/11/2004 (Zenit. org) - Giáo huấn Công giáo về xã hội thường đề cập đến tầm quan trọng của con người, hoặc những khái niệm như là công ích, nhưng không đi sâu vào nhiều chi tiết như đối với những gì chúng nhắm đến. Sau khi giải thích những yếu tố làm nền tảng xây dựng học thuyết xã hội của Giáo Hội, Quyển Cẩm nang Học thuyết Xã hội của Giáo Hội vừa mới được công bố, đã dành riêng hai chương bàn về con người và đưa ra một loạt những nguyên tắc.
“Giáo Hội nhìn thấy nơi những người nam và những người nữ, nơi mỗi một con người, hình ảnh sống động của chính Thiên Chúa”, số 105 khẳng định. Đức Kitô, bằng việc nhập thể của Ngài, đã kết hợp chính mình với nhân loại, tiếp nối sự gián đoạn, trao ban cho chúng ta “một phẩm giá khôn sánh và bất khả chuyển nhượng”.
Điều này có liên quan đến xã hội, Quyển Cẩm nang lưu ý, bởi vì nhân vật chính của đời sống xã hội luôn là con người. Thật vậy, toàn bộ giáo huấn xã hội được Giáo hội cống hiến “khai triển từ nguyên tắc khẳng định phẩm giá bất khả xâm phạm của con người” (Số 107).
Sách Sáng Thế nói về con người như là hữu thể được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa. Con người thụ tạo được đặt ở trung tâm và chóp đỉnh của tất cả tạo vật, và nhận lãnh từ Thiên Chúa hơi thở sự sống. Do đó, trong mỗi con người có một mối tương quan nội tại với Thiên Chúa, là điều không bao giờ có thể bị loại bỏ, cho dù có thể bị người ta quên đi hay không nhìn nhận (Số 108-109). Sách Sáng Thế cũng thuật lại cách người nam và người nữ cùng được sáng tạo với nhau như thế nào, do đó chứng minh rằng con người không phải là một tạo vật đơn độc, nhưng có một bản tính xã hội.
Trình thuật Kinh Thánh cũng nói đến tội lỗi đã tác hại bản tính con người như thế nào và trở nên “cội rễ của những chia rẽ cá nhân và xã hội” (Số 116). Tội lỗi, tách lìa khỏi Thiên Chúa, cũng kéo theo việc tách lìa khỏi tha nhân và thế giới chung quanh mình. Cũng có những tội lỗi tạo nên một cuộc tấn cống trực tiếp vào đồng loại, nhất là chúng tác hại đến những vấn đề công bình, quyền được sống, và quyền tự do tin vào Thiên Chúa.
Nhưng cùng với thực tại tội lỗi vẫn luôn hiện diện, chúng ta đừng quên “tính phổ quát của ơn cứu độ trong Đức Giêsu Kitô”, Quyển Cẩm nang nhắc nhở (Số 120). Hơn nữa, ơn cứu chuộc do Đức Kitô mang lại có khả năng làm cho mỗi người thông phần bản tính của Thiên Chúa.
Quyển Cẩm nang cũng cảnh giác trước một vài sai lầm trong những ý niệm về con người. Chúng ta phải tránh những quan niệm giản lược chủ trương những cá nhân hoặc như là có quyền tự quyết tuyệt đối (absolutely autonomous) hoặc như chỉ là một tế bào trong một cơ thể to lớn. Một sai lầm khác đó là bỏ qua tính duy nhất giữa thân xác và linh hồn, lầm lẫn này có thể dẫn đến hoặc là chủ thuyết duy linh (spiritualism) khinh chê thân xác, hoặc chủ thuyết duy vật không nhìn nhận linh hồn (Các số 125-129).
Một xã hội công bằng
Dựa vào những hệ quả của quan niệm của Giáo Hội về con người, Quyển Cẩm nang khẳng định rằng chỉ có thể có một xã hội công bằng “khi nó được đặt nền tảng trên sự kính trọng phẩm giá siêu việt của con người” (Số 132). Bản văn cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của sự tự do. Những nhà cầm quyền phải cẩn thận về những hạn chế mà họ đặt trên sự tự do (Số 133), và nhân phẩm của chúng ta đòi hỏi chúng ta phải hành động “theo khả năng lựa chọn có tự do và ý thức” (Số 135).
Tuy nhiên, sự tự do này không phải là vô hạn, bởi lẽ chỉ mình Thiên Chúa mới có quyền quyết định điều gì là tốt hay xấu. Hơn nữa, sự tự do phải được sử dụng bởi một lương tâm được luật luân lý tự nhiên hướng dẫn (Các số 136-143).
Những hệ quả khác là:
- Phẩm giá bình đẳng của tất cả mọi người, bất luận giữa đàn ông hay đàn bà, hoặc những người thiểu năng (disabilities) (Các số 144-148).
- Bản tính xã hội của mọi người có nghĩa là chúng ta lớn lên và thực hiện ơn gọi của mình trong mối tương quan với những người khác (Các số 149-151).
- Sự hiện hữu các quyền của con người đặt nền trên phẩm giá của con người (Các số 152-155).
“Chính trung tâm”
Sau khi nghiên cứu kỹ lưỡng về con người, Quyển Cẩm nang tiếp tục xem xét những nguyên tắc cơ bản khác “cấu thành chính trung tâm của giáo huấn Công giáo về xã hội” (Số 160). Nguyên tắc cơ bản đầu tiên của chúng là công ích (common good).
Công ích vượt lên trên tổng số đơn thuần những lợi ích của cá nhân trong xã hội. Nó là toàn thể những điều kiện cho phép người ta đạt được sự thành toàn của mình một cách đầy đủ và dễ dàng hơn (Số 164). Những điều kiện này thay đổi tùy theo những điều kiện lịch sử cụ thể, nhưng bao hàm những yếu tố như là dấn thân cho hòa bình, một hệ thống pháp lý lành mạnh và cung cấp những dịch vụ thiết yếu.
Nhà nước phải có trách nhiệm bảo đảm công ích, nhưng các cá nhân cũng có trách nhiệm trong việc giúp cho công ích phát triển, tùy theo khả năng cho phép mỗi người. Nhà nước cũng có trách nhiệm điều hòa những thiện ích đặc thù của các nhóm người và các cá nhân với công ích. Đây là một nhiệm vụ tế nhị, Quyển Cẩm nang lưu ý, và trong thể chế dân chủ, nhà cầm quyền phải cẩn thận giải thích công ích không chỉ theo ý muốn của thành phần đa số, nhưng cũng phải tôn trọng thiện ích của các thành phần thiểu số.
Chia sẻ của cải
Nguyên tắc tiếp theo đó là mục đích chung của của cải (Các số 171-184). Thiên Chúa muốn trái đất và tài nguyên của nó có ích cho tất cả mọi người. Điều này có nghĩa là mỗi người phải được quyền hưởng đồng đều phúc lợi cần thiết cho sự phát triển đầy đủ.
Nguyên tắc này, Quyển Cẩm nang giải thích, phải được thực thi tùy theo bối cảnh văn hóa và xã hội khác nhau, nhưng không có nghĩa rằng mọi sự đều có sẵn cho mọi người sử dụng tùy ý. Quyền sử dụng tài nguyên của trái đất cần phải được thực hiện trong một đường lối công bằng và trật tự, theo một trật tự pháp lý minh bạch. Nhưng nguyên tắc này không loại trừ quyền tư hữu. Tuy nhiên, điều quan trọng đừng quên thực tại này là của cải chỉ là một phương tiện, chứ không phảỉ là cùng đích nơi chính nó.
Điều quan trọng cần ghi nhớ đó là: “Nguyên tắc của cải dành cho mọi người là một lời mời gọi phát triển một quan niệm về kinh tế được cảm hứng bởi những giá trị luân lý giúp cho mọi người không quên nguồn gốc và mục đích của của cải, hầu đạt đến một thế giới công bằng và liên đới, trong đó việc làm giàu của cải có thể nhận lấy một nhiệm vụ tích cực” (Số 174).
Quyển Cẩm nang cũng nhấn mạnh nguyên tắc dành quyền ưu tiên cho người nghèo, được thực thi bởi đức ái Kitô giáo, được cảm hứng từ sự khó nghèo của Đức Giêsu và việc Ngài quan tâm đến người nghèo.
Tổ chức xã hội
Một nguyên tắc khác xây dựng học thuyết xã hội đó là nguyên tắc bổ trợ (subsidiarity). Xã hội dân sự được thành lập bởi nhiều nhóm người, nhà nước không những chỉ nhìn nhận vai trò của họ và tôn trọng quyền tự do hành động của họ, nhưng còn phải giúp đỡ để họ có thể thực hiện chức năng của mình.
Mỗi người, mỗi gia đình và mỗi nhóm người đều có điều độc đáo để cống hiến cho cộng đồng, Quyển Cẩm nang lưu ý (Số 187), và việc từ chối vai trò này sẽ giới hạn, hoặc thậm chí phá hủy, tinh thần tự do và sáng kiến.
Do đó, nguyên tắc bổ trợ chống lại “một vài hình thức tập trung quyền lực, chế độ quan liêu bàn giấy, và sự trợ giúp phúc lợi cũng như sự hiện diện thái quá và không thể biện minh của Nhà nước trong những cơ chế công quyền”.
Một hàm ý của nguyên tắc bổ trợ là một nguyên tắc khác - đó là sự tham gia (participation). Thật là quan trọng khi tất cả mọi người đều cộng tác vào đời sống xã hội, văn hóa và chính trị (Số 189). Sự tham gia, Quyển Cẩm nang khẳng định, là một trong những cột trụ của hệ thống dân chủ.
Một nguyên tắc khác liên quan đến đời sống xã hội đó là sự liên đới (solidarity). Trong thời hiện đại có một ý thức ngày càng mạnh mẽ hơn về sự phụ thuộc lẫn nhau (interdependence) giữa các cá nhân và các dân tộc. Sự liên đới vừa là một nguyên tắc của đời sống xã hội vừa là một nhân đức luân lý (Số 193). Nhờ việc thực thi sự liên đới, mỗi người sẽ dấn thân cho việc thực hiện công ích và phục vụ tha nhân.
Do đó, sự liên đới nói lên ước muốn trao tặng chính mình vì thiện ích của đồng loại. Tuy nhiên, đây không chỉ là một mối quan tâm có tính nhân ái (philanthropic). Đồng loại của chúng ta, Số 196 nói, không chỉ là một ai đó có những quyền lợi “nhưng là hình ảnh sống động của Thiên Chúa Cha, được máu Đức Giêsu Kitô cứu chuộc và hằng được Chúa Thánh Thần tác động”.