Huấn thị của Thánh bộ “Đời sống thánh hiến và hiệp hội tông đồ."

Phần IV
LÀM CHỨNG CHO TÌNH YÊU
NHẬN BIẾT VÀ PHỤC VỤ ĐỨC KI-TÔ


33. Một cuộc sống được biến hình bởi các lời khuyên phúc âm sẽ trở thành một chứng tá có tính ngôn sứ và âm thầm, đồng thời cũng là một lời phản kháng hùng hồn chống lại một thế giới phi nhân. Cuộc sống ấy dấn thân vào việc thăng tiến nhân vị và một sự sáng tạo mới của đức ái. Chúng ta đã thấy điều đó nơi các thánh lập dòng. Nó không chỉ tỏ lộ qua hiệu năng của việc phục vụ, nhưng nhất là qua khả năng sống liên đới với những ai đau khổ, làm thế nào để hành vi giúp đỡ được cảm nghiệm như một sự chia sẻ chân thành. Hình thức phúc âm hoá này, được thể hiện qua những công việc mang dấu ấn của tình yêu và dâng hiến, bảo đảm một hiệu lực hiển nhiên cho những lời nói bác ái. 105

Về phần mình, đời sống hiệp thông là sứ điệp đầu tiên của đời sống thánh hiến, bởi vì đó là dấu chỉ hữu hiệu và sức mạnh có tính thuyết phục dẫn đến niềm tin vào Đức Ki-tô. Như vậy, hiệp thông chính là truyền giáo. Thực thế, “hiệp thông làm phát sinh hiệp thông và thiết yếu là một hiệp thông truyền giáo”. 106 Lúc ấy, các cộng đoàn khao khát đi theo Đức Ki-tô trên những con đường của lịch sử nhân loại,107 với lòng nhiệt thành tông đồ và chứng tá đời sống phù hợp với đoàn sủng của họ. 108 “Những ai đã thật sưỳ gặp gỡ Đức Ki-tô thì không thể giữ lấy Người cho riêng mình, nhưng phải công bố. Cần có một nhiệt tình tông đồ mới mẻ, được sống như một cam kết hàng ngày của cộng đoàn và nhóm ki-tô hữu”.109

34. Khi ta xuất phát lại từ đức Ki-tô, thì linh đạo hiệp thông trở thành một linh đạo sinh động và vững chắc của các môn đệ và tông đồ của Nước Trời. Đối với những người thánh hiến, thì điều đó có nghĩa là dấn thân phục vụ những anh chị em của mình, nơi những người ấy họ nhận ra khuôn mặt của Đức Ki-tô. Khi thi hành sứ vụ tông đồ này, không thể phân tách là và làm ra hai phần khác nhau được, vì mầu nhiệm Đức Ki-tô cấu thành nền tảng tuyệt đối cho mọi hoạt động mục vụ. 110 “Sự đóng góp của những người thánh hiến nam nữ vào công cuộc phúc âm hoá, tiên vàn là chứng tá đời sống toàn hiến cho Thiên Chúa và anh chị em, noi gương Đấng cứu thế, là Đấng vì yêu thương nhân loại đã trở nên người tôi tớ.” 111 Những người thánh hiến không được giới hạn thời gian dâng hiến, nhưng trái lại phải dâng hiến trọn cả cuộc đời khi tham dự vào sứ vụ của Giáo hội.

Trong tông huấn Ngàn Năm Mới, Đức giáo hoàng hình như muốn thực hiện một bước dài hơn trong việc cụ thể hoá tình yêu đốùi với người nghèo. “Thế kỷ và thiên niên kỷ mới đang bắt đầu cần thấy, và ước mong sao thấy rõ ràng hơn, mức độ cống hiến mà cộng đoàn ki-tô hữu thể hiện trong việc bác ái đối với người nghèo túng nhất. Nếu chúng ta thật sự xuất phát lại từ việc chiêm ngưỡng đức Ki-tô, chúng ta phải biết nhận ra Người nhất là qua khuôn mặt của những người mà Người muốn đồng hoá: tôi đói và anh em đã cho tôi ăn, tôi khát, anh em đã cho tôi uống, tôi là khách lạ và anh em đã tiếp đón, tôi trần truồng và anh em đã cho tôi mặc, tôi ở tù và anh em đã đến thăm (Mt 25,35-36). Bản văn tin mừng này không đơn thuần là một lời mời gọi làm việc bác ái, nhưng là một trang của Ki-tô học toả chiếu một tia sáng về mầu nhiệm Đức Ki-tô. Qua những lời đó, cũng giống như vấn đề tính chính thống về mặt giáo thuyết, Giáo hội đo lường được lòng trung tín của mình như là Hiền thê của đức Ki-tô”.112 Đức Giáo hoàng cũng đề nghị một đường hướng linh đạo cụ thể bằng cách mời gọi nhận ra nơi bản thân người nghèo sự hiện diện đặc biệt của Đức Ki-tô, Đấng đã bó buộc Giáo hội phải ưu tiên chọn lựa người nghèo. Với chọn lựa như thế, những người thánh hiến 113 phải làm chứng cho “lối thể hiện tình yêu của Thiên Chúa, sự quan phòng và lòng thương xót của Người.” 114

35. Lãnh vực mà Đức Gio-an Phao-lô mời gọi chúng ta làm việc bao gồm toàn thể thế giới. Đối diện với viễn cảnh đó, những người thánh hiến “phải thực hiện hành vi tuyên xưng đức tin vào Đức Ki-tô, bằng cách nhận ra tiếng nói của Người qua lời cầu cứu vang lên từ thế giới nghèo đói”. 115 Tìm kiếm một sự quân bình giữa sinh khí phổ quát của ơn gọi truyền giáo và đưa sinh khí ấy vào trong bối cảnh Giáo hội địa phương sẽ là thách đố hàng đầu của mọi hoạt động tông đồ.

Bên cạnh các hình thức nghèo đói cổ xưa, còn có những hình thức mới như: thất vọng vì cuộc sống vô nghĩa, tình trạng nghiện ngập ma túy, sợ bị ruồng bỏ vì tuổi già hay vì bệnh tật, sống bên lề xã hội hay việc phân biệt đối xử trong xã hội.116 Trong các hình thức truyền thống và hình thức mới, truyền giáo trước tiên là một việc phục vụ phẩm giá con người trong một xã hội phi nhân hoá, vì sự nghèo đói cùng cực và nghiêm trọng nhất của thời đại chúng ta là nhẫn tâm chà đạp lên các quyền lợi của con người. Với năng động của bác ái, tha thứ và hoà giải, những người thánh hiến đấu tranh cho công lý để xây dựng một thế giới mở ra những cơ hội mới và tốt hơn để cải thiện cuộc sống và phát triển cá nhân. Để việc tham gia đấu tranh đạt hiệu quả, cần phải có tinh thần của người nghèo, được thanh luyện khỏi tư lợi, sẵn sàng phụng sự hoà bình và bất bạo động với tinh thần liên đới và đầy lòng thương cảm đối với những ai khốn khổ. Cách thức loan báo Lời Thiên Chúa và thực hiện những kỳ công của Người, mà Đức Giê-su đã bắt đầu (x. Lc 4,15-21) và Giáo hội tiên khởi đã thực hiện, không được lãng quên khi Năm thánh kết thúc hay bước sang thiên niên kỷ mới, nhưng thôi thúc chúng ta cấp bách thực hiện trong tình mến để hướng tới một tương lai khác. Phải sẵn sàng trả giá cho việc bách hại, vì hiện nay nguyên nhân của tử đạo thường là sự đấu tranh cho công lý vì muốn trung thành với Tin mừng. Đức Gio-an Phao-lô khẳng định rằng chứng tá đó “ngay cả thời gian gần đây, đã đưa đến việc tử đạo của một số anh chị em tại những miền khác nhau trên thế giới”.117

TRONG SỰ SÁNG TẠO CỦA ĐỨC ÁI

36. Trải qua các thế kỷ, các hoạt động bác ái luôn luôn tạo nên môi trường để sống Tin mừng cách cụ thể. Khi thực thi bác ái, những người thánh hiến làm nổi bật tính chất ngôn sứ của đoàn sủng và sự phong phú của linh đạo trong Giáo hội và trên thế giới. 118 Họ ý thức mình được kêu gọi để “biểu lộ tình yêu Thiên Chúa cho thế giới”. 119 Sự năng động ấy phải được tiếp tục thực hiện với sự trung thành có tính sáng tạo, vì nó tạo nên một tiềm lực không thể thay thế được cho công việc mục vụ trong Giáo hội. Vào thời buổi đòi buộc phải có một sự sáng tạo trong bác ái, một bằng chứng và những hành động bác ái nhằm xác nhận tính đích thực của những lời nói bác ái, 120 đời sống thánh hiến đang duy trì một cách đáng khâm phục sự sáng tạo trong hoạt động tông đồ từng làm phát sinh hàng ngàn khuôn mặt bác ái và thánh thiện dưới các hình thái đặc thù; do đó không thể không cảm thấy cấp bách phải tiếp tục, với sự sáng tạo của Thánh khí, làm cho thế giới ngạc nhiên vì những hình thái mới của tình yêu phúc âm hữu hiệu để đáp ứng các nhu cầu của thời đại.

Đời sống thánh hiến biểu lộ ước muốn suy tư về đoàn sủng đặc trưng và truyền thống của mình để đưa chúng phục vụ trong các lãnh vực mới của việc phúc âm hoá. Điều đó có nghĩa là trở nên một với người nghèo, người cao niên, người nghiện ngập, những người đau khổ vì bệnh Aids và những người tha hương đang gánh chịu mọi thứ cực hình vì sống trong hoàn cảnh đặc biệt. Cần lưu tâm đến việc thay đổi các mô hình, vì chỉ trợ giúp mà thôi thì không đủ, nhưng phải tìm cách nhổ tận gốc nguyên nhân gây ra cảnh túng thiếu. Nghèo đói gây ra bởi tham vọng và sự dửng dưng của nhiều người và những cơ cấu tội ác cần phải loại trừ qua việc dấn thân một cách nghiêm túc trong lãnh vực giáo dục.

Nhiều tổ chức cổ truyền cũng như mới thành lập đưa những người thánh hiến đến những nơi mà người khác thường không muốn đến. Trong những năm qua, những người thánh hiến đã có thể rời bỏ sự an toàn của cái đã biết để dấn thân vào những nơi và công việc chưa biết. Nhờ sự dâng hiến trọn vẹn, họ thật sự tự do bước vào những nơi nào gặp cảnh túng thiếu nguy cấp như được chứng thực qua các tổ chức mới thành lập tại các quốc gia mới vốn đặt ra những thách đố đặc biệt, liên hệ đến nhiều tỉnh đòng cùng một lúc và tạo nên các cộng đoàn quốc tế. Với cái nhìn sáng suốt và con tim quảng đại, 121 họ đã đáp ứng lời cầu cứu của nhiều người đang đau khổ qua công việc bác ái cụ thể. Bất cứ ở đâu, họ cũng tạo nên một sự nối kết giữa Giáo hội và những nhóm người sống bên lề cũng như những nhóm người mà thừa tác viên mục vụ không đến với họ được.

Ngay cả một vài đoàn sủng dường như đã đáp ứng với thời đại đã qua, đã lấy lại một sinh khí mới trong thế giới đang chứng kiến cảnh buôn bán phụ nữ và trẻ em làm nô lệ, khi mà những trẻ em, thường là nạn nhân của ngược đãi, có nguy cơ bị bỏ rơi hay bị cưỡng bức tòng quân.

Hôm nay có một sự sẵn sàng lớn hơn trong việc thực thi sứ mệnh tông đồ, một sự chiếu toả có ý thức hơn, một sự liên đới được biểu lộ qua việc tìm cách liên kết với dân chúng, đảm nhận vấn đề của họ để đưa ra một giải pháp, quan tâm hơn đến các dấu chỉ và các nhu cầu của thời đại. Việc gia tăng các sáng kiến đã chứng tỏ tầm quan trọng của việc lập kế hoạch trong truyền giáo, nếu người ta muốn hành động một cách có trật tự và hiệu quả hơn là tùy tiện.

LOAN BÁO TIN MỪNG

37. Nhiệm vụ đầu tiên mà ta phải nhiệt tâm đảm nhận là loan báo Đức Ki-tô cho mọi người. Nhiệm vụ này phụ thuộc nhất là những người thánh hiến nam nữ đang đấn thân mang sứ điệp đến cho số đông những người chưa biết Chúa. Sứ vụ này đang chỉ ở bước khởi đầu, và chúng ta phải tận lực đấn thân để thực hiện. 122 Các nhà truyền giáo phải tin tưởng và hỗ trợ lẫn nhau để đưa ra phương thức tốt nhất nhằm đáp ứng những đòi hỏi của hội nhập văn hoá, sao cho các giá trị đặc thù của mỗi dân tộc không bị loại bỏ, nhưng được tinh luyện và dẫn đến sự viên mãn. 123 Trong khi vẫn trung thành với việc loan báo Tin mừng, Ki-tô giáo trong ngàn năm thứ ba sẽ mang dáng dấp của một khuôn mặt bao gồm nhiều nền văn hoá và các dân tộc, nơi mà Giáo hội được tiếp nhận và cắm rễ. 124

PHỤC VỤ SỰ SỐNG

38. Tiếp nối truyền thống vẻ vang, một số đông những người thánh hiến, nhất là nữ tu, hoạt động tông đồ trong lãnh vực y tế để tiếp tục sứ vụ biểu lộ lòng thương xót của Đức Ki-tô. Theo vết chân Đức Ki-tô, người Sa-ma-ri-ta-nô Thần Linh, họ gần gũi với những ai đau khổ để xoa dịu nỗi đau của họ. Trong khi quan tâm làm cho việc chăm sóc y tế được nhân đạo hơn, khả năng chuyên môn của họ mở một không gian cho Tin mừng có cơ hội toả chiếu lòng nhân từ và tin tưởng ngay cả trong những kinh nghiệm gay go nhất của sự sống và sự chết của con người. Vì thế, những bệnh nhân nghèo khổ nhất và bị bỏ rơi hơn cả phải là những người được ưu tiên tận tình chăm sóc. 125

Để chứng tá ki-tô giáo đạt hiệu quả, đặc biệt tại một vài môi trường tế nhị và có xung đột, điều quan trọng là biết trình bày những lý lẽ của lập trường ki-tô giáo, bằng cách nhấn mạnh rằng đó không phải là nhằm áp đặt một cái nhìn đức tin trên những người vô tín ngưỡng, nhưng là giải thích và bảo vệ các giá trị bắt nguồn từ chính bản tính con người. 126 Như thế, việc bác ái đối với những tu sĩ hoạt động trong lãnh vực này là phục vụ cho sự hiểu biết để bảo đảm rằng các nguyên tắc cơ bản mà một nền văn minh xứng hợp với con người được xây dựng trên đó, được tôn trọng ở mọi nơi.

TRUYỀN BÁ SỰ THẬT

39. Lãnh vực giáo dục cũng cần đến sự hiện diện đủ tư cách của những người thánh hiến nam nữ. Mầu nhiệm Nhập thể xác định các nền tảng của một nhân học có khả năng vượt qua những giới hạn và mâu thuẫn của mình để đi đến với Đức Giê-su, “con người mới” (Ep 4,24; x. Cl 3,10). Vì Con Thiên Chúa thật sưỳ làm người, nên trong Người và qua Người, những người nam nữ thật sự có thể trở nên con cái Thiên Chúa. 127
Những người thánh hiến có đủ khả năng hoạt động một cách rất hiệu quả trong lãnh vực này nhờ kinh nghiệm đặc biệt của họ về các ân huệ của Thánh thần, nhờ việc chăm chú lắng nghe Lời Chúa và thực hành biện phân, nhờ gia sản phong phú của truyền thống giáo dục được tích lũy từ khi Tu hội được thành lập. Đoàn sủng đó có thể làm phát sinh các môi trường giáo dục thấm nhuần tinh thần tự do, công lý và bác ái theo Tin mừng, trong đó họ giúp người trẻ tăng trưởng về mặt nhân bản dưới tác động của Thánh Khí, đồng thời đề nghị thầy giáo cũng như học viên lấy sự thánh thiện làm mục tiêu của giáo dục. 128

Cần cổ võ trong lòng đời sống thánh hiến một sự đổi mới trong việc dấn thân vào môi trường văn hoá nhằm nâng cao trình độ cá nhân và chuẩn bị cho một cuộc đối thoại giữa đức tin và não trạng thời đại, ngõ hầu nhờ các viện hàn lâm, cổ võ việc phúc âm hoá các nền văn hoá như là việc phục vụ sự thật. 129 Một sự hiện diện trong lãnh vực truyền thông xã hội cũng cần thiết hơn bao giờ hết. 130 Mọi nỗ lực trong môi trường tông đồ mới và chiến lược này phải được khuyến khích sao cho các sáng kiến trong các lãnh vực khác nhau được phối hợp chặt chẽ hơn, đạt chất lượng và hiệu quả cao hơn.

MỞ ĐƯỜNG CHO NHỮNG CUỘC ĐỐI THOẠI LỚN

40. Xuất phát lại từ Đức Ki-tô cuối cùng có nghĩa là đi theo Người đến những nơi Người hiện diện qua công trình cứu chuộc và sống giữa chân trời bao la mà Người đã mở ra. Đời sống thánh hiến không chỉ hài lòng sống trong Giáo hội và cho Giáo hội. Cùng với Đức Ki-tô, họ vươn tới các Giáo hội ki-tô khác, các tôn giáo khác và tất cả mọi người nam nữ không tuyên xưng một xác tín tôn giáo nào.

Như vậy, đời sống thánh hiến được mời gọi góp phần đặc biệt vào tất cả các cuộc đối thoại lớn mà Công đồng đã mở ra cho Giáo hội. “Nhiệt tâm đối thoại với mọi người”, đó là tiêu đề đầy ý nghĩa của chương cuối trong Tông huấn Đời sống Thánh hiến, như một kết luận hợp lý của toàn bộ Tông huấn.

41. Văn kiện trước hết nhắc lại việc Thượng hội đồng về Đời sống Thánh hiến làm nổi bật mối liên hệ mật thiết giữa đời sống thánh hiến và đại kết. “Vì linh hồn của đại kết là cầu nguyện và hoán cải, nên các Hội dòng sống đời thánh hiến và tu hội hoạt động tông đồ chắc chắn có một nhiệm vụ đặc biệt để cổ võ sự dấn thân ấy”.131 Những người thánh hiến cần khẩn trương dành nhiều thời giờ hơn để cầu nguyện cho đại kết và làm chứng thật sự cho Tin mừng, ngõ hầu sức mạnh Thánh thần phá đổ các bức tường chia rẽ và thành kiến. Không một Tu hội nào được phép miễn trừ khỏi việc tham gia vào đại nghĩa nầy.

Đề cập đến các hình thức khác nhau của đối thoại đại kết, Tông huấn Đời sống thánh hiến chỉ cho thấy sự tham gia vào việc đọc Lời Chúa (lectio divina) và cầu nguyện chung, nơi đó Chúa bảo đảm sự hiện diện của Người (x. Mt 18,20), luôn luôn là cách thức đặc biệt thích hợp với các cộng đoàn tu trì. Tình bằng hữu, bác ái và cộng tác trong những sáng kiến chung để phục vụ và làm chứng sẽ làm cho các tu sĩ cảm thấy thích thú biết bao khi sống chung với nhau (x. Ps 133 [132]). Việc hiểu biết lịch sử, giáo thuyết, phụng vụ và những hoạt động bác ái tông đồ của các Giáo hội ki-tô khác cũng không kém quan trọng. 132

42. Tông huấn Đời sống Thánh hiến đưa ra hai điều kiện thiết yếu cho việc đối thoại liên tôn: chứng tá của Tin mừng và sự tự do của tinh thần. Tông huấn cũng đề nghị một vài phương tiện đặc biệt như hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau, tình bạn thiết tha và sự chân thành hỗ tương đối với các cộng đoàn tu trì của các tôn giáo khác. 133

Một phạm vi hợp tác khác được thực hiện khi cùng nhau quan tâm đến đời sống con người, từ việc tỏ lòng thương cảm đối với những ai đau khổ về mặt thể lý cũng như tinh thần, cho đến việc cùng nhau dấn thân vì hoà bình, công lý và bảo toàn tạo thành. 134 Đức Gio-an Phao-lô nhắc lại cho chúng ta một lãnh vực để cộng tác hữu hiệu với các truyền thống tôn giáo khác là nghiên cứu và thăng tiến phẩm giá người phụ nữ, trong đó những người phụ nữ thánh hiến được mời gọi đóng góp một cách đặc biệt. 135

43. Cuối cùng, cần phải nhớ đối thoại với những người không tuyên xưng một xác tín nào đặc biệt. Những người thánh hiến, nhờ chính bản chất của chọn lựa của họ, trở nên những đối tác đặc biệt trong công cuộc tìm kiếm Thiên Chúa, là Đấng hằng lay động con tim con người và đưa đến các hình thái khác nhau của khổ chế và linh đạo. Sự nhạy cảm đối với các giá trị (x. Pl 4,8) và việc sẵn sàng gặp gỡ của họ làm chứng cho các đặc điểm của việc chân thành tìm kiếm Thiên Chúa. Văn kiện kết luận: “Vì lý do đó, những người thánh hiến có bổn phận niềm nở đón tiếp và nâng đỡ tinh thần những người khao khát Thiên Chúa và ước muốn sống những đòi hỏi của đức tin, khi họ tìm đến “136

44. Việc đối thoại ấy cần phải đưa đến việc loan báo Đức Ki-tô. Trong hiệp thông có sự trao ban hỗ tương. Chân thành lắng nghe người khác là cơ hội thích hợp để chia sẻ các kinh nghiêm thiêng liêng của bản thân và nội dung Tin mừng đã nuôi dưỡng đời sống thánh hiến. Như thế, chúng ta làm chứng cho niềm hy vọng chất chứa trong lòng chúng ta (x. 1 Pr 3,15). Chúng ta đừng e ngại rằng việc nói về đức tin của ta có thể xúc phạm đến những người theo một niềm tin khác. Trái lại, đó là cơ hội để hân hoan loan báo về ân huệ dành sẵn cho mọi người và được trao ban cho mọi người mà vẫn hết sức tôn trọng tự do mỗi người, ân huệ đó là măỉc khải về Thiên Chúa, Đấng “yêu thương thế gian đến nỗi đã trao ban chính Con Một (Ga 3,16).

Đàng khác, nghĩa vụ truyền giáo không ngăn cản chúng ta đi vào cuộc đối thoại với những người khác trong tư thế sẵn sàng lắng nghe, vì trong những tài nguyên và hạn chế của mỗi nền văn hoá, những người thánh hiến có thể thu lượm được những hạt giống của Lời Chúa, nơi đó họ bắt gặp các giá trị cao quýù giúp ích cho đời sống và sứ vụ của họ. “Thánh Thần Thiên Chúa là 'Đấng muốn thổi đâu thì thổi' (Ga 3,8) thường biểu lộ các dấu chỉ sự diện của Người để giúp các môn đệ Đức Ki-tô thấu hiểu sâu sắc hơn sứ điệp họ loan báo”.137

NHỮNG THÁCH ĐỐ HẰNG NGÀY

45. Không thể giữ thái độ bàng quang trước viễn cảnh của một cuộc khủng hoảng sinh thái, khiến cho những vùng đất rộng lớn trên hành tinh trở nên cằn cỗi và thù nghịch với nhân loại. Những nước giàu đang tiêu thụ các nguồn tài nguyên với một tốc độ không thể duy trì sự quân bình sinh thái và vì vậy mà các nước nghèo càng trở nên nghèo hơn. Người ta cũng không thể xem thường những vấn đề hoà bình thường xuyên bị bóng ma của những cuộc chiến tàn khốc đe dọa. 138

Chỉ có thể chế ngự lòng tham, sự thèm muốn khoái lạc, việc sùng bái quyền lực, là ba thứ dục vọng không những đã để lại dấu ấn trong lịch sử, mà còn là gốc rễ của của những điều ác hại hiện nay, nếu các giá trị Tin Mừng như nghèo khó, khiết tịnh và phục vụ được tái khám phá. 139 Những người thánh hiến phải biết công bố bằng đời sống và lời nói nét đẹp của tinh thần nghèo khó và tâm hồn khiết tịnh khiến người ta thanh thản phục vụ anh chị em cũng như nét đẹp của vâng phục vốn làm cho hoa trái của bác ái được trường tồn.

Làm sao chúng ta có thể giữ thái độ thụ động khi đối diện với những xúc phạm đến quyền cơ bản của con người? 140 Phải có một sự dấn thân đặc biệt với một vài khía cạnh triệt để của Tin Mừng, vốn thường ít được nhận thức, nhưng không phải vì thế mà kém phần quan trọng trong kế hoạch bác ái của Giáo hội. Khía cạnh đầu tiên là tôn trọng sự sống của con người từ khi thụ thai cho đến khi chết.

Trong sự cởi mở này với thế giới, vốn phải quy hướng về Đức Ki-tô sao cho mọi thực tại tìm thấy ý nghĩa đích thật trong Người, những người thánh hiến giáo dân trong các Tu hội nắm giữ vị trí ưu tiên. Được chia sẻ các điều kiện sống công cộng, họ hoạt đôỉng rất hiệu quả cho Nước Thiên Chúa, khi tham gia vào các thực tại xã hội và chính trị để đem lại cho chúng một giá trị mới trong tư cách là những người đi theo Chúa Kitô. Chính vì họ sống đời thánh hiến mà không có bất cứ dấu hiệu nào bên ngoài, như giáo dân giữa các giáo dân, nên họ có thể làm muối và ánh sáng trong những hoàn cảnh mà dấu hiệu khả thị của sự thánh hiến không được chấp nhận hoặc gây nên trở ngại.

NHÌN VỀ PHÍA TRƯỚC VÀ XA HƠN

46. Là “những lính canh buổi hừng đông”, các người trẻ nam nữ cũng có mặt trong số những người thánh hiến. 141 Chúng ta thật sự cần những người trẻ can đảm, tự nguyện để Thiên Chúa biến đổi dưới tác động của Thánh Thần và trở nên “đồng hình đồng dạng với Đức Kitô”, 142 trao ban cho mọi người một chứng tá vui tươi và trong sáng về “việc đón nhận Mầu Nhiệm Chúa Ki-tô cách đặc biệt” 143 cũng như linh đạo đặc thù của Tu hội. 144

Vì vậy, ước gì họ được nhìn nhận dứt khoát là những tác nhân chính trong việc huấn luyện bản thân. 145 Bởi vì chính họ là những người sẽ phải đổi mới Tu hội để duy trì hậu duệ, nên quả là thích hợp việc họ dần dần đảm nhận các nhiệm vụ chỉ đạo và quản trị sau khi đã được chuẩn bị thích đáng. Được vững mạnh nhờ ánh sáng của lý tưởng, họ trở nên những nhân chứng đích thực của nỗ lực nên thánh, chuẩn mực cao của đời sống Kitô hữu. 146 Tương lai của đời sống thánh hiến và sứ vụ phần lớn hệ tại ở sức mạnh của đức tin, các thái độ mà họ hân hoan biểu lộ và những gì Thánh Khí muốn nói với họ.

Chúng ta hãy nhìn lên Mẹ Maria, Thầy dạy và Mẹ mọi người. Là người thánh hiến đầu tiên, Mẹ đã thực thi đức ái viên mãn. Nhiệt thành trong Thánh Thần, Mẹ phụng sự Chúa, hân hoan trong hi vọng, mạnh mẽ trong thử thách, bền bỉ trong cầu nguyện: Mẹ hằng bầu cử cho chúng ta. Mẹ phản ánh tất cả các khía cạnh trong Tin Mừng. Mọi đoàn sủng của đời sống thánh hiến được phản chiếu và phục hồi nơi Mẹ. Mẹ nâng đỡ chúng ta trong việc thực hiện những cam kết hàng ngày, bằng cách biến các lời cam kết ấy trở thành chứng tá của tình yêu phù hợp với lời mời gọi của Thánh Phao-lô: “Anh em hãy sống cho xứng với ơn kêu gọi mà Thiên Chúa đã ban cho anh em” (Ep 4,1).

Để củng cố các định hướng này, chúng ta hãy nghe lại những lời của Đức Gio-an Phao-lô II một lần nữa, bởi vì qua đó chúng ta nhận được sự khuyến khích và sự tin tưởng mà tất cả chúng ta cần đến để đối mặt với những nhiệm vụ dường như vượt quá khả năng chúng ta: “Một thế kỷ mới, một thiên niên kỷ mới đang mở ra dưới ánh sáng của Đức Ki-tô. Nhưng không phải mọi người đều thấy được ánh sáng này. Nhiệm vụ phi thường và cấp bách của chúng ta là “phản chiếu” ánh sáng đó… Đó là một nhiệm vụ dễ làm ta thối chí, nếu chúng ta băn khoăn về sự yếu kém của con người chúng ta, vốn thường làm cho chúng ta trở nên mờ đục và tràn ngập bóng tối. Tuy nhiên, chúng ta có thể chu toàn nhiệm vụ ấy được nếu chúng ta quay về với ánh sáng của Đức Kitô và mở rộng tâm hồn để đón nhận ân huệâ biến đổi chúng ta thành tạo vật mới”. 147 Đó là niềm hi vọng được những người thánh hiến nam nữ loan báo trong Giáo Hội, khi cùng với anh chị em mình, suốt bao thế kỷ, họ đi gặp Đức Ki-tô Phục sinh.

Vào ngày 16 thánh 5 năm 2002 đức Thánh cha đã phê chuẩn Tài liệu này của Thánh Bộ Đời sống Thánh hiến và Hiệp hội Tông đồ.

>Rôma, ngày 19 tháng 5 năm 2002, Lễ Hiện xuống.

Eduardo Card. Martínez Somalo
Tổng Trưởng
Piergiorgio Silvano Nesti, CP
Thư Ký

CHÚ THÍCH
1 X. Đức Gio-an Phao-lô II, Tông huấn hậu Thượng hội đồng Vita Consecrata, Rô-ma, 25/3/1996, 14.
2 Đức Gio-an Phao-lô II, Tông thư Novo Millennio Ineunte, 6/1/2001, 9.
3 Đức Gio-an Phao-lô II, Nói với Caritas Ý (24/11/2001): L'Osservatore Romano, 25/11/2001, n.4.
4 Đức Gio-an Phao-lô II, Sứ điệp gởi phiên họp khoáng đại của Thánh Bộ Đời sống Thánh hiến và Hiệp hội Tông đồ (21/9/2001): L'Osservatore Romano, 289/2001.
5 Ibid.
6 X. Ad Gentes, 11.
7 X. Lumen Gentium, 1.
8 Vita Consecrata, 19.
9 X. Novo Millennio Ineunte, 29.
10 Vita Consecrata, 4.
11 X. Novo Millennio Ineunte, 29.
12 X. Novo Millennio Ineunte, 30-31.
13 X. Novo Millennio Ineunte, 32-34, 35-39.
14 X. Novo Millennio Ineunte, 35-37.
15 X. Novo Millennio Ineunte, 43-44.
16 X. Novo Millennio Ineunte, 49, 57.
17 Vita Consecrata, 111.
18 X. Vita Consecrata, 16.
19 X. Lumen Gentium, 44.
20 Vita Consecrata, 22.
21 X. Vita Consecrata, 87.
22 X. Lumen Gentium, 13; Đức Gio-an Phao-lô II, Tông huấn Christifideles Laici, 30/12/1988, 20; Vita Consecrata, 31.
23 X. Novo Millennio Ineunte, 29.
24 X. Novo Millennio Ineunte, 45.
25 X. Vita Consecrata, 32.
26 Vita Consecrata, 31.
27 X. Vita Consecrata, 28, 94.
28 Vita Consecrata, 85.
29 X. Novo Millennio Ineunte, 38.
30 X. Novo Millennio Ineunte, 33.
31 X. Vita Consecrata, 103.
32 X. Vita Consecrata, 72.
33 X. Novo Millennio Ineunte, 2.
34 Vita Consecrata, 58.
35 X. Evangelii Nuntiandi, 69; x. Novo Millennio Ineunte, 7.
36 X. Vita Consecrata, 99.
37 Thánh Bộ Đời sống Thánh hiến và Hiệp hội Tông đồ, Verbi Sponsa, Huấn thị cho Đời sống chiêm ngưỡng và các nữ tu dòng kín, Vatican City, 13/5/1999, 7.
38 Ibid.; x. Perfectae Caritatis, 7; x. Vita Consecrata, 8, 59.
39 St. Augustine, Sermo 331, 2: PL 38, 1460.
40 X. Novo Millennio Ineunte, 49.
41 X. Novo Millennio Ineunte, 25-26.
42 X. Vita Consecrata, 110.
43 X. Lumen Gentium, ChapterV.
44 Lumen Gentium, 42.
45 Vita Consecrata, 31; x. Novo Millennio Ineunte, 46.
46 X. Thánh Bộ Đời sống Thánh hiến và Hiệp hội Tông đồ, Đời sống huynh đệ trong cộng đoàn, “Congregavit nos in unum Christi amor”, Rô-ma, 2/2/1994, 50.
47 X. Vita Consecrata, 92.
48 X. Novo Millennio Ineunte, 45.
49 X. Thánh Bộ Đời sống Thánh hiến và Hiệp hội Tông đồ, Chỉ dẫn về huấn luyện trong các Tu hội, Potissimum Institutioni, Rô-ma, 2/2/1990, 1.
50 Vita Consecrata, 65.
51 Vita Consecrata, 66.
52 X. Christifideles Laici, 55.
53 X. Đức Gio-an Phao-lô II, Bài giảng trong buổi canh thức Torvergata (20/8/2000): L'Osservatore Romano, 21-22 8/2000, n.3, p.4.
54 X. Vita Consecrata, 1.
55 X. Vita Consecrata, 65.
56 Vita Consecrata, 37.
57 Novo Millennio Ineunte, 40.
58 X. Novo Millennio Ineunte, 1.
59 Đức Gio-an Phao-lô II, Bài giảng (2/2/2001): L'Osservatore Romano, 4 2/2001, p.4.
60 X. Mutuae Relationes, 11; Vita Consecrata, 37.
61 Vita Consecrata, 93.
62 X. Novo Millennio Ineunte, 31.
63 X. Vita Consecrata, 20-21.
64 X. Novo Millennio Ineunte, 38.
65 Vita Consecrata, 22.
66 Vita Consecrata, 16.
67 Vita Consecrata, 18.
68 Vita Consecrata, 25.
69 Vita Consecrata, 40.
70 Novo Millennio Ineunte, 16.
71 Vita Consecrata, 94.
72 Novo Millennio Ineunte, 39.
73 X. Perfectae Caritatis, 2.
74 Đức Gio-an Phao-lô II, Bài giảng (2/2/2001): L'Osservatore Romano, 4 2/2001.
75 Vita Consecrata, 37.
76 Novo Millennio Ineunte, 40.
77 Đức Gio-an Phao-lô II, Bài giảng (2/2/2001): L'Osservatore Romano, 4 2/2001.
78 Novo Millennio Ineunte, 43.
79 Đức Gio-an Phao-lô II, Bài giảng (2/2/2001): L'Osservatore Romano, 4 2/2001.
80 Vita Consecrata, 95.
81 X. Vita Consecrata, 18.
82 Vita Consecrata, 95.
83 X. Vita Consecrata, 51.
84 X. Novo Millennio Ineunte, 25-27.
85 X. Vita Consecrata, 23.
86 Vita Consecrata, 38.
87 Novo Millennio Ineunte, 25.
88 X. Novo Millennio Ineunte, 37.
89 Vita Consecrata, 93.
90 Novo Millennio Ineunte, 43.
91 Vita Consecrata, 46.
92 Vita Consecrata, 51.
93 X. Novo Millennio Ineunte, 43.
94 Vita Consecrata, 51.
95 Novo Millennio Ineunte, 46.
96 Vita Consecrata, 62.
97 X. Đời sống huynh đệ trong cộng đoàn, 62; x. Vita Consecrata, 56.
98 X. Novo Millennio Ineunte, 45.
99 X. Fraternal Life in Community, 70.
100 X. Vita Consecrata, 54.
101 X. Lumen Gentium, 12; Vita Consecrata, 46.
102 Vita Consecrata, 46.
103 X. Vita Consecrata, 98.
104 Đức Gio-an Phao-lô II, Các phong trào trong Giáo hội, Acts of the II International Colloquium, Milan 1987, pp.24-25; Các phong trào trong Giáo hội, Vatican City 1999, p.18.
105 X. Novo Millennio Ineunte, 50.
106 Christifideles Laici, 31-32.
107 X. Vita Consecrata, 46.
108 X. Đức Gio-an Phao-lô II, Tông huấn Giáo hội tại Phi Châu, Yaoundé, 14/9/1995, 94.
109 Novo Millennio Ineunte, 40.
110 X. Novo Millennio Ineunte, 15.
111 Vita Consecrata, 76.
112 Novo Millennio Ineunte, 49.
113 X. Vita Consecrata, 82.
114 Novo Millennio Ineunte, 49.
115 Novo Millennio Ineunte, 50.
116X. Novo Millennio Ineunte, 50.
117 Đức Gio-an Phao-lô II, Bài giảng (2/2/2001): L'Osservatore Romano, 4 2/2001.
118 X. Vita Consecrata, 84.
119 X. Vita Consecrata, Title of Chapter III.
120 X. Novo Millennio Ineunte, 50.
121 X. Novo Millennio Ineunte, 58.
122 X. Đức Gio-an Phao-lô II, Thông điệp Redemptoris Missio, Rô-ma, 7/12/1990, 1.
123 X. Đức Gio-an Phao-lô II, Tông huấn Giáo hội tại Á Châu, New Delhi, 6/11/1999, 22.
124 X. Novo Millennio Ineunte, 40.
125 X. Vita Consecrata, 83.
126 X. Novo Millennio Ineunte, 51.
127 X. Novo Millennio Ineunte, 23.
128 X. Vita Consecrata, 96.
129 X. Vita Consecrata, 98.
130 X. Vita Consecrata, 99.
131 Vita Consecrata, 100.
132 X. Vita Consecrata, 101.
133 X. Ecclesia in Asia, 31, 34.
134 X. The Church in Asia, 44.
135 X. Vita Consecrata, 102.
136 X. Vita Consecrata, 103.
137 Novo Millennio Ineunte, 56.
138 X. Novo Millennio Ineunte, 51.
139 X. Vita Consecrata, 88-91.
140 X. Novo Millennio Ineunte, 51.
141 X. Novo Millennio Ineunte, 9.
142 Vita Consecrata, 19.
143 Vita Consecrata, 16.
144 X. Vita Consecrata, 93.
145 X. Thánh Bộ Đời sống thánh hiến và Hiệp hội Tông đồ, Potissimum Institutioni, Rô-ma, 2/2/1990, 29.
146 X. Novo Millennio Ineunte, 31.
147 X. Novo Millennio Ineunte, 54.