NHỮNG SUY TƯ VỀ NĂM TRUYỀN GIÁO CỦA ÐỨC HỒNG Y JEAN MARIE LUSTIGER

Vào năm thánh 2000, đức hồng y Schonborn, tổng giám mục Vienne, đức hồng y Policarpo, tổng giám mục Lisbonne, đức hồng y Daneels, tổng giám mục Bruxelles và tôi (Jean Marie Lustiger) có dịp trao đổi với nhau về việc loan báo Tin Mừng tại Âu Châu. Công trình ‘Phúc Âm hóa mới’ mà Đức Thánh Cha cổ động khích lệ chúng tôi mở ra những con đường mới cho các thủ đô lịch sử mà dân số mỗi ngày một gia tăng... Năm ngoái, 2003 tổng giáo phận Vienne đã khai mạc, năm nay 2004 là Paris, năm 2005 tới là Lisbonne và năm 2006 sẽ là Bruxelles... Bốn thành phố này là những trung tâm điểm nổi bật về hiện tượng đô thị hóa mới, với nhiều điểm độc đáo trong thế kỷ vừa qua. Nhìn vào những nước Kitô giáo kỳ cựu, những thành phố đã mấy ngàn năm lịch sử cũng lại là những thành phố mới, những thế giới tân tiến... chúng tôi ý thức đến một nhu cầu khẩn trương : phát động phong trào Phúc âm hóa mới cho chính các thành phố lớn và kỳ cựu này !

Tôi càng ý thức về nhu cầu ấy hơn cho Paris, vì xét theo lịch sử, Paris giữ một vai trò rất đặc biệt, đã ghi ấn nhiều biến cố gần đây mà nổi bật nhất là JMJ năm 1997. Không riêng gì chúng ta, mà các kitô hữu Âu Châu đều thấy rõ : Paris mang một trách nhiệm đặc biệt về việc truyền giáo mới cho thế giới thị thành mới ngày nay....

Đó là những lý do thúc đẩy tôi, để mở đầu năm Truyền Giáo Paris, gởi đến quý anh chị em những suy tư sau đây.

I. KITÔ GIÁO TẠI PHÁP

1. Gia sản công giáo và sự xuất hiện của một thế giới mới.

1.1 Trước đệ nhị chiến thế giới

Dân Pháp được đào tạo bởi đạo công giáo có cơ cấu vững chắc ăn rễ sâu trong giới nông nghiệp với con số 80% dân chúng. Đó là thời mà ngay từ khi sinh ra, người ta đã là công giáo hay vô thần, đó là thời chiến tranh giữa hai nước Pháp. 90% giáo sĩ xuất thân từ giới nông dân và được huấn luyện ngay từ nhỏ trong các tiểu chủng viện. Bấy giờ người ta ước lượng cứ một linh mục lo cho 1000 người dân, tại các vùng Aveyron, Bretagne, Vendée lại chỉ cho 300 dân cư.

Tuy nhiên, ngay từ bấy giờ dân công giáo đã không cư ngụ đồng đều trong mỗi miền. Vì thế người ta đã sớm phân chia nước Pháp thành những ‘miền truyền giáo’ và những ‘miền kitô giáo’. Vùng Paris được kể vào số những ‘miền truyền giáo’.

Nước Pháp công giáo này đã trải qua bao nhiêu biến chuyển, bao nhiêu thử thách, nhất là từ thế kỷ XIX, với các thuyết duy thực, duy lý, duy tân và ý thức hệ chính trị... Giữa môi trường sống đầy mâu thuẫn ấy, đã có biết bao sáng kiến tông đồ để tuyên chứng Đức Tin.

1.2 Sau đệ nhị chiến thế giới :

Thời gian từ năm 1945 đến năm 1975, được mệnh danh là ‘Ba mươi năm vinh quang’ chính là thời gian nước Pháp bị xáo trộn tận gốc. Trước tiên phải là phong trào đô thị hóa, dân chúng đồng quê bỏ làng mạc, tuốn lên thành phố, nhiều khi không đủ điều kiện sinh sống, xã hội, không có trường học, không có nhà thờ và không có linh mục. Đồng thời kinh tế phát triển mạnh, kỹ nghệ phồn thịnh. Và mọi xáo trộn đã lên tới tột bực vào năm 1965.

Những biến cố ấy khai tử chế độ nông thôn của nước Pháp. Vào đúng lúc Công Đồng Vatican II khai mở với làn gió mới của Chúa Thánh Thần. Cũng là lúc miền Paris được phân chia thành nhiều thủ phủ ngoại ô và tổng giáo phận Paris cắt ra thành bảy giáo phận vòng đai.

Những cuộc biểu tình đòi đổi mới của tháng Năm năm 1968 đánh dấu sự biến chuyển lịch sử của sinh hoạt chính trị, kinh tế, xã hội và của cả Giáo Hội.

1.3 Trong 30 năm gần đây :

Tình trạng bất ổn và di động của dân chúng gây nên nhiều sự xáo trộn nặng nề : gia đình tan vỡ (li dị, đơn phụ huynh, sống chung vị thành niên), khủng hoảng về giáo dục, mất thuần phong mỹ tục, hợp pháp hóa nha phiến, độc lập của tuổi trẻ, phân loại dân chúng theo lứa tuổi, thay đổi tình trạng xã hội của nữ giới, sức mạnh của truyền thông. ..

Tình trạng tôn giáo cũng thay đổi tận gốc : gia đình không còn là môi trường trao truyền đức tin và các phong tục tốt như xưa nữa, trường công giáo không còn quy chế như trước nữa, linh mục gốc đô thị giảm sút tới chín phần mười sánh với thời còn được đào tạo ở các tiểu chủng viện, số người giữ lễ chủ nhật mỗi ngày thành thiểu số, văn hóa kitô giáo dần dần bị xóa nhòa. Ngày nay chúng ta thuộc thế hệ thứ ba sau biến cố đoạn tuyệt với thế giới kitô.

Trong bối cảnh bị đảo lộn về mọi chiều kích này (nhân bản, văn hóa, xã hội, ý thức hệ, chính trị, tôn giáo), lại có những sự kiện mới dồn dập xẩy ra càng làm gia tăng nhịp độ thay đổi bộ mặt thế giới (di tản, tị nạn, sự hiện diện của Hồi giáo, phát sinh nhiều giáo phái, màng lưới thông tin, xóa bỏ danh giới quốc gia của nhiều nước Âu Châu...)

Chúng ta là những người đang chứng kiến sự biến mất của một nước Pháp chủ yếu sống bằng nông nghiệp, của nguồn phong phú nhân bản và tinh thần đã được tích lũy nhờ đời sống kitô. Cái thế giới mà người ta có lý đặt tên cho là ‘văn minh kitô giáo’ với bao trang sử oai hùng, mỹ diệu, phong nhiêu và cả yếu hèn, chính thế giới kitô này đã sản sinh các vị thánh, đã được tuyên dương hay còn mai ẩn, đã đem Phúc Âm đến khắp nơi trên thế giới, thế giới kitô này đã thành phân bón nuôi dưỡng cái xã hội tân tiến. Nhưng xã hội tân tiến đang bóp nghẹt thế giới kitô. Phần chúng ta, chỉ cần rảo qua miền Paris với đường kính chừng 100 cây số từ đông sang tây, từ bắc xuống nam, hầu nắm bắt những thay đổi có thực trong thời gian mới đây.

2. Sự thay đổi của nền văn minh và (hay là) sự thử thách của niềm tin.

2.1 Lời cắt nghĩa của Chúa Giêsu :

Sự thay đổi mau lẹ của nền văn minh có đủ để cắt nghĩa, như nhiều người nghĩ, là sự tan vỡ của Kitô giáo không ? Chúng ta còn phải tự hỏi : tại sao ngay ở nước Pháp (cũng như ở mấy nước Âu Châu) chúng ta đã hết sức cố gắng thích ứng mà vẫn không chứng tỏ ra được nguồn phong phú của đạo công giáo? Các sử gia của các thế kỷ tương lai sẽ có đủ thời gian để nêu lên mọi giả thiết.

Phần cuối của bài giảng trên Núi, Chúa Giêsu cho chúng ta một lời cắt nghĩa đầy đủ về tình trạng hiện nay : « Vậy ai nghe những lời Thầy nói đây mà đem ra thực hành, thì ví được như người khôn xây nhà trên đá. Dù mưa sa nước cuốn, hay bão táp ập vào, nhà ấy cũng không sụp đổ, vì đã xây trên nền đá. Còn ai nghe những lời Thầy nói đây mà chẳng đem ra thực hành, thì ví được như người ngu dại xây nhà trên cát. Gặp mưa sa nước cuốn hay bão táp ập vào, nhà ấy sẽ sụp đổ, sụp đổ tan tành » (Mt 7,24-27). Đó là một vấn đề xác thực mà chúng ta phải đặt ra cho chính chúng ta hầu đương đầu với tương lai.

Sự đảo lộn không cắt nghĩa tại sao nền văn minh công giáo cổ thời đã suy yếu, đã bạc nhược đến độ cũng thành mỏng giòn như mọi khía cạnh của cái xã hội mà nó đã đồng hóa. Vậy tại sao chúng ta đã xây ngôi nhà đồ sộ và xinh đẹp này trên nền cát ? Vậy chỉ trong chính bản thân chúng ta và dưới cái nhìn của Chúa Giêsu, chúng ta mới tìm ra câu trả lời.

2.2 Xây nhà tương lai trên đá :

Chúng ta sẽ hiểu rằng ngay trong sự đảo lộn của nền văn minh này chúng ta không được tìm phần rỗi, trong những mức độ còn rớt lại hay bằng những phương cách hành động mới như các xí nghiệp hay các tổ chức lớn ngày nay đang làm : cách thức hành động, hệ thống tổ chức, thích ứng sản phẩm theo thị hiếu của người tiêu thụ... Tất cả vẫn còn là xây nhà trên cát, nghĩa là chỉ quan tâm đến các phương tiện xây cất mà coi thường nền đất xây nhà.

Công đồng Vatican II dã nhắc nhở mọi kitô hữu phải tìm lại phiến đá để kiến tạo tương lai, hầu giúp Giáo Hội hoàn tất sứ mệnh của mình trong thiên kỷ mới của lịch sử nhân loại. Đó cũng là điều đức Gioan Phaolô II tha thiết nhắc nhở trong tông thơ ‘Tam thiên niên kỷ’ : Chương trình hành động của chúng ta là chính Đức Kitô. Ngài viết : « Chương trình đã có rồi... Nó quy về chính Chúa Kitô. Phải nhận biết, yêu mến và bắt chước Ngài để sống trong Ngài đời sống Chúa Ba Ngôi và để cùng Ngài biến đổi lịch sử đến hoàn tất trong thành Giêrusalem thiên quốc. Đó là chương trình không thay đổi theo những dị biến của thời đại, của văn hóa, cho dù phải cần đến thời gian và văn hóa để đối thoại thực tình và truyền thông hữu hiệu. Chương trình này mãi mãi là chương trình của chúng ta cho tam thiên niên kỷ này. Tuy nhiên nó phải được diễn đạt bằng những hướng đi mục vụ thích ứng vào hoàn cảnh của mỗi cộng đồng. . ». Lúc đó những phương thế hành động mới được đặt đúng vị trí.

2.3. Hợp lý theo tư tưởng của Thiên Chúa :

Đó là điều mà Chúa Giêsu đã mạnh mẽ cắt nghĩa cho Simon Phêrô khi ông cản Ngài trẩy lên đền thánh để chịu thương khó. Cái mà Phêrô cho là hợp lý lại cản trở tư tưởng của Thiên Chúa... Đức thánh Cha mời gọi chúng hãy thực tế đi vào hành động, nhưng phải hành động phù hợp với tư tưởng của Thiên Chúa.

Để đạt tới điểm đó, không thể coi là đủ khi muốn áp dụng các tư tưởng của Thiên Chúa theo kiểu các dấu hiệu an ninh trong trường hợp có hỏa hoạn. Bởi vì chỉ mình chúa Giêsu đến để hoàn tất những tưởng ấy giữa chúng ta. Chỉ khi chia sẻ quan điểm, tình yêu và sự sống của Ngài, chúng ta mới hành động theo những tư tưởng, ý định của Thiên Chúa. Đó là điều Thánh Phaolô đã nói : «Anh chị em hãy mang lấy trong mình những tư tưởng và tâm cảm đang có trong Đức Kitô » (Pl 2,5-11). Nghĩa là hãy cầu nguyện Chúa Cha nhờ Đức Kitô, với Đức Kitô và trong Đức Kitô... là để Chúa Thánh Thần hướng dẫn chúng ta. Một thế hệ, một cộng đồng kitô không cầu nguyện thì sẽ rơi vào sự sai lầm của Simon Phêrô...

3. Thực hành tôn giáo và căn tính công giáo.

3.1 Sống đạo :

Hiểu thực tế, thực hành tôn giáo là đi lễ chủ nhật, xưng tội, xin rửa tội cho con, hôn phối, an táng, cho con đi học giáo lý... Sống đạo như vậy đã có từ công đồng Trente vào thế kỷ XVI, tiêu chuẩn duy nhất có thể lượng tính sức sống của kitô giáo. Giáo Hội công nhận tiêu chuẩn này. Từ nửa thế kỷ nay, các nhà xã hội học bên Pháp cũng đã nhận hệ thống lượng giá đó. Họ đồng hóa và thu hẹp thực tại của đời sống tôn giáo do Giáo Hội bao quản, và họ tưởng đó là cách thế lượng giá hữu hiệu giúp kiểm chứng điều họ giả định. Từ đó có mấy nhà xã hội học đã dám kết luận : Kitô giáo đang trên đà mai một ! Như vậy, việc thực hành tôn giáo mà Giáo Hội ban truyền, từ nay không còn sự nâng đỡ của xã hội nữa và đang giảm sút cách đáng kể và nhanh chóng trong xã hội thành phố.

Nhưng lối nhìn đó không biết đến thực tế xã hội về kinh nghiệm tôn giáo. Vì thế, đạo công giáo không thiểu số. Đạo công giáo không trở thành thiểu số với tỷ lệ những người thực hành đạo và sống đức tin vững chắc. Vì theo những thăm dò gần đây, còn gần 70% dân Pháp tuyên bố mình là công giáo và chỉ chừng 20% thuộc về các tôn giáo khác.

3.2 Một nhóm đầu não sốt sáng và ý thức.

Vào đầu thế kỷ XX, đa số dân Pháp tuyên bố là công giáo, tuy nhiên họ rất ít đi dâng lễ. Thực tế này rất khác nhau theo từng vùng. Giữa những người thực hành đạo, có những giáo dân thông thạo giáo lý, hiểu sâu về đức tin, có những chiến sĩ, những thành viên của các tổ chức từ thiện, thiêng liêng, tông đồ... làm thành một nhóm đầu não sốt sáng và ý thức. Người ta có thể ước lượng số những kitô hữu như thế có chừng 5 đến 10% trên toàn quốc.

Nói khác, con số 5 – 10% người thực hành đạo ngày nay tương ứng với 5-10% số người sốt sáng ngày xưa. Họ có một điểm chung là « tự nguyện ». Họ không sống đạo vì thói quen hay vì áp lực xã hội, nói khác ‘họ không phải là đuôi sao chổi’ chày kíp sẽ tan biến trong không gian. Những người tự nguyện này thường gặp phải những thử thách do sự lãnh đạm hay hoài nghi của xã hội. Giáo Hội phải chia sẻ cho họ của ăn thiêng liêng, trí thức, luân lý, bí tích mà họ cần đến để làm tròn sứ mệnh của một người đã chịu phép Rửa Tội mà công đồng vatican II đã trình bày cách minh bạch và khôn ngoan.

3.3 Thế giới đô thị mới.

Đây chính là đám dân đông đảo mà chúng ta phải nhìn họ như Chúa Giêsu nhìn ‘đàn chiên không có người chăn’, đám dân mệt nhoài và đói lả được Chúa Giêsu yêu thương đến hiến thân chịu thương khó (Mt 9,36). Hôm nay, chính Chúa Giêsu sai chúng ta đến với đám dân này. Chúng ta phải đến với họ bằng tình thương và hy sinh của Chúa Giêsu. Đám dân này chính là thế giới đô thị mới ! Họ có quyền được nghe chúng ta nói về Phúc Âm. Chúng ta phải đem đến cho họ công trình Phúc Ầm hóa mới !

Những người quan sát luôn ngỡ ngàng về cung cách ‘tôn giáo’ của khối dân này. Phần đông đảo nhất là giới trẻ đã cắt đứt với gia sản kitô và được đào tạo bởi nền văn hóa truyền thông và thương mại. Tuy nhiên ý thức hay không, đám dân này vẫn giữ những lối suy nghĩ và hành động kitô : kính trọng con người, trắc ẩn với những người đói khổ, ước nguyện tình liên đới, đòi hỏi lẽ công bằng, mơ ước tình yêu lý tưởng, khẳng định địa vị bình đẳng giữa mọi nền văn hóa, ngôn ngữ, chủng tộc, phái giới...

Tất cả những giá trị đó và còn nhiều giá trị khác đều bắt nguồn từ trong Phúc Âm và tồn tại suốt hai ngàn năm lịch sử kitô. Nhưng ngày nay nhiều người không biết chúng xuất phát từ đâu và làm sao để múc lấy. Thế giới mới này trở nên mờ đục dưới mắt của họ. Họ không hiểu tại sao những phương thế phong phú của nền văn minh chúng ta lại kéo theo nhiều sự khốn cùng như vậy ! Một số người khép mình vào những tiện nghi và sống lãnh đạm. Một số khác lại buông thả đến tha hóa và phó thác cho tử thần. Họ muốn có thêm và thêm nhiều điều khác nữa. Nhưng cái gì ? và ai vậy ?

Ngày nay những vấn đề này được đặt ra mạnh mẽ, đôi khi với vũ lực, nhằm khám phá ra ý nghĩa của đời sống. Đó là những vấn đề gốc rễ mà Đức Kitô cũng đặt ra cho nhũng người thế hệ chúng ta, cho những đám dân đô thị này, cho những đám dân còn nói mình là công giáo và cho nhiều người khác. Ngài muốn khơi động tự do của họ để mọi người có thể đón nhận Tin Mừng của Nước Thiên Chúa Đấng giải thoát mọi người. Thời đại chúng ta trông đợi Tin Mừng. Thời đại chúng ta chiến đấu và tranh luận ngay trong những mâu thuẫn của nó. Chính để loan báo phần rỗi cho nhân loại mà Chúa Cha đã kêu gọi chúng ta và ban cho chúng ta Người Con chí ái của Ngài. Đó là ơn gọi của chúng ta, là sứ mệnh của người môn đệ Chúa Kitô ngay giữa đám dân thành phố.

II. RAO TRUYỀN PHÚC ÂM TRONG THÀNH PHỐ

4. Trong những làn sóng đô thị.

4.1 Tại Paris, mỗi người mơ ước một làng xã ngày xưa.

Ít người Paris sống mãi trong một khu phố mình đã sinh ra. Mỗi người đều bị thu hút trong những làn sóng lớn đổ trên dân chúng : di chuyển chỗ ở vì việc làm, giải trí, đi hè, nghỉ cuối tuần, du lịch, vì sống theo con cái...

Thực tế, chúng ta hoàn toàn khác với người dân quê. Họ có cư sở nhất định, họ sinh ra, lớn lên, và sống chết tại ‘nhà của gia đình’. Làng là Giáo Xứ. .. Cha sở (cũng như bác sĩ gia đình) thường đồng hành với giáo dân từ khi sinh ra cho đến lúc lìa đời.

Quan niệm truyền thống về giáo xứ đã bị xóa bỏ bởi sự di động mới của dân chúng thành phố và bởi ‘mốt’ sống đô thị. Giáo xứ không còn là trung tâm chính yếu của thôn làng nữa. Sống ở Paris, nhiều người muốn biến cộng đoàn giáo xứ thành khuôn khổ của làng xóm thời xưa. Họ muốn tìm thấy ở đó sự an toàn của một nhóm bạn hữu lâu bền, nhiều khi khép kín với nhau thôi.

4.2 Giáo xứ là nơi gặp gỡ.

Tốt hơn trước tiên chúng ta nên coi giáo xứ là nơi gặp gỡ, là điểm hẹn, là chỗ hội họp của các môn đệ Chúa Giêsu Phục Sinh, một trung tâm hiệp thông và huynh đệ trong Chúa Kitô, ở đó mỗi người đều có chỗ đứng, không phân biệt tuổi tác, quốc tịch hay văn hóa, mức độ hội nhập vào xã hội hay dấn thân trong Giáo Hội.

Việc cử hành mầu nhiệm đức tin tạo nên những gặp gỡ cởi mở, vui tươi và đầy ý nghĩa, nơi đây người kitô hữu lãnh nhận niềm vui hoạt động theo tình yêu Thiên Chúa phú ban. Thánh Thể là nguồn suối và là chóp đỉnh vì là bí tích hiệp thông, là lương thực nuôi dưỡng đức tin... Giáo xứ là nơi gặp gỡ nhân ngày lễ Rửa Tội của một người lớn hay một trẻ em, nơi gặp gỡ của sự hòa giải bí tích hay hòa giải huynh đệ...

Sứ mệnh của linh mục được đức giám mục sai đến nói lên tính cách tông đồ và bí tích của toàn thể cộng đồng giáo hội nhằm giúp người tín hữu lớn lên trong đức tin và sự thánh thiện....

4.3 Giáo xứ là tụ điểm mọi sáng kiến.

Vì đã ăn rễ sâu vào địa phương, giáo xứ phải được coi như tụ điểm của mọi sáng kiến loan báo và chia sẻ tình yêu của Thiên Chúa. Kinh nghiệm cho thấy ngay tại Paris, giáo xứ là nơi mà nhiều người được nghe công bố Lời Chúa lần đầu tiên. Lòng sốt mến của đức tin, sức mạnh của bác ái khơi dậy nơi mỗi người niềm mong ước và sự can đảm rao truyền Phúc Âm. Trong xã hội xa rời Phúc Âm hiện nay, các cộng đoàn kitô cởi mở phải gầy tạo tinh thần xã hội mới, phải đưa sáng kiến về nghệ thuật sống mới... Số tân tòng mỗi năm một thêm đông là một dấu khích lệ về sinh hoạt và đời sống đức tin... của các giáo xứ...

Nếu nhìn giáo xứ đô thị như là sự hiện diện của Chúa Giêsu thì không một giáo xứ nào bé nhỏ quá, nghèo hèn quá. Sự bé nhỏ hay nghèo hèn của giáo xứ có thể thành sự giầu sang nếu giáo dân trong xứ biết chia sẻ với nhau đức tin, tình thương huynh đệ, hoạt động tông đồ... Chúng ta phải khám phá ra trong cái nhìn mà Chúa Giêsu đem đến khi ngài nói : «Hỡi đàn chiên nhỏ, đừng sợ, vì Cha các con muốn ban Nước Trời cho các con » (Lc 12,32). Cái nhìn đức tin sẽ giúp chúng ta khám phá ra những kho tàng của Nước Trời... Khi giáo xứ họp lại nhân danh Chúa, thì mỗi giáo xứ hay tất cả sẽ thành dấu chỉ, thành bí tích của Đức Kitô trong thành phố.

Cái nhìn của Chúa kitô trên đàn chiên bé nhỏ, cái nhìn của Phaolô trên những người nghèo và kẻ bé mọn đón nhận ơn sủng chính cũng là sự kính trọng mà trong đức tin, người kitô hữu phải có đối với anh chị em mình. Cái nhìn ấy mạc khải cho mỗi người điều mà Thiên Chúa chờ đợi nơi họ và ban cho họ ơn can đảm để thực hiện.

5. Mạng lưới giáo xứ.

5.1 Tấm lưới mà mỗi mắt lưới đều nối kết với nhau.

Trong mọi di động của dân chúng Paris, các ngôi nhà thờ, nhà nguyện của chúng ta (chừng 150) hiện diện như những mốc điểm quan trọng đôi khi còn là tên gọi của trạm xe điện ngầm (metro). Vì thế những ngôi nhà thờ, tức những cộng đoàn tập trung trong nhà thờ, tạo nên một tấm lưới mà mỗi mắt lưới nối kết với toàn thể tấm lưới. Mỗi người dân Paris khi di chuyển, họ gặp trong thành phố nhiều mốc điểm. Mỗi cộng đoàn là một mắt đan của tấm lưới này. Còn khuya mới xóa bỏ được đặc tính đa dạng và độc đáo của các cộng đoàn. Mối liên hệ đan khấu lại với nhau làm kiên vững những đặc tính ấy, bởi vì mỗi cộng đoàn đáp ứng các nhu cầu của các cộng đoàn khác theo cách thế và tùy khả năng riêng của mình.

Vì những xây cất mới chưa được hoàn tất, vì lịch sử của thế kỷ vừa qua còn đó, tấm lưới này đôi khi còn quá thưa mắt. Do đó cần phải có thêm các cộng đoàn mới và các nhà thờ mới trên diện tích đô thị đặc biệt của Paris.

Nhưng điều hiển nhiên là tình trạng đô thị hiện nay, nếu đã làm tăng giá trị mỗi ‘tháp chuông’ trong tương quan giữa ‘tháp chuông’ này với ‘tháp chuông’ khác, thì lại phế bỏ ‘tinh thần của tháp chuông’. Chúng ta đã sống kinh nghiệm này với JMJ vào dịp năm Thánh và mới đây với chiến dịch giáo lý nhân ngày giới trẻ. Tờ áp-phích dán khắp Paris cho người đi qua lại đọc được sứ điệp qua ngôn từ thân thuộc của dân chúng đô thị.

5.2 Giáo Hội đính hôn với sự vận hành của thành phố và sẵn sàng phục vụ làn sóng dân chúng di động

Sự kiện đời sống đô thị bắt ép các cộng đoàn kitô từ khước căn tính của mình là một sự giầu sang mới trong đức tin. Nó giúp chúng ta khám phá ra tốt hơn rằng sự thuộc về Chúa Kitô và về Giáo Hội là một thực tại thiêng liêng. Chính Chúa Thánh Thần ban cho người ta, nam cũng như nữ, hiệp thông với nhau trong đức tin và đức bác ái. Các cộng đoàn kitô cần vượt qua mọi ganh tị, tham vọng và khép kín hầu đáp ứng sứ mệnh của chúng ta trong thành phố, và đó là một ích lợi lớn lao.

Nói như vậy không có nghĩa là không còn các thực tại địa phương hóa. Nhưng muốn xác quyết rằng những cực sinh hoạt chỉ chạy đều được một các toàn mãn khi chúng nối kết với nhau. Điều này chung cho mọi giáo xứ, cộng đoàn, phong trào, sở tuyên úy hay văn phòng... Tất cả cùng chung sức thành một tấm lưới liên đới cho việc rao giảng Phúc Âm. Lúc đó mới hiểu được tại sao đời sống Giáo Hội kết hôn với nhịp vận hành của thành phố và luôn sẵn sàng phục vụ dân chúng đô thị, chính họ sẽ giúp chúng ta vượt qua sự đối nghịch truyền thống giữa các giáo xứ, các sở tuyên úy... Tinh thần vô vị lợi làm cho tính độc đáo của từng giáo xứ, từng cộng đoàn. .. sinh ích lợi cho tất cả.

Một trong nhiều tỉ dụ : sinh hoạt giáo lý dự tòng dần dần đã trở thành một điểm mà tất cả đều chia sẻ, đều cùng quan tâm. ..

5.3 Sứ mệnh của Giáo Hội trong các thành phố lớn, cách riêng vùng Paris.

Những điều nói trên đây giúp chúng ta hiểu rõ hơn hình ảnh của nhiệm thể trong thư Thánh Phaolô lại áp dụng tuyệt hảo vào các tương quan giữa kitô hữu, giữa các giáo xứ, giữa các cộng đoàn với nhau (1Cr 12,12-31). Sự hiện hữu và sứ mệnh của Giáo Hội trong các thành phố hiện nay và cách riêng tại vùng Paris lệ thuộc vào đó. Đó là thực tại mà Huynh đệ Thừa sai các linh mục phục vụ thành phố (F.M.P.V.) muốn đáp ứng. Được thiết lập hơn 10 năm để phục vụ trong các giáo phận khác trong vùng Paris, hiện có hơn 20 linh mục Paris dấn thân trong tổ chức mục vụ này.

6. Một vài kết luận cơ bản

6.1 Tập trung phương tiện hay thực hiện liên đới :

Những điều phác họa ở trên thực tế đã được thể hiện nhiều ít tại Paris qua nhiều sáng kiến can đảm, dưới nhiều hình thức dấn thân... nhất là sau Công Nghị của Giáo Phận.

Hai thực hiện tiêu biểu là JMJ và Năm Thánh giúp chúng ta khám phá ra thêm sức mạnh của tinh thần liên đới giữa các giáo xứ, các cộng đoàn... quả là một ‘tấm lưới quan phòng’ giữa đời sống đô thị mỗi ngày một di động, biến chuyển và dâng cao...

Tất cả đòi hỏi chúng ta thực hiện hai công trình, là phải cấu trúc lại sinh hoạt mục vụ của giáo phận và phải quyết tâm tập trung mọi phương tiện hành động : chia sẻ nguồn nhân lực, tài lực, vật chất, tinh thần giữa các cộng đoàn giầu nghèo, lớn bé... Đây đúng là thời điểm loan truyền Phúc Âm.

6.2 Huấn luyện hay đào tạo

Có một phương tiện mà từ một thế kỷ nay, Giáo Hội công giáo rất quan tâm, đó là việc huấn luyện hay đào tạo, ngay cho những người sống đạo, không phân biệt tuổi tác.

Tất cả đòi hỏi chúng ta phải can đảm dấn thân như đi vào một trận chiến. Cách đây 2000 năm, Thánh Phaolô đã khích lệ mọi người đi vào trận chiến thiêng liêng này như sau : «Anh em hãy tìm sức mạnh trong Chúa và trong uy lực toàn năng của Ngài. Hãy mang toàn bộ binh giáp vũ khí của Thiên Chúa... Hãy đứng vững, lưng thắt đai là chân lý, mình mặc áo giáp là công chính, chân đi giầy là lòng hăng say loan báo tin mừng bình an. Hãy cầm khiên mộc đức tin... hãy đội mũ chiến là ơn cứu độ và cầm gươm của Thần Khí ban cho, là Lời Chúa » (Ep 6,10-17).

III. TIẾN TỚI VIỆC TRUYỀN GIÁO

Đây là công việc lớn lao mà đối tượng là biến tấm lưới kitô Paris thành tấm lưới truyền giáo.

1. Tháng 9 năm 2001, tôi đã đúc kết các băn khoăn và sáng kiến của các giáo xứ Paris vào 4 chương :

Phúc âm hóa hoàn cảnh sống của con người : Sinh ra, lớn lên, thành hôn, va chạm và tội phạm, sự chết, mọi giai đoạn đánh dấu đời sống cá nhân và xã hội. Tình trạng về luân lý của xã hội chúng ta phản ảnh quan niệm của chúng ta về hoàn cảnh sống của con người. Quan niệm này thường đối nghịch với quan niệm của Phúc Âm. Bằng nghi thức và bí tích, giáo hội phải chấp nhận và phúc âm hóa những thời điểm quyết định này, vì từ đó gợi lên những câu hỏi nền tảng về đời sống nhân loại. Vậy làm sao loan báo Tin Mừng ? làm sao giải phóng con người khỏi cảnh tôi đòi của họ ? Làm sao giúp họ phát triển nhân phẩm ? Việc loan báo đầu tiên trở thành khẩn trương. Nó ăn nhịp với việc cử hành các nghi thức và bí tích. Làm sao khai tâm và chuẩn bị cho người ta biết lãnh nhận ?

Đào tạo các kitô hữu thành chứng nhân của đức tin : Những điểm mốc kitô giáo đơn thường nhất dần dần bị lu mờ trong ký ức xã hội : Xã hội không còn ‘cưu mang’ chúng nữa. Mỗi kitô hữu được mời gọi nói lên cho chính mình và trước xã hội lý do tại sao mình tin. Công việc này đòi chúng ta phải sống Phúc Âm và phải tuyên chứng Phúc Âm ngay giữa môi trường làm việc, gia đình, chung cư, khu phố.

Giáo Hội Chúa Kitô là dấu chỉ trong thành phố : Thành phố là môi trường Phúc Âm được bày tỏ cho dân chúng. Chúng ta đã có nhiều kinh nghiệm trong những năm vừa qua. Với sự phong phú về đa hình dạng, các ngôi nhà thờ, nhà nguyện chuyển lại cho chúng ta bao nhiêu vẻ đẹp, bao nhiêu thắc mắc của thời xa xưa, và đó là sức sống của thời hiện tại. Tiền đường các nhà thờ luôn là tiếng mời gọi chúng ta phải loan báo và tuyên chứng niềm tin. Đôi khi, sân trước nhà thờ là nơi hội ngộ tuyệt hảo, đầy ý nghĩa... cho chúng ta, cho dân Paris, cho khách du lịch...

Phải thực thi bác ái của Đức Kitô. Bác ái là tâm điểm của đời sống kitô hữu. Đối diện với bao nhiêu phức tạp của nhiều vấn đề xã hội, việc giúp đỡ người nghèo khổ thường được trao về cho những tổ chức chuyên biệt. Đàng khác, thiện chí không đủ : nếu không có khả năng thì thiện chí trở thành vô nghĩa. Làm sao phổ biến trong mỗi cộng đoàn kitô ý nghĩa về trách nhiệm và quyết tâm phục vụ người nghèo ? Làm sao giúp cộng đoàn giáo xứ tham gia tích cực vào các tổ chức và hoạt động bác ái từ thiện ? Làm sao cho những người kém may mắn tìm thấy chỗ đứng xứng đáng trong cộng đoàn ?

Trong năm 2003-2004 này, chúng ta phải tiếp tục những kinh nghiệm và những hoạt động mục vụ, truyền giáo đã khởi đầu tại Paris.

. bằng cách tăng thêm nhiều buổi gặp gỡ trao đổi kinh nghiệm giữa những người đang dấn thần truyền giáo.

. bằng cách biểu dương vẻ đẹp mới mẻ của Phúc Âm.

2. Trong tuần lễ các Thánh 2004, chúng ta sẽ tiếp đón những người đến dự Đại Hội Truyền Giáo Quốc Tế. Chúng ta sẽ trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm với những kitô hữu đến từ Vienne, Lisbonne và từ Bruxelles, từ nhiều thành phố lớn khác của nước Pháp, của Âu Châu và từ các Lục địa khác.

Tuần lễ truyền giáo 2004 sẽ mang bộ diện nào ? Tất cả chúng ta phải làm việc và kết trúc cho thành. Kinh nghiệm của Vienne và của riêng giáo phận chúng ta là nguồn suối lớn lao chúng ta múc lấy và làm phong phú thêm về mọi phạm vi. Từ trong giáo xứ, cộng đoàn, sở tuyên úy... mọi người phải tham dự thực hiện công việc chung. Đừng đòi hỏi ưu việt, những cách sống đơn sơ, thông cảm đủ loan báo Tin Mừng rồi. Chứng tá của Kitô hữu phải khiêm tốn, đơn sơ, mở rộng, đa dạng và thực tiễn.

Điều đó đòi mọi người phải năng nổ và bền chí. Công việc thêu dệt tấm lưới thành phố Paris hay tấm lưới muôn vạn mắt nối kết nhau sẽ lâu dài và vượt xa Tuần Lễ Các Thánh 2004... Cái mà mỗi người đang làm hôm nay trong vị trí của mình sẽ đầu tư cho tương lai... và đó là mầu nhiệm của Giáo Hội. Đại Hội Truyền Giáo không ngừng lại sau Tuần Lễ Các Thánh 2004, nó sẽ mở đường và tiếp tục mãi, nó sẽ lan rộng để thành công trình Phúc Âm hóa Âu Châu.

Vạn sự khởi đầu nan ! Nhưng khởi điểm bao giờ cũng là giai đoạn thực sự mới mẻ và phong phú.

ÐHY Jean Marie Lustiger,

Tổng Giám Mục Paris.

(Đức Ông Mai Đức Vinh chuyển ý. Có thể tìm đọc trọn bản văn trong tuần báo Paris Notre-Dame, n. 999, 15 jưin 2003) (giaoxuvnparis.org)