ROME (Zenit.org).- Giái đáp của cha Edward McNamara, giáo sư phụng vụ tại Đại học Giáo Hoàng Regina Apostolorum

Lập trường Giáo hội ra sao trong việc xử dụng nữ giới giúp bàn thờ? Tất cả người giúp lễ có thể là người nữ không, hay tối thiểu phải có một người nam? Cha có cảm giác rằng việc dùng nữ giới giúp bàn thờ làm xao lãng việc xây dựng những ơn gọi giữa những người trẻ nam không?--M.C.S.N., Catonsville, Maryland.

Ngoại trừ 2 giáo phận, Nữ giới giúp lễ được phép trong tất cả các giáo phận Hoa Kỳ. Nữ giới cũng thường thấy giúp lễ trong các quốc gia nói tiếng Anh, và tại Tây Âu. Các phần còn lại của thế giới thì bất thường, từ chỗ hoàn toàn vắng bóng người nữ giúp lễ cho tới các giáo phận thỉnh thoảng cho phép.

Đứng trên quan điểm của luật phụng vụ, một sự giải thích chính thức ở Điều 230, số 2 Bộ Giáo luật về khả năng ủy quyền thi hành một số nhiệm vụ phụng vụ, là nguyên nhân đưa tới bức thư vào năm 1994 do Bộ Bí Tích và Phụng Tự nói rõ rằng các em gái có thể giúp bàn thờ. Nhưng các giám mục không bắt buộc cho phép họ làm như vậy, hội đồng giám mục cũng không phép hạn chế quyền quyết định của giám mục.

Một thư khác làm sáng tỏ được phổ biến vào năm 2001 nói rằngcác linh mục không bị bắt buộc cho các em gái giúp bàn thờ, dầu khi các giám mục cho phép.

Thư 1994 tuyên bố: "Luôn luôn rất thích hợp là theo truyền thống cao thượng dùng con trai giúp bàn thờ. Như được biết rõ, điều này dẫn tới việc bảo đảm phát triển các ơn gọi linh mục. Như vậy sự bắt buộc ủng hộ những nhóm trẻ nam giúp bàn thờ, luôn luôn tiếp tục."

Thư cũng nhắn nhủ các giám mục cân nhắc "cùng với những sự khác, những tính nhạy cảm của tín hữu, những lý do thúc đẩy sự ban phép như thế và những khung cảnh phụng vụ khác nhau và những cộng đồng tập họp tham dự Thánh Lễ."

Do đó Toà Thánh khuyên giữ lại bao lâu có thể được, để tập quán chỉ dùng con trai giúp lễ. NhưngToà Thánh để cho giám mục sự lựa chọn ban phép những người nữ và các em gái vì một lý do chính đáng, và để cho vị mục tử mỗi giáo xứ quyết định có nên hành động theo phép giám mục hay không.

Điều quan trọng là đừng tập trung sự tranh cãi này bằng cách xử dụng những phạm trù chính trị như những quyền, sự bình đẳng, sự ký thị, v.v., chỉ giúp làm rối thêm vấn đề. Chúng ta đang nói về đặc ân xử dụng trong một hành vi thờ phượng mà không ai có quyền hành gì.

Vấn đề phải được qui chiếu về điều gì tốt nhất cho lợi ích các linh hồn trong mỗi giáo phận và giáo xứ. Như vậy đó là một quyết định mục vụ nổi bật chớ không phải hành chánh, và đó là lý do tại sao nó phải được minh định trên cấp bậc địa phương.

Giữa những yếu tố mục vụ phải cân nhắc, có sự kiện rõ ràng mà thường bị quên là con trai con gái khác biệt nhau và cần những phương thức động lực và đào tạo khác nhau.

Sự khác biệt có nghĩa là cả con trai lẫn con gái thường qua một giai đoạn khi chúng có khuynh hướng tránh những sinh hoạt chung.

Những bé trai đặc biệt rất thích những sinh hoạt nào phục vụ mình cách riêng, và chúng có xu hướng tẩy chay sự chia sẻ các sinh hoạt với con gái.

Chúng cũng hay có một nhu cầu nhiều hơn đối với những sinh hoạt cơ cấu hơn con gái, thường trưởng thành hơn và trách nhiệm hơn trong giai đoạn sống này.

Kết quả là tại một số giáo xứ, nhận thấy rằng đưa những con gái vào giúp lễ, sẽ mau làm cho các con trai giúp lễ giảm túc số. Một khi con trai thôi giúp lễ và tới tuổi dậy thì khó mà lôi kéo chúng trở lại.

Một số cha xứ nói hiện tượng này ít thấy xảy ra khi việc giúp lễ nằm trong phạm vi của cấu trúc Công giáo rộng lớn hơn, như trường học, hay là khi các anh chị em ruột cùng chung giúp lễ.

Các nhóm giúp lễ con trai đã nuôi những ơn gọi làm linh mục cũng được coi là đúng. Nhưng thật sự công tâm mà nói, đối với một ơn gọi điều này thường xảy ra bên trong một văn hóa cởi mở rộng lớn hơn, trong đó có nhiều yếu tố khác nhau nhập cuộc như gương sáng và sự hướng dẫn thiêng liêng nhờ các linh mục tốt lành, và sự ủng hộ của gia đình.

Ví dụ nếu một chương trình dài hạn cho các em trai giúp lễ đã được chứng minh có hiệu quả trong việc cổ động các ơn gọi, và hữu ích trong việc giúp các em trai xa lánh bạn bè xấu và giữ được tình trạng ân sủng, bấy giờ vì lợi ích các linh hồn, bắt buộc các mục tử phải thận trọng cân nhắc những nguy cơ về thiêng liêng nếu bỏ chương trình đó.

Nếu chỉ để tránh gây ấn tượng cho cộng đồng là đạo Công giáo là một sinh hoạt cho nữ giới, thì khi các em gái muốn giúp lễ, có lẽ tốt nhất là sắp xếp chung giữa trai và gái. Dầu sao trong một số trường hợp chia con trai con gái ra những toán khác nhau có thể coi là tốt nhất.

Rất khó mà đặt ra những luật chính xác trong một vấn đề như trên, bởi vì hoàn cảnh có thể thay đổi rất nhiều tùy theo các giáo xứ. Và ai cũng biết có những khác biệt riêng biệt giữa các tín hữu tham dự những Thánh Lễ khác nhau trong cùng một giáo xứ.

* * *

Tiếp theo lần trước: Những ấn tượng của sự thinh lặng

Để trả lời cho mục của chúng tôi về tầm quan trọng của sự thinh lặng lần trước, một độc giả từ nước Anh, người đã có một kinh nghiệm lâu dài tại Phi châu, gợi ý rằng những bình luận của tôi tập trung quá về những thực tại của thế giới ồn ào phương Tây.

Ông ta viết rằng: "Trong nhiều phần thế giới, người Công giáo ở suốt tuần trong trang trại của họ với ít sự nhộn nhịp hấp tấp, không nghe phát thanh, chỉ nghe tiếng gió và tiếng chim ca và thỉnh thoảng mới có tiếng người. Khi họ tụ tập dự Thánh Lễ ngày Chúa Nhật trong các vùng châu Phi, có thể coi đó lả một việc rất ồn ào và các thừa sai phương Tây thường không hiểu. Họ đã làm thinh cả tuần, canh tác một cách hầu như chiêm niệm. Trong Thánh Lễ họ muốn hát với nhau, cầu nguyện to tiếng với nhau, nhiều hơn chúng ta là những người đã chán chê tiếng ồn ào"

Ông ta viết tiếp: "ở đây cũng có những khác biệt văn hóa thường bị hiểu lầm. Người châu Phi sống cách điển hình trong một văn hóa nói chuyện. Điều họ nghĩ được phát biểu thành lời, hay là nói một cách khác, không có diễn tả bằng lời, thì ý nghĩ ở đâu? Cho nên cầu nguyện thinh lặng có thể là chẳng cầu nguyện gì hết.. . Lý do của tất cả sự này là sự thinh lặng sẽ được kinh nghiệm và nhận lãnh nhiều cách quanh thế giới. Nơi nào sư sống nhộn nhịp hơn, Thánh Lễ cần thinh lặng hơn. Nhưng nơi nào sự sống đã thinh lặng, Thánh Lễ phải cần hát nhiều hơn và cầu nguyện to tiếng hơn.

Độc giả của chúng tôi chăc chắn có những điểm đúng. Có lẽ tôi phải thú nhận là đôi khi tôi đã quá tập trung vào những hoàn cảnh phương Tây. Một trong những cái lợi của mục này là cơ hội khai thác sự khôn ngoan và kinh nghiệm của các độc giả chúng tôi.

Nói như vậy tôi thiết tưởng rằng sự kiện sống trong một hoàn cảnh tương đối thinh lặng không phải là riêng biệt cho kinh nghiệm châu Phi, củng không cần thiết chuyển sang một ý muốn có một phụng vụ náo nhiệt. Trước khi có những đài phát thanh xách tay, qua bao thế kỷ không khí chung thinh lặng đã xảy ra đồng thời ở khắp nơi trong vùng quê châu Âu và châu Mỹ. Nhưng Thánh Lễ lại thinh lặng hơn nhiều ngày nay.

Lý luận theo những khác biệt văn hóa thì mạnh mẽ hơn, thật sự là sự thinh lặng được kinh nghiệm cách khác nhau trong những văn hóa khác nhau. Tuy tôi không có đặc ân viếng thăm châu Phi, nhiệm vụ của tôi cho tôi tiếp xúc hằng ngày với những người châu Phi từ nhiều xứ. Chắc chắn họ thuộc về một văn hóa nói chuyện và không gặp khó khăn gì khi tham dự những Thánh Lễ dài với nhiều suy gẫm và đọc nhiều kinh và bài hát chung

Theo kinh nghiệm cá nhân tôi, họ cũng thường được ban cho một khả năng nhiều hơn để biết cầu nguyện riêng trong thinh lặng, và đan dệt hai nét thành một tổng thể hài hòa. Không phải là chuyện ngẫu nhiên mà trong số những người châu Phi mới đây được tôn vinh lên bàn thánh, hai vị đó là Chân phước Cypian Michael Iwene Tansi và Thánh Josephine Bakhita, là những đan sĩ chiêm niệm.

Luật phụng vụ cho phép các giám mục thích ứng rộng rãi hơn những phương diện như vậy theo những đòi hỏi cụ thể của văn hóa địa phương. Nhưng tôi ấp ủ những mối nghi ngờ về sự khôn ngoan loại bỏ hẳn sự thinh lặng. Tuy điều chắc chắn là chúng ta có thể trò chuyện bằng lời với Chúa với tư cách qua một cộng đồng, kinh nghiệm của sự thinh lặng làm cho Chúa nói chuyện với chúng ta dễ dàng hơn nhiều.

Từ phương Tây, một số độc giả Hoa Kỳ và Úc hỏi về tầm quan trọng của sự thinh lặng trước và sau Thánh Lễ theo ánh sáng đến nhu cầu thiết lập cộng đoàn.

Trước Thánh Lễ nên có một bầu khí chung thinh lặng. Điều này không loại trừ một tiếng chào hỏi nhỏ nhẹ với nhau, một cử chỉ cúi đầu chào hay một cái bắt tay thân tình giữa các người giáo xứ. Điều phải tránh là cứ nói chuyện rầm rì tại ghế ngồi, thường là tán gẫu, rồi chỉ chấm dứt khi Thánh Lễ sắp bắt đầu.

Khi sự kiện này xảy ra, kết quả là tuy bề ngoài cất lên đọc kinh rầng rang, nhưng tâm trí lại để ý đến đề tài nói chuyện. Ngược lại, một tinh thần thinh lặng hoàn toàn dễ dàng cho phép chuyển tiếp từ thế giới bên ngoài đến việc cử hành mầu nhiệm thánh lễ.

Việc chuyển tiếp này cũng rất cần thiết đối với linh mục, dầu khi cha có thói quen chào thăm tín hữu trước Thánh Lễ. Ngài phải cố gắng dành một vài phút thinh lặng để chuẩn bị cử hành thánh lễ. Ngài có thể xử dụng những kinh khi mặc áo theo truyền thống, những kinh trước Thánh Lễ có sẵn trong sách lễ, hay bất cứ kinh nào khác giúp ngài cầm trí trước khi bắt đầu việc cử hành.

Đôi khi, người ta muốn nói chuyện với linh mục trước Thánh Lễ. Mặc dầu luôn có những trường hợp đặc biệt cần phải lưu ý ngay, nói một cách chung tốt hơn hết là linh mục hãy nắm thời cơ để giáo dục và khuyên bảo là Thánh Lễ sắp bắt đầu. Linh mục phải luôn luôn tìm cách đề nghị và kiếm một thời gian thuận tiện nào khác để gặp họ. Nếu được thực thi cách bác ái, điều này sẽ nâng cao lòng đạo đức đối với giáo dân và giúp họ đánh giá tầm quan trọng của Thánh Lễ.

Những thừa tác viên và những người giúp lễ cũng phải cố gắng khích động bầu khí này. Cố gắng hết sức để tất cả những chi tiết thực tế phải được giải quyết trước hầu tránh những sự can thiệp không may xảy ra.

Qui chế Tổng Quát Sách Lễ Roma, trong số 45, nói: "Trước khi cử hành, rất cần nên giữ thinh lặng trong thánh đường, trong phòng thánh và những nơi kế cận để mọi người dọn mình cách sốt sắng tham dự các lễ nghi thánh."

Một số độc giả cũng hỏi về sự giữ thinh lặng sau khi Rước Lễ và những việc làm nào nếu có thể sẽ được thực thi trong lúc này.

Như chúng ta đã thấy trong mục lần trước, sau khi Rước Lễ phải giữ một lúc thinh lặng hay là có thể hát một thánh thi khác với thánh thi đã hát lúc Rước lễ. Nói chung, điều rất tốt là giữ giai đoạn thinh lặng, và cả trong những lúc có hát một bài thánh ca thích hợp, xem ra nên chọn hát một bài hát có tính chất suy niệm do ca đoàn hát, ngõ hầu cũng cho phép dễ dàng đến sự cám ơn thầm lặng.

Đôi khi xem ra có thể xen lẫn hai cách, hoặc là để một giai đoạn ngắn thinh lặng sau khi hát một bài thánh ca, bằng không thì kết thúc một giai đoạn thinh lặng với một bài hát thánh vịnh hay bài thánh ca tạ ơn do ca đoàn hay do toàn thể cộng đoàn hát. Tôi nhớ có lần tham gia trong một Thánh Lễ mà hình thức sau được xử dụng cách có hiệu quả mạnh mẽ, lời bài thánh ca cổ xưa Anima Christi ( Linh Hồn của Đấng Cứu chuộc tôi) được phổ nhạc theo điệu tân thời kết thức giai đoạn thinh lặng.

Điều không thích hợp là xử dụng giai đoạn thinh lặng nầy để làm những việc khác như việc quyên tiền lần thứ hai hay đọc nhưng lời rao bảo. Thời gian thích hợp cho những việc này là sau lời nguyện kết thúc và trước khi ban phép lành. Nếu cần, có thể mời cộng đồng ngồi cho tới lúc rao bảo xong.

Sau Thánh Lễ, việc làm bác ái nhất là yên lặng ra khỏi gian chính của Thánh Đường hầu dễ dàng hóa việc cầm trí cho những người muốn ở lại cám ơn cầu nguyện thêm. Sự yên lặng này cũng giống như hoàn cảnh trước Thánh Lễ vì nó không loại trừ một lời chào thân tình. Nhưng lúc đó không nên bắt chuyện vãn ngoại trừ đã đi ra ngoài thánh đường.

Dầu trong những trường hợp này khi nhà tạm không hiện diện trong cung thánh, nhà thờ vẫn là một không gian thánh và đặc tính nhà thờ phải được tôn trọng.

Thật sự là đôi khi có thể cản trở việc đào tạo một tinh thần cộng đồng giáo xứ--tuy nhiên điều hơn hết là một hoa trái của phụng vụ hơn là hậu qủa của việc hành xử nhân bản.

Nhiều nhà thờ cổ kính không có một khu vực dưới mái hiên nơi các tín hữu có thể tụ tập sau Thánh Lễ, đó là một khó khăn đặc biệt nghiêm trọng trong những vùng với mùa đông lạnh lẽo. Môt số cha xứ cố gắng vượt qua những ngăn trở này bằng cách tổ chức những sinh hoạt khác sau Thánh Lễ trong hội quán của giáo xứ ngõ hầu cho phép những người giáo xứ biết nhau trong những khung cảnh ít đặt nặng về mặt hình thức.