Hôn lễ của Đức Vua
VATICAN (Zenit.org)- Bài huấn đức của Đức Gioan Phaolô II trong buổi triều yết chung Thứ Tư hàng tuần 29/9 mà ngài dành để suy niệm về phần môt Thánh Vịnh 44(45).
* * *
1. “Miệng ngâm thơ mừng chúc thánh quân” :Những lời này, mở đầu Thánh Vinh 44(45), cho người đọc một ý niệm về đặc tính cơ bản của thánh thi này.
Viên thư ký trong đền vua, người sáng tác thánh thi tiết lộ ngay cho chúng ta đó là một bài thơ dâng kính đức vua Do thái. Hơn nữa khi đọc qua những vần thơ bài sáng tác này, rõ ràng đó là một epithalamium, nghĩa là một bài ca hôn lễ.
Các học giả đã cố gắng nhận diện những y phục lịch sử phụ nữ trong Thánh vịnh, bằng cách dựa trên một số manh mối --như sự liên kết Hoàng hậu với thành Tyre người Phoenician (x. c.13) -- nhưng không có khả năng nhận diện vợ chồng nhà vua cách chính xác. Sự thích đáng là việc qui chiếu tới một ông Vua Do Thái, vì điều này đã cho phép truyền thống Do thái biến văn bản thành một bài ca mừng Vua CứuThế, và truyền thống Kitô hữu đọc lại Thánh Vịnh trong một phong cách Kitô hoc và, do sự hiện diện của Hoàng Hậu, nên cũng là viễn ảnh trong Thánh Mẫu học.
2. Phụng vụ Kinh Chiều đưa bài Thánh Vịnh này như một kinh, và chia làm hai phần, chúng ta vừa nghe phần đầu (x. cc.2-10), phần này, sau phần dẫn nhập của thư ký tác giả bản văn đã nêu trên ( x.c,2), trình diễn một chân dung lộng lẩy của đức vua sắp cử hành hôn lễ.
Vì lẽ đó, Do thái giáo đã thấy trong Thánh Vịnh 44(45) một bài ca hôn lễ, tán dương vẻ đẹp và hùng mạnh của ân huệ tình yêu giữa vợ chồng. Cách riêng, người nữ có thể lập lại với Bài Ca trong các bài Ca; “Người tôi yêu thuộc trọn về tôi và tôi thuộc trọn về chàng” (2:16). “Tôi thuộc trọn về người tôi yêu, người tôi yêu thuộc về tôi trọn vẹn” (6:3).
3. Gương của chàng rễ vương giả được vẻ môt cách rất long trọng, bằng cách quay sang một cảnh dền vua. Chàng mang những huy hiệu quân sự (Tv, 44[45]:4-6), những uy hiệu kèm thêm những áo mặc thom tho lộng lẩy, đang khi trong hậu trường những lâu đài sáng chói, được bọc ngà với những phòng rộng lớn có âm nhạc vang dội (x. cc 9-10). Ngai vàng mọc lên ỡ giữa, và vương trượng đươc nhắc tới, hai dấu chỉ quyền hành và lễ phong vương (x. cc,7-8).
Tới đây, chúng tôi muốn nhấn mạnh hai yếu tố. Trước hết, vẻ đẹp chàng rễ, dấu chỉ một sự huy hoàng nội tại và sự chúc lành của Thiên Chúa: “Giữa thế nhân, ngài vô song tuyệt mỹ” (c.3).
Chính trên cơ sở của câu này, truyền thống Kitô hữu diễn tả Chúa Kitô trong hình thù một người nam hoàn hảo và quyến rũ. Trong một thê giới thường bị đánh dấu bởi sự xấu xa và thoái hóa, hình ảnh này là một lời mời tái khám phá “via pulchritudinis-con đường vẻ đẹp” trong đức tin, trong thần học và trong đời sống xã hội hầu vươn tới vẻ đẹp của Thiên Chúa.
4. Dầu sao, vẻ đẹp không phải là một chủ đích tư nó. Đặc điểm thứ hai chúng tôi muốn đề nghị, qui chiếu chính xác về sự gặp gở giữa vẻ đẹp và công lý. Trên thực tế, nhà vua “cỡi ngựa “trong tư cách kẻ chiến thắng. Bênh sựthật và công lý “ [c.4 và 5]; ngài “ưa điều chính trực và ghét điều gian ác” (c.8) và vương trượng ngài “vương trượng công minh” [c.7). Vẻ đẹp phải pha lẫn với lòng nhân hậu và sự thánh thiện cuộc sống ngõ hầu gương măt sáng của Thiên Chúa tốt lành, đáng khâm phục và công minh sẽ sáng chói trong thế giới.
Theo các học giả, trong câu 7 tên “Thiên Chúa” cũng được nói với chính Đức Vua bởi vì ngài được Chúa hiến thánh và, do đó, bắng cách nào đó thuộc vào nước Chúa: “Ngai báu Thiên Chua ban tặng cho ngài, sẽ trường tồn vạn kỷ.”
Nhưng đó có thể là một lời kêu cầu dâng lên Đức Vua cao cả mà thôi, tức là Đức Chúa, Đấng nghiêng mình trên Vua-Messiah. Môt sự kiện là, khi áp dụng Thánh vịnh này cho Chúa kitô, Thư Do thái không do dự gán đầy đủ thần tính --chớ không phải biểu trưng mà thôi-- cho Người Con đã đi vào vinh quang của Người (x. Dt 1: 8-9).
5. Tương tự với sự giải thích Kitô học này, chúng tôi kết thúc bằng cách qui chiếu tới tiếng nói của các Giáo phụ, các ngài gán cho mỗi câu các giá trị thiêng liêng. Như vậy, khi giải thích về câu Thánh vịnh nói “Thiên Chúa ban phúc lành mãi mãi” cho Vua-Messiah (x. Tv, 44[45]:3), Thánh Gioan Kim Khẩu thực hiện sự áp dụng Kitô học này: “Adam thứ nhất tràn ngập sự chúc dữ to lớn, Adam thứ hai ngược lại được chúc lành vĩnh viễn.
Adam trước đã nghe: ‘Ngươi bị nguyền rủa trong công việc của ngươi’ St.3:17), và lại :’Khốn cho ai lơ là với công việc của Đức Chúa’ (Jeremiah 48-10), và ‘Đáng nguyển rủa thay kẻ không giữ trọn những lời của Luật này mà đem ra thực hành’ (ĐNL.27:26) và ‘một người bị treo là đồ bị Thiên Chúa nguyền rủa’ ĐNL 21:23). Anh có thấy biết bao lời nguyền rủa? Chúa Kitô đã cứu chuộc anh khỏi tất cả những nguyền rủa này bằng cách tự làm sự nguyền rủa (x. gal 3:13); bằng cách hạ mình xuống để nâng anh lên và chết để cho anh được bất tử, Người đã trở thành môt sự nfguyền rủa để cho anh được tràn đầy phúc lành. Có gì bằng sự chúc lành này, nhờ một sự nguyền rủa mà ban cho anh môt sư chúc lành? Người không cần sự chúc lành, nhưng hiến nó cho anh” (“Expositio in Psalmum” [trình bày về các thánh vịnh], XLIV,4: PG,55,188-189).
Cuối buổi triều yết, một trong các viên chức Đức Giáo hoàng đọc bản tóm bằng tiếng Anh:
Anh chị em thân mến,
Tác giả Thánh vịnh diễn tả một hôn lễ huy hoàng tại cung đền Vua. Qua truyền thống, Thánh vịnh được giải thích liên quan với Vua-Cưu Thế, và, dĩ nhiên, với chính Chúa kitô. Sự chú ý chúng ta bị thu hút tới vẻ đẹp của chàng rễ vương giả: “Giữa thế nhân, ngài vô song tuyệt mỹ.”
Việc chúng ta chiêm ngắm gương mặt đẹp của Chúa Kitô sẽ giúp chúng ta từ bỏ sự xấu xa tôi lỗi và khởi sự đi lên tới sự trọn lành thần linh. Nhưng Đức Vua cũng là người công minh. “Ngài ưa điều chính trực, ghét điều gian ác.” Khi vẻ đẹp được phối hợp với lòng nhân hậu và sự thánh thiện đời sống, thì sự tỏa sáng từ trời chiếu sáng trên thế giới, và chúng ta nhìn thấy lòng nhân hậu, sự kỳ diệu, và sự công minh của Thiên Chúa.
Sau đó Đức Thánh Cha chào những người hành hương trong nhiều thứ tiếng. Trong tiếng Anh, ngài nói:
Tôi gởi đếnmôt lời chào nồng nhiệt tới những người hành hương nói tiếng Anh ở đây hôm nay, gồm những nhóm từ Anh Quốc và Ireland, Scandinavia, và Hoa Kỳ châu Mỹ. Tôi chào cách riêng tới cácg tân sinh viên của Đại HọcVenerable English. Trên tất cả anh chị em tôi cầu xin ân sủng và hoà bình của Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta.
VATICAN (Zenit.org)- Bài huấn đức của Đức Gioan Phaolô II trong buổi triều yết chung Thứ Tư hàng tuần 29/9 mà ngài dành để suy niệm về phần môt Thánh Vịnh 44(45).
* * *
1. “Miệng ngâm thơ mừng chúc thánh quân” :Những lời này, mở đầu Thánh Vinh 44(45), cho người đọc một ý niệm về đặc tính cơ bản của thánh thi này.
Viên thư ký trong đền vua, người sáng tác thánh thi tiết lộ ngay cho chúng ta đó là một bài thơ dâng kính đức vua Do thái. Hơn nữa khi đọc qua những vần thơ bài sáng tác này, rõ ràng đó là một epithalamium, nghĩa là một bài ca hôn lễ.
Các học giả đã cố gắng nhận diện những y phục lịch sử phụ nữ trong Thánh vịnh, bằng cách dựa trên một số manh mối --như sự liên kết Hoàng hậu với thành Tyre người Phoenician (x. c.13) -- nhưng không có khả năng nhận diện vợ chồng nhà vua cách chính xác. Sự thích đáng là việc qui chiếu tới một ông Vua Do Thái, vì điều này đã cho phép truyền thống Do thái biến văn bản thành một bài ca mừng Vua CứuThế, và truyền thống Kitô hữu đọc lại Thánh Vịnh trong một phong cách Kitô hoc và, do sự hiện diện của Hoàng Hậu, nên cũng là viễn ảnh trong Thánh Mẫu học.
2. Phụng vụ Kinh Chiều đưa bài Thánh Vịnh này như một kinh, và chia làm hai phần, chúng ta vừa nghe phần đầu (x. cc.2-10), phần này, sau phần dẫn nhập của thư ký tác giả bản văn đã nêu trên ( x.c,2), trình diễn một chân dung lộng lẩy của đức vua sắp cử hành hôn lễ.
Vì lẽ đó, Do thái giáo đã thấy trong Thánh Vịnh 44(45) một bài ca hôn lễ, tán dương vẻ đẹp và hùng mạnh của ân huệ tình yêu giữa vợ chồng. Cách riêng, người nữ có thể lập lại với Bài Ca trong các bài Ca; “Người tôi yêu thuộc trọn về tôi và tôi thuộc trọn về chàng” (2:16). “Tôi thuộc trọn về người tôi yêu, người tôi yêu thuộc về tôi trọn vẹn” (6:3).
3. Gương của chàng rễ vương giả được vẻ môt cách rất long trọng, bằng cách quay sang một cảnh dền vua. Chàng mang những huy hiệu quân sự (Tv, 44[45]:4-6), những uy hiệu kèm thêm những áo mặc thom tho lộng lẩy, đang khi trong hậu trường những lâu đài sáng chói, được bọc ngà với những phòng rộng lớn có âm nhạc vang dội (x. cc 9-10). Ngai vàng mọc lên ỡ giữa, và vương trượng đươc nhắc tới, hai dấu chỉ quyền hành và lễ phong vương (x. cc,7-8).
Tới đây, chúng tôi muốn nhấn mạnh hai yếu tố. Trước hết, vẻ đẹp chàng rễ, dấu chỉ một sự huy hoàng nội tại và sự chúc lành của Thiên Chúa: “Giữa thế nhân, ngài vô song tuyệt mỹ” (c.3).
Chính trên cơ sở của câu này, truyền thống Kitô hữu diễn tả Chúa Kitô trong hình thù một người nam hoàn hảo và quyến rũ. Trong một thê giới thường bị đánh dấu bởi sự xấu xa và thoái hóa, hình ảnh này là một lời mời tái khám phá “via pulchritudinis-con đường vẻ đẹp” trong đức tin, trong thần học và trong đời sống xã hội hầu vươn tới vẻ đẹp của Thiên Chúa.
4. Dầu sao, vẻ đẹp không phải là một chủ đích tư nó. Đặc điểm thứ hai chúng tôi muốn đề nghị, qui chiếu chính xác về sự gặp gở giữa vẻ đẹp và công lý. Trên thực tế, nhà vua “cỡi ngựa “trong tư cách kẻ chiến thắng. Bênh sựthật và công lý “ [c.4 và 5]; ngài “ưa điều chính trực và ghét điều gian ác” (c.8) và vương trượng ngài “vương trượng công minh” [c.7). Vẻ đẹp phải pha lẫn với lòng nhân hậu và sự thánh thiện cuộc sống ngõ hầu gương măt sáng của Thiên Chúa tốt lành, đáng khâm phục và công minh sẽ sáng chói trong thế giới.
Theo các học giả, trong câu 7 tên “Thiên Chúa” cũng được nói với chính Đức Vua bởi vì ngài được Chúa hiến thánh và, do đó, bắng cách nào đó thuộc vào nước Chúa: “Ngai báu Thiên Chua ban tặng cho ngài, sẽ trường tồn vạn kỷ.”
Nhưng đó có thể là một lời kêu cầu dâng lên Đức Vua cao cả mà thôi, tức là Đức Chúa, Đấng nghiêng mình trên Vua-Messiah. Môt sự kiện là, khi áp dụng Thánh vịnh này cho Chúa kitô, Thư Do thái không do dự gán đầy đủ thần tính --chớ không phải biểu trưng mà thôi-- cho Người Con đã đi vào vinh quang của Người (x. Dt 1: 8-9).
5. Tương tự với sự giải thích Kitô học này, chúng tôi kết thúc bằng cách qui chiếu tới tiếng nói của các Giáo phụ, các ngài gán cho mỗi câu các giá trị thiêng liêng. Như vậy, khi giải thích về câu Thánh vịnh nói “Thiên Chúa ban phúc lành mãi mãi” cho Vua-Messiah (x. Tv, 44[45]:3), Thánh Gioan Kim Khẩu thực hiện sự áp dụng Kitô học này: “Adam thứ nhất tràn ngập sự chúc dữ to lớn, Adam thứ hai ngược lại được chúc lành vĩnh viễn.
Adam trước đã nghe: ‘Ngươi bị nguyền rủa trong công việc của ngươi’ St.3:17), và lại :’Khốn cho ai lơ là với công việc của Đức Chúa’ (Jeremiah 48-10), và ‘Đáng nguyển rủa thay kẻ không giữ trọn những lời của Luật này mà đem ra thực hành’ (ĐNL.27:26) và ‘một người bị treo là đồ bị Thiên Chúa nguyền rủa’ ĐNL 21:23). Anh có thấy biết bao lời nguyền rủa? Chúa Kitô đã cứu chuộc anh khỏi tất cả những nguyền rủa này bằng cách tự làm sự nguyền rủa (x. gal 3:13); bằng cách hạ mình xuống để nâng anh lên và chết để cho anh được bất tử, Người đã trở thành môt sự nfguyền rủa để cho anh được tràn đầy phúc lành. Có gì bằng sự chúc lành này, nhờ một sự nguyền rủa mà ban cho anh môt sư chúc lành? Người không cần sự chúc lành, nhưng hiến nó cho anh” (“Expositio in Psalmum” [trình bày về các thánh vịnh], XLIV,4: PG,55,188-189).
Cuối buổi triều yết, một trong các viên chức Đức Giáo hoàng đọc bản tóm bằng tiếng Anh:
Anh chị em thân mến,
Tác giả Thánh vịnh diễn tả một hôn lễ huy hoàng tại cung đền Vua. Qua truyền thống, Thánh vịnh được giải thích liên quan với Vua-Cưu Thế, và, dĩ nhiên, với chính Chúa kitô. Sự chú ý chúng ta bị thu hút tới vẻ đẹp của chàng rễ vương giả: “Giữa thế nhân, ngài vô song tuyệt mỹ.”
Việc chúng ta chiêm ngắm gương mặt đẹp của Chúa Kitô sẽ giúp chúng ta từ bỏ sự xấu xa tôi lỗi và khởi sự đi lên tới sự trọn lành thần linh. Nhưng Đức Vua cũng là người công minh. “Ngài ưa điều chính trực, ghét điều gian ác.” Khi vẻ đẹp được phối hợp với lòng nhân hậu và sự thánh thiện đời sống, thì sự tỏa sáng từ trời chiếu sáng trên thế giới, và chúng ta nhìn thấy lòng nhân hậu, sự kỳ diệu, và sự công minh của Thiên Chúa.
Sau đó Đức Thánh Cha chào những người hành hương trong nhiều thứ tiếng. Trong tiếng Anh, ngài nói:
Tôi gởi đếnmôt lời chào nồng nhiệt tới những người hành hương nói tiếng Anh ở đây hôm nay, gồm những nhóm từ Anh Quốc và Ireland, Scandinavia, và Hoa Kỳ châu Mỹ. Tôi chào cách riêng tới cácg tân sinh viên của Đại HọcVenerable English. Trên tất cả anh chị em tôi cầu xin ân sủng và hoà bình của Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta.