Có nhiều lý do để có sự lạc quan thận trọng
ROMA -- Nhìn chung, sự lãnh đạo của Đức Giáo Hoàng và của các Đức Giám Mục được mọi người tại Úc Châu nhìn nhận, đó là lời nhận xét của Đức Hồng Y George Pell trong một cuộc phỏng vấn có liên quan đến nhiều chủ đề. Đức Hồng Y đã chia sẽ với hãng thông tấn Zenit vào ngày 31-3-2004, nhân dịp các Đức Giám Mục Úc Châu vừa kết thúc chuyến viếng thăm Rôma cứ mỗi năm 5 một lần. Và sau đây là cuộc phỏng vấn:
Hỏi (H): Sau chuyến viếng thăm Rôma lần vừa rồi, tức vào năm 1998, một văn kiện được xuất bản nhằm tóm lượt lại các điểm mấu chốt được đưa ra trong cuộc họp với một số Bộ của Giáo Triều, gồm có một loạt những thách thức chẳng hạn như việc thiếu đức tin, những ý tưởng sai lầm về Kitô Học và Khoa Giáo Hội học (ecclesiology), những khó khăn đang đối đầu với các Đức Giám Mục và các linh mục, vân vân. Thế thì thưa Đức Hồng Y, đã có những cải thiện đáng kể nào về những vấn nạn vừa đề cập?
Đức Hồng Y Pell (T): Tôi nghĩ đã có một vài sự tiến bộ, dẫu rằng chưa hẳn đã tiến bộ hết trên toàn cõi Úc Châu. Như bạn biết đó, đã có một vài phản ứng khá phổ biến của giới báo chí chống lại “Bản Báo Cáo Kết Luận.” Có khoảng một hay hai cuộc họp để phản kháng lại và được tham dự chủ yếu bởi những giáo dân trên 50 tuổi. Nhưng rất nhiều Giám Mục, nếu không muốn nói là hầu hết các Giám Mục, đều lắng nghe rất kỷ lưỡng, chăm chú về những gì được trình bày và có rất nhiều Giám Mục đã luôn luôn lúc nào cũng làm việc cật lực để ổn định tình hình. Chúng tôi không có một điều vĩ đại gì cả để báo cáo, nhưng tại một số thành phố, chúng tôi có có một số ơn gọi trở thành linh mục, và số lượng các chủng sinh một cách đáng kể. Chúng tôi có một vài bạn trẻ rất đạo đức đang thực tập và học hỏi về cách thức lãnh đạo và ai ai cũng biết những thách đố chung mà chúng tôi phải diện đối.
Trong suốt 5 năm vừa qua, tôi không hề hay biết gì cả về những sai lầm đáng kể nào trong việc giảng dạy về Kitô Học cả. Cả nước Úc này, hình như chỉ có một hay hai trung tâm luôn chú trọng vào ngoại giáo và các tôn giáo khác hay thuyết phiếm thần, đại loại như thế. Nhưng về khía cạnh Kitô Học, tôi không nghĩ là chúng tôi có bất cứ vấn đề gì cả. Còn về vấn đề có liên quan tới Khoa Giáo Hội Học, thì vẫn còn một nhóm đáng kể tin rằng phụ nữ nên cần được chịu chức linh mục. Nhưng đó chỉ là một sự khích động quần chúng nho nhỏ mà thôi, sự lãnh đạo của Đức Giáo Hoàng và của các Đức Giám Mục nhìn chung, được mọi người công nhận, vì thế, về khía cạnh Giáo Hội Học, thì hầu như mọi chuyện đều diễn ra khá tốt đẹp.
(H): Qua xuất bản thống kê thăm dò mới đây của Tổ Chức về Đời Sống Giáo Hội Quốc Gia, cho thấy tình trạng tham dự thánh lễ hằng tuần của những người Công Giáo đang tiếp tục giảm xuống. Thế thì thưa Đức Hồng Y, làm cách nào để thay đổi về hiện trạng này?
(T): Tôi nghĩ, trung bình trên toàn thể quốc gia, con số tham dự khoảng từ 16% đến 18%. Vào Lễ Giáng Sinh và Phục Sinh, con số đó tăng lên gấp bội, do đó nhìn chung có khoảng 40% tham dự thánh lễ tại nhiều nơi. Rũi thay, có một số đáng kể không dự Thánh Lễ ngày Chủ Nhật, nhưng lại đến thờ phượng Chúa chỉ một hay hai lần một tháng, nâng tổng số lên khoảng 18%. Con số những tin hữu tham dự thánh lễ giảm xuống vì những tín hữu bô lão đã chết đi và chưa được thay thế bởi con số những tín hữu trẻ tuổi một cách đáng kể. Dĩ nhiên, 18% là trung bình trên toàn quốc gia, ở tại một vài vùng ở Úc Châu, tỉ lệ đó thì lại rất thấp; và tại một số giáo phận ở miền quê, thì tỉ lệ đó lại cao hơn rất nhiều. Riêng ở tại Sydney, thì có khoảng 18% như thống kê trên toàn quốc gia, vì một lý do đó là có rất nhiều nhóm dân di cư vẫn tiếp tục duy trì mạnh mẽ đức tin Công Giáo của họ. Những nhóm như của người Việt Nam, người Đại Hàn, người Croatia và những nhóm khác với giàu truyền thống bản xứ như những người Ý Đại Lợi, và chúng tôi cũng đón nhận một số đáng kể những người Úc gốc Trung Hoa cải đạo.
(H): Thế Ngài lý giải làm sao về các con số thống kê khác như: số lượng Tin Lành tăng lên 8% và các Giáo Hội của Kitô tăng lên 7%? Có một lý do cụ thể nào đằng sau những con số đó không thưa Đức Hồng Y?
(T): Tỉ lệ người Công Giáo có giảm xuống chút ít, nhưng khoảng từ năm 1996 đến năm 2001, số lượng tín hữu Công Giáo tại Úc tăng lên hơn 200,000 người bởi vì có tình trạng gia tăng về dân số. Điều mà chúng ta không nhận ra đó là những nhóm tôn giáo Kitô đó đưa ra một thông điệp Kinh Thánh rõ ràng. Họ có những cộng đồng rất mạnh luôn tìm cách săn tín hữu mới, những nhóm như vậy thì càng ngày được gia tăng thêm. Những nhóm mà bạn vừa mới đề cập đến thì đến từ những tổ chức rất nhỏ, do đó, cũng rất dễ được phát triển. Thế nhưng nếu xét về quan điểm của một số tín hữu Công Giáo trung dung (tự do)-vì cách mà họ hướng tới là giảm nhẹ những đòi hỏi của Phúc Âm, nhưng vẫn âm thầm thực hiện những điều răn và xem cầu nguyện là quan trọng, vì lẽ đó là cách mà họ đề nghị Đạo Kitô Giáo cần nên áp dụng để hợp với thời đại, thì theo tôi nghĩ con số thống kê được đưa ra là hoàn toàn sai lầm. Hầu hết ở tại bất cứ nơi nào trên khối thế giới nói tiếng Anh, nơi đâu có sự phát triển thì nơi đó luôn có một lời mời gọi rõ ràng, nơi nào có những cộng đồng tốt và đạo đức, thì nơi đó có được sự hoán cãi và hi sinh cá nhân.
(H): Cũng như tại một số quốc gia khác, Giáo Hội tại Úc Châu cũng bị tai tiếng bởi những vụ lạm dụng tính dục của một số linh mục. Theo Ngài nghĩ, phải chăng, giờ đây sự khủng hoảng đó đã qua rồi chăng? Và đâu là những biện pháp để ngăn ngừa những cuộc lạm dụng như vậy trong tương lai?
(T): Tôi hy vọng và nguyên cầu rằng những điều tệ hại nhất của cuộc khủng hoảng đã chấm dứt. Tôi nghĩ đó là hiện trạng bây giờ. Dĩ nhiên là bây giờ, chúng tôi, nhìn chung, đã triển khai mọi phương cách trên toàn quốc gia. Có hai phương cách tổng quát: một đang được áp dụng tại Melbourne, và phương cách kia, chính là một thủ tục theo phương cách chung toàn cầu. Vì thế, các nạn nhân hoặc có thể báo cáo thẳng cho cảnh sát, và nếu họ đến ngay với cảnh sát, thì Giáo Hội sẽ không can thiệp gì cả. Còn nếu họ báo cáo cho Giáo Hội, thì thủ tục có khác chút đỉnh so với từng tiểu bang. Giáo Hội có thể xử lý những vụ cáo buộc theo thủ tục của Giáo Hội nếu như nạn nhân từ chối đến báo cáo cho cảnh sát. Do đó, các nạn nhân phải ký vào một văn bản, nêu ra rằng họ muốn Giáo Hội giải quyết sự vụ chứ không phải cảnh sát. Tại tiểu bang của tôi là New South Wales, nếu những vụ cáo buộc đụng đến bất kỳ điều gì có liên quan tới các trường học, thì họ phải báo cáo cho một viên chức chính phủ gọi, mà chúng tôi gọi là viên thanh tra. Thêm vào đó, mỗi một giáo phận hay mỗi một dòng tu được khuyến khích nên lập ra một ban cố vấn, để không những tham gia vào tiến trình, mà còn tham khảo với Đức Giám Mục để cho thấy quyết định đưa ra là thỏa đáng. Thì tôi cũng có một ban như vậy, được điều hành bởi một vị cựu Chánh Án Tòa Án Tối Cao nay đã nghĩ hưu và ban đó cũng còn có: một ông từng nổi tiếng là một Công Tố Viên Hoàng Gia, một giáo sư về tâm thần học, một vị linh mục, một bà mẹ Công Giáo và một nữ doanh gia, là những người vừa mới xem xét lại những gì mà chúng tôi thực hiện, hay muốn đề nghị, hay đã từng làm, và cố vấn cho vị Giám Mục biết là Ngài đang xử lý sự vụ theo một cách đúng đắn. Do đó, theo tôi nghĩ chúng tôi đã triển khai những cách thức giải quyết đúng đắn và điều quan trọng cho chúng tôi bây giờ chính là việc đem ra áp dụng những thủ tục đó khi nhận được những lời cáo buộc. Và theo cách nào đó, tôi nghĩ việc đó đã được hoàn tất rồi.
(H): Thế những chỉ dẫn đó có thường được in ấn ra, nếu xét về khía cạnh liên quan như đã đề cập ở trên, thưa Đức Hồng Y?
(T): Có chứ, chúng đã được xuất bản trong nhiều năm trời nay và được cập nhật ít nhất là một hay hai lần rồi. Nhưng các thủ tục đó được công bố rộng rãi cho công chúng và cho bất kỳ ai muốn biết đến cách thức mà chúng tô đang giải quyết sự vụ.
(H): Thưa Đức Hồng Y, khi Ngài còn là Tổng Giám Mục của Melbourne, và nay Ngài lại là Tổng Giám Mục của Sydney, Ngài đã đảm nhận một sự cải tổ tại chủng viện của địa phận. Thì đâu là những hoa trái được kết sinh từ sự cải tổ này và đâu là viễn ảnh mà Ngài có thể thấy tức thời về tương lai của các ơn gọi?
(T): Tôi nghĩ là tại Melbourne, đã có sự sinh hoa kết trái tốt, cụ thể là con số các chủng sinh gia tăng, và cứ thế tiếp tục tăng lên. Đó là những chủng sinh có đạo đức, chất lượng tốt, và chúng tôi cũng có một số đáng kể những vị linh mục trẻ rất đức độ tại Melbourne để tham gia vào một đoàn gồm nhiều linh mục trụ cột tại đây. Tôi nghĩ là họ đã được đào tạo rất kỷ lưỡng. Hầu hết đã học qua Đại Học trước khi họ gia nhập vào chủng viện. Những môn được giảng dạy trong chủng viện tập trung chính yếu vào cầu nguyện-cầu nguyện mỗi ngày trong nhiều năm trời và thêm vào đó, họ cũng còn có những kinh nghiệm dồi dào về mục vụ nữa. Và, dĩ nhiên, điều quan trọng là có một chương trình trong chủng viện giảng dạy về phát triển tâm sinh lý và về thần học luân lý, để toàn bộ khía cạnh dục tính được thấu hiểu kỷ càng bởi các chủng sinh. Và họ cũng còn được khám nghiệm rất kỷ càng để xem coi là họ có thích hợp để trở thành các linh mục vào thời đại ngày nay hay không.
(H): Ở một vài quốc gia thì Giáo Hội trong những năm gần đây được cũng cố một cách mạnh mẽ và lớn mạnh thêm bởi những nhóm phong trào mới và những nhóm giáo dân. Thế tại Úc Châu, Ngài đã có cảm nghiệm này như thế nào, thưa Đức Hồng Y?
(T): Tôi rất là tán thành với những nhóm mới này, đến mức mà tôi biết rõ hết cả họ. Chẳng hạn như, Cộng Đồng Emmanuel từ Pháp Quốc đã có những nhóm tại cả Melbourne lẫn tại Sydney này. Nhóm Giảng Dạy Giáo Lý Theo Phương Cách Mới đã có một chủng viện tại Perth, thuộc vùng phía Tây Úc Châu, và tôi đã mời họ đến đây để thành lập ra một chủng viện tại Sydney này. Hai nhóm này đã tạo ra những tiến bộ đều đặn nhưng chưa vĩ đại cho lắm. Tương tự như nhóm Focolarini. Riêng nhóm Hiệp Thông và Giải Phóng thì tới bây giờ chỉ có một nhóm nhỏ tại Sydney mà thôi. Do đó, cũng rất là đáng khích lệ vì những nhóm phong trào mới này chưa “rời khỏi” Úc Châu. Chưa có sự phát triển vượt bực nào được ghi nhận lại cho đến ngày nay.
(H): Thế đâu là những đóng góp cụ thể của họ vào cuộc sống Giáo Hội tại Úc Châu, thưa Đức Hồng Y?
(T): Một trong những đóng góp cụ thể của họ là việc nhấn mạnh đến vai trò quan trọng của người giáo dân, tầm quan trọng của Phép Rửa Tội và ơn gọi. Tôi nghĩ những áp lực về mặt xã hội học trên đức tin quá mạnh đến nổi chúng ta ngày nay đang cần có rất nhiều sự lãnh đạo từ các giáo dân, không chỉ cho nội tình của Giáo Hội không thôi, mà còn cả cho Đạo Kitô Giáo nói chung trên toàn thế giới. Lấy ví dụ như, chúng tôi có một nhóm tuyên úy rất đạo đức tại trường Đại Học Sydney được lãnh đạo bởi giáo dân: những thanh niên nam/nữ trẻ tuổi. Trong suốt hơn hai năm rưỡi qua họ đã đem lại sức sống mới cho việc tuyên uý tại trường Đại Học, và tôi cũng muốn triển khai những nhóm như vậy đến cho các Đại Học khác tại Sydney này. Thể chế củ đã giúp đở Giáo Hội rất nhiều, đó là gia đình, và dĩ nhiên là gia đình luôn luôn rất cần cho Giáo Hội. Nhưng gia đình tại Úc Châu đã bị yếu hẳn đi. Các trường học Công Giáo cũng như những dòng tu cũng bị yếu dần đi. Chúng tôi có một hệ thống rất lớn. Riêng tôi, có khoảng gần 70,000 sinh viên trong các trường học Công Giáo chỉ riêng tại Sydney này mà thôi, và nếu tính trên toàn bộ nước Úc, thì chúng tôi có khoảng 600,000 sinh viên tại các trường học Công Giáo. Thế nhưng lại có rất ít các thành viên của các dòng tu hiện đang giảng dạy tại các trường học ngày nay. Và các giáo xứ đã không còn mạnh mẽ như xưa nữa, bởi vì tỉ lệ tín hữu tham dự lễ đã giảm xuống một cách đáng kể. Vì thế, chúng tôi đang hướng tới việc Phúc Âm Hóa, không phải để duy trì không thôi đâu. Chúng tôi phải khởi hành ra phố và giảng dạy về đức tin. Tôi nghĩ là rất có nhiều người trong xã hội Úc Châu ngày nay nhìn chung đã quá chán ngán với luận điệu tuyên truyền của thế giới mà họ đang sống. Họ đang muốn tìm về sự tỉnh nội của con tim, và họ đang tìm về sự an toàn. Và chúng tôi sẽ cung cấp cho họ những điều đó. Chắc hẳn rằng, chúng tôi phải có nhiều tài nguyên năng lực để chú tâm vào công việc rao truyền Phúc Âm này.
(H): Một câu hỏi về cá nhân, thưa Đức Hồng Y, Ngài được biết đến qua việc luôn sẳn sàng bảo vệ những điều giảng dạy của Giáo Hội. Và đó cũng khiến Ngài trở thành mục tiêu để bị công kích. Thế thì Ngài có thấy sự thiện ý để nói thẳng ra như là một phần chính yếu của một người làm Giám Mục không thưa Đức Hồng Y?
(T): Vâng, tôi nghĩ như vậy. Một trong những sứ vụ quan trọng mà Công Đồng Chung Vaticăn Hai đề nghị là nên đối thoại với thế giới chung quanh ta. Dĩ nhiên là Đức Giáo Hoàng Phaolô Đệ Lục, chính Ngài là một bằng chứng hùng hồn cho việc đó, và chính Đức Đương Kim Giáo Hoàng lại là một bằng chứng vĩ đại cho cuộc đối thoại nội trong tình hình thế giới ngày nay. Thì điều đó không có nghĩa là chúng ta phải luôn đồng ý về tất cả mọi thứ đang xảy ra trong xã hội, mà là chúng ta phải biết cách hội nhập vào xã hội đó. Ở tại Sydney này, tôi thường viết một mục nhỏ trên báo Chủ Nhật hằng tuần, có sức xuất bản rộng lớn không kém gì các tờ báo khác tại Úc Châu này. Một trong những vị Giám Mục Phụ Tá của tôi, cũng có một mục viết tương tự hằng tháng cho một tờ báo cạnh tranh với tờ báo tôi viết. Thì đây là một ví dụ điển hình cho thấy những nổ lực của chúng tôi trong việc giới thiệu về Chúa Kitô cho toàn thể xã hội.
Và mới đây nhất là vào thứ Tư Lễ Tro vừa qua, chúng tôi đã có một cuộc bàn về cuốn phim về “Cuộc Thương Khó” của đạo diễn Mel Gibson. Thì tôi đã viết phần phê duyệt của cuốn phim. Cuốn phim được thảo luận một cách rộng rãi, bị chỉ trích, được khen ngợi, và làm cho giới báo chí trần tục cũng phải phân vân, đắng đo, lưỡng lự. Tôi xuất hiện ngay trên truyền hình cùng với một giáo sĩ Do Thái giáo đến từ Sydney này. Chúng tôi có quan điểm khác nhau, thế nhưng đó là một cuộc thảo luận hết sức là thân ái. Chính vì thế, chắn chắn là chúng tôi nên thử nghiệm việc mang thông điệp của Chúa Kitô vào thị trường nước Úc này.
(H): Thế thì mối quan hệ giữa giới truyền thông với Giáo Hội Công Giáo là như thế nào, thưa Đức Hồng Y? Thế có bao giờ Ngài nhận thấy có một cách diễn dịch sai lệch nào về những giảng dạy của Ngài, hay những giảng dạy của Đức Thánh Cha không?
(T): Đôi lúc, nó cũng xảy ra. Nhưng nhìn chung, họ luôn tường thuật một cách khá chính xác về tôi. Và dĩ nhiên, cũng có lúc giới báo chí không muốn tường thuật, hay chỉ cố tình làm ngơ về những điều quan trọng mà chúng tôi muốn nói. Thái độ của báo chí đối với tôn giáo thì thay đổi khác nhau. Một số tờ báo thì hoàn toàn theo quan điểm phóng túng và trần tục hóa, hay nói cách khác chống lại những nghi thức truyền thống của tôn giáo, còn một số tờ báo khác thì ít phản kháng hơn. Nhìn chung tất cả những tờ báo đó truyền tải những tin đáng giá, và không có gì đáng để than phiền cả. Tôi nghĩ là chúng tôi điều hành mọi chuyện một cách suôn sẽ ở nước Úc này về mặt tôn giáo, hơn là tại những nước tại Châu Âu. Tôi không nghĩ là chúng tôi có sự phản kháng của Đài BBC đối với Giáo Hội Công Giáo tại bất kỳ bộ phận nào ở Úc Châu này. Còn việc liên quan đến những giảng dạy của Đức Thánh Cha: thì chính Đức Giáo Hoàng được giới báo chí biết đến nhiều tại nước Úc này và những giảng dạy của Ngài cũng được họ công nhận một cách rộng rãi và lớn mạnh. Rất hiếm khi, những điều giảng dạy của Ngài bị chỉ trích cả. Và chẳng có nghi ngờ gì nữa, Đức Thánh Cha đã trở nên một vĩ nhân, một phát ngôn viên hết sức lỗi lạc cho Đạo Công Giáo, và thực ra cho Kitô Giáo trong thế kỷ thứ 20 này. Và điều đó cũng hoàn toàn rất đúng tại ngay chính nước Úc này và tôi nghĩ ai ai tại nước Úc cũng đều biết đến Đức Giáo Hoàng là ai. Và đó cũng không phải là một thành tựu đáng tồi tại một quốc gia ở bên kia thế giới, như bạn đã biết đến đó chính là tại Rôma.
ROMA -- Nhìn chung, sự lãnh đạo của Đức Giáo Hoàng và của các Đức Giám Mục được mọi người tại Úc Châu nhìn nhận, đó là lời nhận xét của Đức Hồng Y George Pell trong một cuộc phỏng vấn có liên quan đến nhiều chủ đề. Đức Hồng Y đã chia sẽ với hãng thông tấn Zenit vào ngày 31-3-2004, nhân dịp các Đức Giám Mục Úc Châu vừa kết thúc chuyến viếng thăm Rôma cứ mỗi năm 5 một lần. Và sau đây là cuộc phỏng vấn:
Hỏi (H): Sau chuyến viếng thăm Rôma lần vừa rồi, tức vào năm 1998, một văn kiện được xuất bản nhằm tóm lượt lại các điểm mấu chốt được đưa ra trong cuộc họp với một số Bộ của Giáo Triều, gồm có một loạt những thách thức chẳng hạn như việc thiếu đức tin, những ý tưởng sai lầm về Kitô Học và Khoa Giáo Hội học (ecclesiology), những khó khăn đang đối đầu với các Đức Giám Mục và các linh mục, vân vân. Thế thì thưa Đức Hồng Y, đã có những cải thiện đáng kể nào về những vấn nạn vừa đề cập?
Đức Hồng Y Pell (T): Tôi nghĩ đã có một vài sự tiến bộ, dẫu rằng chưa hẳn đã tiến bộ hết trên toàn cõi Úc Châu. Như bạn biết đó, đã có một vài phản ứng khá phổ biến của giới báo chí chống lại “Bản Báo Cáo Kết Luận.” Có khoảng một hay hai cuộc họp để phản kháng lại và được tham dự chủ yếu bởi những giáo dân trên 50 tuổi. Nhưng rất nhiều Giám Mục, nếu không muốn nói là hầu hết các Giám Mục, đều lắng nghe rất kỷ lưỡng, chăm chú về những gì được trình bày và có rất nhiều Giám Mục đã luôn luôn lúc nào cũng làm việc cật lực để ổn định tình hình. Chúng tôi không có một điều vĩ đại gì cả để báo cáo, nhưng tại một số thành phố, chúng tôi có có một số ơn gọi trở thành linh mục, và số lượng các chủng sinh một cách đáng kể. Chúng tôi có một vài bạn trẻ rất đạo đức đang thực tập và học hỏi về cách thức lãnh đạo và ai ai cũng biết những thách đố chung mà chúng tôi phải diện đối.
Trong suốt 5 năm vừa qua, tôi không hề hay biết gì cả về những sai lầm đáng kể nào trong việc giảng dạy về Kitô Học cả. Cả nước Úc này, hình như chỉ có một hay hai trung tâm luôn chú trọng vào ngoại giáo và các tôn giáo khác hay thuyết phiếm thần, đại loại như thế. Nhưng về khía cạnh Kitô Học, tôi không nghĩ là chúng tôi có bất cứ vấn đề gì cả. Còn về vấn đề có liên quan tới Khoa Giáo Hội Học, thì vẫn còn một nhóm đáng kể tin rằng phụ nữ nên cần được chịu chức linh mục. Nhưng đó chỉ là một sự khích động quần chúng nho nhỏ mà thôi, sự lãnh đạo của Đức Giáo Hoàng và của các Đức Giám Mục nhìn chung, được mọi người công nhận, vì thế, về khía cạnh Giáo Hội Học, thì hầu như mọi chuyện đều diễn ra khá tốt đẹp.
(H): Qua xuất bản thống kê thăm dò mới đây của Tổ Chức về Đời Sống Giáo Hội Quốc Gia, cho thấy tình trạng tham dự thánh lễ hằng tuần của những người Công Giáo đang tiếp tục giảm xuống. Thế thì thưa Đức Hồng Y, làm cách nào để thay đổi về hiện trạng này?
(T): Tôi nghĩ, trung bình trên toàn thể quốc gia, con số tham dự khoảng từ 16% đến 18%. Vào Lễ Giáng Sinh và Phục Sinh, con số đó tăng lên gấp bội, do đó nhìn chung có khoảng 40% tham dự thánh lễ tại nhiều nơi. Rũi thay, có một số đáng kể không dự Thánh Lễ ngày Chủ Nhật, nhưng lại đến thờ phượng Chúa chỉ một hay hai lần một tháng, nâng tổng số lên khoảng 18%. Con số những tin hữu tham dự thánh lễ giảm xuống vì những tín hữu bô lão đã chết đi và chưa được thay thế bởi con số những tín hữu trẻ tuổi một cách đáng kể. Dĩ nhiên, 18% là trung bình trên toàn quốc gia, ở tại một vài vùng ở Úc Châu, tỉ lệ đó thì lại rất thấp; và tại một số giáo phận ở miền quê, thì tỉ lệ đó lại cao hơn rất nhiều. Riêng ở tại Sydney, thì có khoảng 18% như thống kê trên toàn quốc gia, vì một lý do đó là có rất nhiều nhóm dân di cư vẫn tiếp tục duy trì mạnh mẽ đức tin Công Giáo của họ. Những nhóm như của người Việt Nam, người Đại Hàn, người Croatia và những nhóm khác với giàu truyền thống bản xứ như những người Ý Đại Lợi, và chúng tôi cũng đón nhận một số đáng kể những người Úc gốc Trung Hoa cải đạo.
(H): Thế Ngài lý giải làm sao về các con số thống kê khác như: số lượng Tin Lành tăng lên 8% và các Giáo Hội của Kitô tăng lên 7%? Có một lý do cụ thể nào đằng sau những con số đó không thưa Đức Hồng Y?
(T): Tỉ lệ người Công Giáo có giảm xuống chút ít, nhưng khoảng từ năm 1996 đến năm 2001, số lượng tín hữu Công Giáo tại Úc tăng lên hơn 200,000 người bởi vì có tình trạng gia tăng về dân số. Điều mà chúng ta không nhận ra đó là những nhóm tôn giáo Kitô đó đưa ra một thông điệp Kinh Thánh rõ ràng. Họ có những cộng đồng rất mạnh luôn tìm cách săn tín hữu mới, những nhóm như vậy thì càng ngày được gia tăng thêm. Những nhóm mà bạn vừa mới đề cập đến thì đến từ những tổ chức rất nhỏ, do đó, cũng rất dễ được phát triển. Thế nhưng nếu xét về quan điểm của một số tín hữu Công Giáo trung dung (tự do)-vì cách mà họ hướng tới là giảm nhẹ những đòi hỏi của Phúc Âm, nhưng vẫn âm thầm thực hiện những điều răn và xem cầu nguyện là quan trọng, vì lẽ đó là cách mà họ đề nghị Đạo Kitô Giáo cần nên áp dụng để hợp với thời đại, thì theo tôi nghĩ con số thống kê được đưa ra là hoàn toàn sai lầm. Hầu hết ở tại bất cứ nơi nào trên khối thế giới nói tiếng Anh, nơi đâu có sự phát triển thì nơi đó luôn có một lời mời gọi rõ ràng, nơi nào có những cộng đồng tốt và đạo đức, thì nơi đó có được sự hoán cãi và hi sinh cá nhân.
(H): Cũng như tại một số quốc gia khác, Giáo Hội tại Úc Châu cũng bị tai tiếng bởi những vụ lạm dụng tính dục của một số linh mục. Theo Ngài nghĩ, phải chăng, giờ đây sự khủng hoảng đó đã qua rồi chăng? Và đâu là những biện pháp để ngăn ngừa những cuộc lạm dụng như vậy trong tương lai?
(T): Tôi hy vọng và nguyên cầu rằng những điều tệ hại nhất của cuộc khủng hoảng đã chấm dứt. Tôi nghĩ đó là hiện trạng bây giờ. Dĩ nhiên là bây giờ, chúng tôi, nhìn chung, đã triển khai mọi phương cách trên toàn quốc gia. Có hai phương cách tổng quát: một đang được áp dụng tại Melbourne, và phương cách kia, chính là một thủ tục theo phương cách chung toàn cầu. Vì thế, các nạn nhân hoặc có thể báo cáo thẳng cho cảnh sát, và nếu họ đến ngay với cảnh sát, thì Giáo Hội sẽ không can thiệp gì cả. Còn nếu họ báo cáo cho Giáo Hội, thì thủ tục có khác chút đỉnh so với từng tiểu bang. Giáo Hội có thể xử lý những vụ cáo buộc theo thủ tục của Giáo Hội nếu như nạn nhân từ chối đến báo cáo cho cảnh sát. Do đó, các nạn nhân phải ký vào một văn bản, nêu ra rằng họ muốn Giáo Hội giải quyết sự vụ chứ không phải cảnh sát. Tại tiểu bang của tôi là New South Wales, nếu những vụ cáo buộc đụng đến bất kỳ điều gì có liên quan tới các trường học, thì họ phải báo cáo cho một viên chức chính phủ gọi, mà chúng tôi gọi là viên thanh tra. Thêm vào đó, mỗi một giáo phận hay mỗi một dòng tu được khuyến khích nên lập ra một ban cố vấn, để không những tham gia vào tiến trình, mà còn tham khảo với Đức Giám Mục để cho thấy quyết định đưa ra là thỏa đáng. Thì tôi cũng có một ban như vậy, được điều hành bởi một vị cựu Chánh Án Tòa Án Tối Cao nay đã nghĩ hưu và ban đó cũng còn có: một ông từng nổi tiếng là một Công Tố Viên Hoàng Gia, một giáo sư về tâm thần học, một vị linh mục, một bà mẹ Công Giáo và một nữ doanh gia, là những người vừa mới xem xét lại những gì mà chúng tôi thực hiện, hay muốn đề nghị, hay đã từng làm, và cố vấn cho vị Giám Mục biết là Ngài đang xử lý sự vụ theo một cách đúng đắn. Do đó, theo tôi nghĩ chúng tôi đã triển khai những cách thức giải quyết đúng đắn và điều quan trọng cho chúng tôi bây giờ chính là việc đem ra áp dụng những thủ tục đó khi nhận được những lời cáo buộc. Và theo cách nào đó, tôi nghĩ việc đó đã được hoàn tất rồi.
(H): Thế những chỉ dẫn đó có thường được in ấn ra, nếu xét về khía cạnh liên quan như đã đề cập ở trên, thưa Đức Hồng Y?
(T): Có chứ, chúng đã được xuất bản trong nhiều năm trời nay và được cập nhật ít nhất là một hay hai lần rồi. Nhưng các thủ tục đó được công bố rộng rãi cho công chúng và cho bất kỳ ai muốn biết đến cách thức mà chúng tô đang giải quyết sự vụ.
(H): Thưa Đức Hồng Y, khi Ngài còn là Tổng Giám Mục của Melbourne, và nay Ngài lại là Tổng Giám Mục của Sydney, Ngài đã đảm nhận một sự cải tổ tại chủng viện của địa phận. Thì đâu là những hoa trái được kết sinh từ sự cải tổ này và đâu là viễn ảnh mà Ngài có thể thấy tức thời về tương lai của các ơn gọi?
(T): Tôi nghĩ là tại Melbourne, đã có sự sinh hoa kết trái tốt, cụ thể là con số các chủng sinh gia tăng, và cứ thế tiếp tục tăng lên. Đó là những chủng sinh có đạo đức, chất lượng tốt, và chúng tôi cũng có một số đáng kể những vị linh mục trẻ rất đức độ tại Melbourne để tham gia vào một đoàn gồm nhiều linh mục trụ cột tại đây. Tôi nghĩ là họ đã được đào tạo rất kỷ lưỡng. Hầu hết đã học qua Đại Học trước khi họ gia nhập vào chủng viện. Những môn được giảng dạy trong chủng viện tập trung chính yếu vào cầu nguyện-cầu nguyện mỗi ngày trong nhiều năm trời và thêm vào đó, họ cũng còn có những kinh nghiệm dồi dào về mục vụ nữa. Và, dĩ nhiên, điều quan trọng là có một chương trình trong chủng viện giảng dạy về phát triển tâm sinh lý và về thần học luân lý, để toàn bộ khía cạnh dục tính được thấu hiểu kỷ càng bởi các chủng sinh. Và họ cũng còn được khám nghiệm rất kỷ càng để xem coi là họ có thích hợp để trở thành các linh mục vào thời đại ngày nay hay không.
(H): Ở một vài quốc gia thì Giáo Hội trong những năm gần đây được cũng cố một cách mạnh mẽ và lớn mạnh thêm bởi những nhóm phong trào mới và những nhóm giáo dân. Thế tại Úc Châu, Ngài đã có cảm nghiệm này như thế nào, thưa Đức Hồng Y?
(T): Tôi rất là tán thành với những nhóm mới này, đến mức mà tôi biết rõ hết cả họ. Chẳng hạn như, Cộng Đồng Emmanuel từ Pháp Quốc đã có những nhóm tại cả Melbourne lẫn tại Sydney này. Nhóm Giảng Dạy Giáo Lý Theo Phương Cách Mới đã có một chủng viện tại Perth, thuộc vùng phía Tây Úc Châu, và tôi đã mời họ đến đây để thành lập ra một chủng viện tại Sydney này. Hai nhóm này đã tạo ra những tiến bộ đều đặn nhưng chưa vĩ đại cho lắm. Tương tự như nhóm Focolarini. Riêng nhóm Hiệp Thông và Giải Phóng thì tới bây giờ chỉ có một nhóm nhỏ tại Sydney mà thôi. Do đó, cũng rất là đáng khích lệ vì những nhóm phong trào mới này chưa “rời khỏi” Úc Châu. Chưa có sự phát triển vượt bực nào được ghi nhận lại cho đến ngày nay.
(H): Thế đâu là những đóng góp cụ thể của họ vào cuộc sống Giáo Hội tại Úc Châu, thưa Đức Hồng Y?
(T): Một trong những đóng góp cụ thể của họ là việc nhấn mạnh đến vai trò quan trọng của người giáo dân, tầm quan trọng của Phép Rửa Tội và ơn gọi. Tôi nghĩ những áp lực về mặt xã hội học trên đức tin quá mạnh đến nổi chúng ta ngày nay đang cần có rất nhiều sự lãnh đạo từ các giáo dân, không chỉ cho nội tình của Giáo Hội không thôi, mà còn cả cho Đạo Kitô Giáo nói chung trên toàn thế giới. Lấy ví dụ như, chúng tôi có một nhóm tuyên úy rất đạo đức tại trường Đại Học Sydney được lãnh đạo bởi giáo dân: những thanh niên nam/nữ trẻ tuổi. Trong suốt hơn hai năm rưỡi qua họ đã đem lại sức sống mới cho việc tuyên uý tại trường Đại Học, và tôi cũng muốn triển khai những nhóm như vậy đến cho các Đại Học khác tại Sydney này. Thể chế củ đã giúp đở Giáo Hội rất nhiều, đó là gia đình, và dĩ nhiên là gia đình luôn luôn rất cần cho Giáo Hội. Nhưng gia đình tại Úc Châu đã bị yếu hẳn đi. Các trường học Công Giáo cũng như những dòng tu cũng bị yếu dần đi. Chúng tôi có một hệ thống rất lớn. Riêng tôi, có khoảng gần 70,000 sinh viên trong các trường học Công Giáo chỉ riêng tại Sydney này mà thôi, và nếu tính trên toàn bộ nước Úc, thì chúng tôi có khoảng 600,000 sinh viên tại các trường học Công Giáo. Thế nhưng lại có rất ít các thành viên của các dòng tu hiện đang giảng dạy tại các trường học ngày nay. Và các giáo xứ đã không còn mạnh mẽ như xưa nữa, bởi vì tỉ lệ tín hữu tham dự lễ đã giảm xuống một cách đáng kể. Vì thế, chúng tôi đang hướng tới việc Phúc Âm Hóa, không phải để duy trì không thôi đâu. Chúng tôi phải khởi hành ra phố và giảng dạy về đức tin. Tôi nghĩ là rất có nhiều người trong xã hội Úc Châu ngày nay nhìn chung đã quá chán ngán với luận điệu tuyên truyền của thế giới mà họ đang sống. Họ đang muốn tìm về sự tỉnh nội của con tim, và họ đang tìm về sự an toàn. Và chúng tôi sẽ cung cấp cho họ những điều đó. Chắc hẳn rằng, chúng tôi phải có nhiều tài nguyên năng lực để chú tâm vào công việc rao truyền Phúc Âm này.
(H): Một câu hỏi về cá nhân, thưa Đức Hồng Y, Ngài được biết đến qua việc luôn sẳn sàng bảo vệ những điều giảng dạy của Giáo Hội. Và đó cũng khiến Ngài trở thành mục tiêu để bị công kích. Thế thì Ngài có thấy sự thiện ý để nói thẳng ra như là một phần chính yếu của một người làm Giám Mục không thưa Đức Hồng Y?
(T): Vâng, tôi nghĩ như vậy. Một trong những sứ vụ quan trọng mà Công Đồng Chung Vaticăn Hai đề nghị là nên đối thoại với thế giới chung quanh ta. Dĩ nhiên là Đức Giáo Hoàng Phaolô Đệ Lục, chính Ngài là một bằng chứng hùng hồn cho việc đó, và chính Đức Đương Kim Giáo Hoàng lại là một bằng chứng vĩ đại cho cuộc đối thoại nội trong tình hình thế giới ngày nay. Thì điều đó không có nghĩa là chúng ta phải luôn đồng ý về tất cả mọi thứ đang xảy ra trong xã hội, mà là chúng ta phải biết cách hội nhập vào xã hội đó. Ở tại Sydney này, tôi thường viết một mục nhỏ trên báo Chủ Nhật hằng tuần, có sức xuất bản rộng lớn không kém gì các tờ báo khác tại Úc Châu này. Một trong những vị Giám Mục Phụ Tá của tôi, cũng có một mục viết tương tự hằng tháng cho một tờ báo cạnh tranh với tờ báo tôi viết. Thì đây là một ví dụ điển hình cho thấy những nổ lực của chúng tôi trong việc giới thiệu về Chúa Kitô cho toàn thể xã hội.
Và mới đây nhất là vào thứ Tư Lễ Tro vừa qua, chúng tôi đã có một cuộc bàn về cuốn phim về “Cuộc Thương Khó” của đạo diễn Mel Gibson. Thì tôi đã viết phần phê duyệt của cuốn phim. Cuốn phim được thảo luận một cách rộng rãi, bị chỉ trích, được khen ngợi, và làm cho giới báo chí trần tục cũng phải phân vân, đắng đo, lưỡng lự. Tôi xuất hiện ngay trên truyền hình cùng với một giáo sĩ Do Thái giáo đến từ Sydney này. Chúng tôi có quan điểm khác nhau, thế nhưng đó là một cuộc thảo luận hết sức là thân ái. Chính vì thế, chắn chắn là chúng tôi nên thử nghiệm việc mang thông điệp của Chúa Kitô vào thị trường nước Úc này.
(H): Thế thì mối quan hệ giữa giới truyền thông với Giáo Hội Công Giáo là như thế nào, thưa Đức Hồng Y? Thế có bao giờ Ngài nhận thấy có một cách diễn dịch sai lệch nào về những giảng dạy của Ngài, hay những giảng dạy của Đức Thánh Cha không?
(T): Đôi lúc, nó cũng xảy ra. Nhưng nhìn chung, họ luôn tường thuật một cách khá chính xác về tôi. Và dĩ nhiên, cũng có lúc giới báo chí không muốn tường thuật, hay chỉ cố tình làm ngơ về những điều quan trọng mà chúng tôi muốn nói. Thái độ của báo chí đối với tôn giáo thì thay đổi khác nhau. Một số tờ báo thì hoàn toàn theo quan điểm phóng túng và trần tục hóa, hay nói cách khác chống lại những nghi thức truyền thống của tôn giáo, còn một số tờ báo khác thì ít phản kháng hơn. Nhìn chung tất cả những tờ báo đó truyền tải những tin đáng giá, và không có gì đáng để than phiền cả. Tôi nghĩ là chúng tôi điều hành mọi chuyện một cách suôn sẽ ở nước Úc này về mặt tôn giáo, hơn là tại những nước tại Châu Âu. Tôi không nghĩ là chúng tôi có sự phản kháng của Đài BBC đối với Giáo Hội Công Giáo tại bất kỳ bộ phận nào ở Úc Châu này. Còn việc liên quan đến những giảng dạy của Đức Thánh Cha: thì chính Đức Giáo Hoàng được giới báo chí biết đến nhiều tại nước Úc này và những giảng dạy của Ngài cũng được họ công nhận một cách rộng rãi và lớn mạnh. Rất hiếm khi, những điều giảng dạy của Ngài bị chỉ trích cả. Và chẳng có nghi ngờ gì nữa, Đức Thánh Cha đã trở nên một vĩ nhân, một phát ngôn viên hết sức lỗi lạc cho Đạo Công Giáo, và thực ra cho Kitô Giáo trong thế kỷ thứ 20 này. Và điều đó cũng hoàn toàn rất đúng tại ngay chính nước Úc này và tôi nghĩ ai ai tại nước Úc cũng đều biết đến Đức Giáo Hoàng là ai. Và đó cũng không phải là một thành tựu đáng tồi tại một quốc gia ở bên kia thế giới, như bạn đã biết đến đó chính là tại Rôma.