(Rôma 10/9/2004). Sau biến cố 11/09/2001, tại Hoa Kỳ cũng như nhiều nơi trên thế giới, người ta đã chứng kiến cảnh nhiều người đến nhà thờ cầu nguyện thường xuyên hơn. Tuy nhiên, cảm giác bàng hoàng và hoang mang đó chóng qua đi. Con người lại dễ tìm đến những ngẫu tượng và đặt niềm tin nơi những thứ chóng qua của cuộc đời. Những nghiên cứu gần đây cho thấy sau biến cố 11/09/2001, tình cảm tôn giáo không tăng lên mà lại có khuynh hướng giảm đi vì các động lực tôn giáo đã được dùng như một thứ “vỏ bọc chủ thuyết” cho tệ nạn khủng bố. Nhiều Fatwa cổ vũ khủng bố và coi những kẻ tấn công tự sát như các thánh tử đạo đang thực sự là những dấu chỉ phản chứng của niềm tin tôn giáo trong một thế giới mà trào lưu tục hóa ngày một mạnh mẽ. Một cách khách quan, chính một số các chức sắc tôn giáo đã “đeo mặt nạ” cho chủ nghĩa khủng bố.
Đức Hồng Y Walter Kasper, chủ tịch Hội Đồng Tòa Thánh Cổ Vũ Đại Kết Kitô Giáo đã nhận xét như trên trong cuộc họp với các nhân vật tôn giáo và văn hóa từ khắp nơi trên thế giới do cộng đoàn Sant'Egidio tổ chức tại Rôma. Trong bối cảnh của cuộc gặp gỡ “Con Người Và Tôn Giáo” được tổ chức vào đầu tuần này, Đức Hồng Y đã diễn thuyết về đề tài: “Giải giới khủng bố: Một nhiệm vụ của các tín hữu”.
Đức Hồng Y nhận xét rằng: “Nạn khủng bố ngày nay là một tai ương của nhân loại và là một thách đố mới đặt ra cho toàn bộ nền văn minh”. Đặc biệt, đó là một thách đố nghiêm trọng đối với ba tôn giáo độc thần trên thế giới là Kitô Giáo, Do Thái Giáo và Hồi Giáo, là những tôn giáo đang được nhiều người nhìn với con mắt khó chịu, coi đó là “những duyên cớ bất khoan dung, dễ gây ra bạo động vì đức tin mạnh mẽ độc nhất nơi một Thiên Chúa duy nhất”.
Hơn thế nữa, trong bối cảnh của trào lưu khủng bố hiện nay, “các động lực xã hội, kinh tế và chính trị lại được quyện với các động lực tôn giáo” và “tôn giáo thường được dùng như một thứ vỏ bọc chủ thuyết, và như thế, được dùng như một công cụ”.
Đức Hồng Y mạnh mẽ đặt câu hỏi rằng trong tình hình này: “Các tôn giáo có mạnh mẽ chống lại trào lưu biến mình thành công cụ như thế một cách rõ ràng chưa?”
”Ba tôn giáo đã được đề cập có thể trưng dẫn những đoạn chủ yếu trong kinh thánh của họ trong đó cấm tuyệt đối bất cứ hình thức bạo động nào, đặc biệt là khủng bố”. Cả ba tôn giáo cũng có “Luật Vàng” - “Đừng làm cho kẻ khác điều mình không muốn họ gây ra cho mình”. Các tôn giáo này cũng cấm tự tử, và “như thế loại bỏ đặc biệt chuyện tấn công tự sát”.
”Do đó, theo những nguyên tắc của kinh Koran, bất cứ ai phạm tội tấn công tự sát như thế không thể được vinh danh như một thánh tử đạo, nhưng phải bị lên án như một kẻ sát nhân và là một tên tội phạm”.
Cũng thế, theo truyền thống Do Thái Giáo và Kitô Giáo, “con người đã được tạo nên giống hình ảnh của Thiên Chúa”, do đó, “chủ nghĩa khủng bố, một thứ phủ nhận phẩm giá con người, thì đồng thời cũng là một điều phạm đến Thiên Chúa”.
”Việc nại đến danh Thiên Chúa như là cớ biện minh cho khủng bố là một lạm dụng nghiêm trọng và là một điều phạm thánh nặng nề. Chính vì thế, thật là tích cực khi trong Ngày Cầu Nguyện cho Hòa Bình Thế Giới tại Assisi các tôn giáo đã đồng thuận với tuyên bố này”.
Tuy nhiên, “chúng ta không thể bảo vệ phẩm giá con người chỉ với những lời nói xuông; chúng ta phải bảo vệ họ với những hành động cụ thể. Các tôn giáo phải thức tỉnh và trưng dụng các tài nguyên tinh thần của họ nhằm chống lại bạo lực khủng bố”. Đức Hồng Y tuyên bố không úp mở: “Đây là điều mà nói thẳng thắn ra nhiều người đang trông đợi nơi Hồi Giáo”.
Xa hơn nữa, “các tôn giáo phải lột mặt nạ tôn giáo của những kẻ khủng bố để trơ bộ mặt thật của chúng ra và cho thấy thực ra chúng là những thứ gì, chẳng hạn, những kẻ thanh trừng (nihilists) là những kẻ chối bỏ các giá trị và lý tưởng của nhân loại”. [nihilists là những người theo một trào lưu chính trị vào cuối thế kỷ 19 tại Nga. Trào lưu này muốn đem đến một xã hội mới bằng cách hủy diệt những gì đang hiện hữu qua các hành động khủng bố và ám sát - chú thích của người dịch].
”Tính chất thanh trừng sâu sắc của nạn khủng bố chỉ có thể vượt qua được bằng cách khẳng định thái độ căn bản của tất cả các tôn giáo đó là thái độ trân trọng sâu xa”. Nghĩa là “một thái độ tự kiểm thảo chính mình và rao giảng - không phải là thù hận, nhưng là lòng khoan dung và trân trọng trước các niềm tin của kẻ khác; cũng như việc tiếp theo là lên án tất cả các hình thức bạo lực”.
Đức Hồng Y cũng nhận định rằng trong cuộc chiến chống khủng bố, người ta “không thể dùng đến những gì thuộc chủ nghĩa khủng bố đã bị lên án và đang bị chống lại”. Cụ thể “Nhân quyền không thể bị triệt tiêu và các phương tiện tra tấn không thể được dùng đến. Một cuộc chiến ngăn ngừa cũng không thể được tiến hành nếu trái ngược với các nguyên tắc của chiến tranh chính đáng“.
Đức Hồng Y nhấn mạnh rằng mọi nỗ lực cần vận dụng “để thay đổi những điều kiện thích hợp cho việc lan tràn chủ nghĩa khủng bố và khiến cho người ta thấy khủng bố là điều hợp lý, chẳng hạn như các bất công xã hội, kinh tế và chính trị”
Ngài kết luận: “Các xung đột giữa các nền văn minh chỉ có thể tránh được qua con đường đối thoại về văn hóa và tôn giáo mà đặt lên hàng đầu sự tôn trọng di sản chung của mọi tôn giáo - trong đó không hề có chuyện hòa đồng coi mọi thứ như nhau hay từ bỏ căn cước của chính mình”.
Trong số các diễn giả, cũng có ông Ahmad Al Tayyib, khoa trưởng một phân khoa của đại học Al-Azhar, Ai Cập và ông David Rosen, thầy cả Do Thái thuộc ủy ban Người Mỹ Do Thái Giáo.
Đức Hồng Y Walter Kasper, chủ tịch Hội Đồng Tòa Thánh Cổ Vũ Đại Kết Kitô Giáo đã nhận xét như trên trong cuộc họp với các nhân vật tôn giáo và văn hóa từ khắp nơi trên thế giới do cộng đoàn Sant'Egidio tổ chức tại Rôma. Trong bối cảnh của cuộc gặp gỡ “Con Người Và Tôn Giáo” được tổ chức vào đầu tuần này, Đức Hồng Y đã diễn thuyết về đề tài: “Giải giới khủng bố: Một nhiệm vụ của các tín hữu”.
Đức Hồng Y nhận xét rằng: “Nạn khủng bố ngày nay là một tai ương của nhân loại và là một thách đố mới đặt ra cho toàn bộ nền văn minh”. Đặc biệt, đó là một thách đố nghiêm trọng đối với ba tôn giáo độc thần trên thế giới là Kitô Giáo, Do Thái Giáo và Hồi Giáo, là những tôn giáo đang được nhiều người nhìn với con mắt khó chịu, coi đó là “những duyên cớ bất khoan dung, dễ gây ra bạo động vì đức tin mạnh mẽ độc nhất nơi một Thiên Chúa duy nhất”. Hơn thế nữa, trong bối cảnh của trào lưu khủng bố hiện nay, “các động lực xã hội, kinh tế và chính trị lại được quyện với các động lực tôn giáo” và “tôn giáo thường được dùng như một thứ vỏ bọc chủ thuyết, và như thế, được dùng như một công cụ”.
Đức Hồng Y mạnh mẽ đặt câu hỏi rằng trong tình hình này: “Các tôn giáo có mạnh mẽ chống lại trào lưu biến mình thành công cụ như thế một cách rõ ràng chưa?”
”Ba tôn giáo đã được đề cập có thể trưng dẫn những đoạn chủ yếu trong kinh thánh của họ trong đó cấm tuyệt đối bất cứ hình thức bạo động nào, đặc biệt là khủng bố”. Cả ba tôn giáo cũng có “Luật Vàng” - “Đừng làm cho kẻ khác điều mình không muốn họ gây ra cho mình”. Các tôn giáo này cũng cấm tự tử, và “như thế loại bỏ đặc biệt chuyện tấn công tự sát”.
”Do đó, theo những nguyên tắc của kinh Koran, bất cứ ai phạm tội tấn công tự sát như thế không thể được vinh danh như một thánh tử đạo, nhưng phải bị lên án như một kẻ sát nhân và là một tên tội phạm”.
Cũng thế, theo truyền thống Do Thái Giáo và Kitô Giáo, “con người đã được tạo nên giống hình ảnh của Thiên Chúa”, do đó, “chủ nghĩa khủng bố, một thứ phủ nhận phẩm giá con người, thì đồng thời cũng là một điều phạm đến Thiên Chúa”.
”Việc nại đến danh Thiên Chúa như là cớ biện minh cho khủng bố là một lạm dụng nghiêm trọng và là một điều phạm thánh nặng nề. Chính vì thế, thật là tích cực khi trong Ngày Cầu Nguyện cho Hòa Bình Thế Giới tại Assisi các tôn giáo đã đồng thuận với tuyên bố này”.
Tuy nhiên, “chúng ta không thể bảo vệ phẩm giá con người chỉ với những lời nói xuông; chúng ta phải bảo vệ họ với những hành động cụ thể. Các tôn giáo phải thức tỉnh và trưng dụng các tài nguyên tinh thần của họ nhằm chống lại bạo lực khủng bố”. Đức Hồng Y tuyên bố không úp mở: “Đây là điều mà nói thẳng thắn ra nhiều người đang trông đợi nơi Hồi Giáo”.
Xa hơn nữa, “các tôn giáo phải lột mặt nạ tôn giáo của những kẻ khủng bố để trơ bộ mặt thật của chúng ra và cho thấy thực ra chúng là những thứ gì, chẳng hạn, những kẻ thanh trừng (nihilists) là những kẻ chối bỏ các giá trị và lý tưởng của nhân loại”. [nihilists là những người theo một trào lưu chính trị vào cuối thế kỷ 19 tại Nga. Trào lưu này muốn đem đến một xã hội mới bằng cách hủy diệt những gì đang hiện hữu qua các hành động khủng bố và ám sát - chú thích của người dịch].”Tính chất thanh trừng sâu sắc của nạn khủng bố chỉ có thể vượt qua được bằng cách khẳng định thái độ căn bản của tất cả các tôn giáo đó là thái độ trân trọng sâu xa”. Nghĩa là “một thái độ tự kiểm thảo chính mình và rao giảng - không phải là thù hận, nhưng là lòng khoan dung và trân trọng trước các niềm tin của kẻ khác; cũng như việc tiếp theo là lên án tất cả các hình thức bạo lực”.
Đức Hồng Y cũng nhận định rằng trong cuộc chiến chống khủng bố, người ta “không thể dùng đến những gì thuộc chủ nghĩa khủng bố đã bị lên án và đang bị chống lại”. Cụ thể “Nhân quyền không thể bị triệt tiêu và các phương tiện tra tấn không thể được dùng đến. Một cuộc chiến ngăn ngừa cũng không thể được tiến hành nếu trái ngược với các nguyên tắc của chiến tranh chính đáng“.
Đức Hồng Y nhấn mạnh rằng mọi nỗ lực cần vận dụng “để thay đổi những điều kiện thích hợp cho việc lan tràn chủ nghĩa khủng bố và khiến cho người ta thấy khủng bố là điều hợp lý, chẳng hạn như các bất công xã hội, kinh tế và chính trị”
Ngài kết luận: “Các xung đột giữa các nền văn minh chỉ có thể tránh được qua con đường đối thoại về văn hóa và tôn giáo mà đặt lên hàng đầu sự tôn trọng di sản chung của mọi tôn giáo - trong đó không hề có chuyện hòa đồng coi mọi thứ như nhau hay từ bỏ căn cước của chính mình”.
Trong số các diễn giả, cũng có ông Ahmad Al Tayyib, khoa trưởng một phân khoa của đại học Al-Azhar, Ai Cập và ông David Rosen, thầy cả Do Thái thuộc ủy ban Người Mỹ Do Thái Giáo.