Tiểu sử biên niên của Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. (tiếp theo)
29 tháng 12 năm 1966:
Khi Ủy Ban Giám Mục và Tông Ðồ Giáo Dân được thành lập, Ðức Tổng Giám Mục Karol Wojtyla được bầu vào chức chủ tịch.
28 tháng 6 năm 1967.
Ngài được Ðức Phaolô VI thăng chức Hồng Y tại nguyện đường Sistine.
28 tháng 2 năm 1969.
Ngài đi thăm giáo xứ Thân Thể Chúa, nhân dịp này Ngài viếng thăm Công Ðồng Do Thái và thăm Hội Ðường Do Thái Giáo ở khu Kazimierz tạiKraków.
3-8 tháng 3 năm 1975
Lần đầu tiên Ngài tham dự Thượng Hội Ðồng Giám Mục Thế Giới
11-12 tháng 8 năm 1978
Ngài có mặt trong đám tang Ðức Phaolô VI ở Roma.
26 tháng 8 năm 1978
Hồng Y Albino Luciani được bầu làm Giáo Hoàng và lấy danh hiệu là Gioan Phaolô I.
3-4 tháng 10 năm 1978
Ngài rời Ba Lan đi tham dự đám tang ÐGH Gioan Phaolô I. Vị Giáo Hoàng này tại vị 34 ngày và mất vị bệnh đau tim
16 tháng 10 năm 1978
Hồng Y Karol Wojtyla, Tổng Giám Mục Kraków, Ba Lan được bầu làm Giáo Hoàng thứ 264 lúc 5 giờ 15 chiều. Ngài là người thứ 263 kế vị thánh Phêrô cai quản Hội Thánh Công Giáo. Ngài cũng là người Ba Lan đầu tiên, và không phải là người Ý Ðại Lợi, được bầu làm Giáo Hoàng trong 455 năm. Lúc được bầu làm Giáo Hoàng, Ngài mới có 58 tuổi, là vị Giáo Hoàng trẻ trung nhất trong 132 năm. 6 ngày sau đó, Ngài chính thức lên ngôi Giáo Hoàng và nhận danh hiệu là Gioan Phaolô II.
1 tháng 2 năm 1979.
Là Giáo Hoàng, Ngài thực hiện chuyến tông du đầu tiên đến các nước Nam Mỹ là Cộng Hòa Dominican, Bahamas, và Mễ Tây Cơ. Ðồng thời Ngài tham dự phiên họp Thượng Hội Ðồng Giám Mục các nước Mỹ Châu Latin.Trong phiên họp này, ÐGH đã ban huấn từ về nền thần học giải phóng mà Giáo Hội Công Giáo trong vùng này đang phải đối diện.
2 tháng 6 năm 1979.
Sau khi nhận chức Giáo Hoàng được 8 tháng, lần đầu tiên Ngài trở về cố hương Ba Lan và ở lại trong 9 ngày. Ðiểm đặc biệt đáng ghi nhớ là chính những ngày này ÐGH đã hỗ trợ việc thành lập Công Ðoàn Ðoàn kết, một tổ chức công đoàn độc lập trong khối cộng sản Sô Viết cũ.Công đoàn này đã góp phần vào việc làm sụp đổ chế độ cộng sản ở Ba Lan và toàn khu Ðông Âu
Mùa thu năm 1979.
Ngài thực hiện chuyến tông du tới Ái Nhĩ Lan. Tai đây 1,200,000 người đã tham dự thánh lễ do Ngài cử hành. Ðây là con số giáo dân lớn nhất chưa từng có tham dự một thánh lễ.
4 tháng 4 năm 1980
Tại đại Giáo Ðường Thánh Phêrô, lần đầu tiên một vị Giáo Hoàng ngồi giải tội cho giáo hữu trong ngày Thứ Sáu Tuần Thánh.
13 tháng 5 năm 1981
Lúc 5 giờ 19 một thanh niên người Thổ Nhĩ Kỳ tên là Mehmet Alì Agca dùng súng bắn Ngài và bụng và tay trong lúc Ngài đi quanh trong quảng trường Thánh Phêrô. Ngài bị thương nặng, được đưa và bệnh viện Gemelli và trải qua cuộc giải phẫu trong 6 tiếng đồng hồ. Ngài phải ở laị trong bệnh viện này trong 20 ngày.
Hung thủ bắn Ngài là Agca đầu tiên khai rằng anh bắn ÐGH theo lệnh của Sở Tình Báo Bulgaria có liên hệ mật thiết với cơ quan tình báo KGB của Nga. Tuy nhiên về sau anh lại rút lại một phần câu chuyện này.
17 tháng 5 năm 1981
Ðức Giáo Hoàng đọc kinh truyền tin tại bệnh viện Gemelli. Ngài nói: Xin mọi người hãy cầu nguyện cho người anh em đã bắn tôi, tôi thực tâm tha thứ cho anh.
20 tháng 6 năm 1981
Ðức Giáo Hoàng nhập bệnh viện vì vết thương bị bắn nhiễm trùng.
5 tháng 8 năm 1981.
Ngài đươc giải phẫu vết thương và nằm trong bệnh viện 9 ngày.
13 tháng 5 năm 1983
Ðang lúc thăm nơi Ðức Mẹ hiện ra ở Fatima, Bồ Ðào Nha, Ngài bị một người Tây Ban Nha cầm kiếm đâm chém. Ngài thoát hiểm. Vụ này xảy ra đúng một năm sau vụ người Thổ Nhĩ Kỳ bắn Ngài. Ngài tạ ơn Ðức Mẹ đã cứu chữa mạng sống mình.
15 tháng 9 năm 1982.
Ngài tiếp lãnh tụ Mặt Trận Giải Phóng Palestine là ông Yasser Arrafat tại điện Vatican. Vụ này làm cho Israel và các nhóm Do Thái chỉ trích Ngài.
27 tháng 12 năm 1983.
Sau lễ Giáng Sinh, Ngài vào nhà tù Rebibbia để thăm anh Alì Agca, một người Thổ Nhĩ Kỳ mà đã định sát hại Ngài vào ngày 13 tháng 5 năm 1981. Ngài xin chính phủ Ý tha thứ cho anh và thả anh về Thổ Nhĩ Kỳ.
1986.
Ngài là vị Giáo Hoàng đầu tiên thăm Hội Ðường Do Thái Giáo. Trong lúc viếng thăm tại đây, Ngài đã chính thức lên án việc tàn sát người Do Thái trong quá khứ.
Còn tiếp.
29 tháng 12 năm 1966:
Khi Ủy Ban Giám Mục và Tông Ðồ Giáo Dân được thành lập, Ðức Tổng Giám Mục Karol Wojtyla được bầu vào chức chủ tịch.
28 tháng 6 năm 1967.
Ngài được Ðức Phaolô VI thăng chức Hồng Y tại nguyện đường Sistine.
28 tháng 2 năm 1969.
Ngài đi thăm giáo xứ Thân Thể Chúa, nhân dịp này Ngài viếng thăm Công Ðồng Do Thái và thăm Hội Ðường Do Thái Giáo ở khu Kazimierz tạiKraków.
3-8 tháng 3 năm 1975
Lần đầu tiên Ngài tham dự Thượng Hội Ðồng Giám Mục Thế Giới11-12 tháng 8 năm 1978
Ngài có mặt trong đám tang Ðức Phaolô VI ở Roma.
26 tháng 8 năm 1978
Hồng Y Albino Luciani được bầu làm Giáo Hoàng và lấy danh hiệu là Gioan Phaolô I.
3-4 tháng 10 năm 1978
Ngài rời Ba Lan đi tham dự đám tang ÐGH Gioan Phaolô I. Vị Giáo Hoàng này tại vị 34 ngày và mất vị bệnh đau tim
16 tháng 10 năm 1978
Hồng Y Karol Wojtyla, Tổng Giám Mục Kraków, Ba Lan được bầu làm Giáo Hoàng thứ 264 lúc 5 giờ 15 chiều. Ngài là người thứ 263 kế vị thánh Phêrô cai quản Hội Thánh Công Giáo. Ngài cũng là người Ba Lan đầu tiên, và không phải là người Ý Ðại Lợi, được bầu làm Giáo Hoàng trong 455 năm. Lúc được bầu làm Giáo Hoàng, Ngài mới có 58 tuổi, là vị Giáo Hoàng trẻ trung nhất trong 132 năm. 6 ngày sau đó, Ngài chính thức lên ngôi Giáo Hoàng và nhận danh hiệu là Gioan Phaolô II.
1 tháng 2 năm 1979.
Là Giáo Hoàng, Ngài thực hiện chuyến tông du đầu tiên đến các nước Nam Mỹ là Cộng Hòa Dominican, Bahamas, và Mễ Tây Cơ. Ðồng thời Ngài tham dự phiên họp Thượng Hội Ðồng Giám Mục các nước Mỹ Châu Latin.Trong phiên họp này, ÐGH đã ban huấn từ về nền thần học giải phóng mà Giáo Hội Công Giáo trong vùng này đang phải đối diện.
2 tháng 6 năm 1979.
Sau khi nhận chức Giáo Hoàng được 8 tháng, lần đầu tiên Ngài trở về cố hương Ba Lan và ở lại trong 9 ngày. Ðiểm đặc biệt đáng ghi nhớ là chính những ngày này ÐGH đã hỗ trợ việc thành lập Công Ðoàn Ðoàn kết, một tổ chức công đoàn độc lập trong khối cộng sản Sô Viết cũ.Công đoàn này đã góp phần vào việc làm sụp đổ chế độ cộng sản ở Ba Lan và toàn khu Ðông Âu
Mùa thu năm 1979.
Ngài thực hiện chuyến tông du tới Ái Nhĩ Lan. Tai đây 1,200,000 người đã tham dự thánh lễ do Ngài cử hành. Ðây là con số giáo dân lớn nhất chưa từng có tham dự một thánh lễ.
4 tháng 4 năm 1980
Tại đại Giáo Ðường Thánh Phêrô, lần đầu tiên một vị Giáo Hoàng ngồi giải tội cho giáo hữu trong ngày Thứ Sáu Tuần Thánh.
13 tháng 5 năm 1981
Lúc 5 giờ 19 một thanh niên người Thổ Nhĩ Kỳ tên là Mehmet Alì Agca dùng súng bắn Ngài và bụng và tay trong lúc Ngài đi quanh trong quảng trường Thánh Phêrô. Ngài bị thương nặng, được đưa và bệnh viện Gemelli và trải qua cuộc giải phẫu trong 6 tiếng đồng hồ. Ngài phải ở laị trong bệnh viện này trong 20 ngày.
Hung thủ bắn Ngài là Agca đầu tiên khai rằng anh bắn ÐGH theo lệnh của Sở Tình Báo Bulgaria có liên hệ mật thiết với cơ quan tình báo KGB của Nga. Tuy nhiên về sau anh lại rút lại một phần câu chuyện này.
17 tháng 5 năm 1981
Ðức Giáo Hoàng đọc kinh truyền tin tại bệnh viện Gemelli. Ngài nói: Xin mọi người hãy cầu nguyện cho người anh em đã bắn tôi, tôi thực tâm tha thứ cho anh.
20 tháng 6 năm 1981
Ðức Giáo Hoàng nhập bệnh viện vì vết thương bị bắn nhiễm trùng.
5 tháng 8 năm 1981.
Ngài đươc giải phẫu vết thương và nằm trong bệnh viện 9 ngày.
13 tháng 5 năm 1983
Ðang lúc thăm nơi Ðức Mẹ hiện ra ở Fatima, Bồ Ðào Nha, Ngài bị một người Tây Ban Nha cầm kiếm đâm chém. Ngài thoát hiểm. Vụ này xảy ra đúng một năm sau vụ người Thổ Nhĩ Kỳ bắn Ngài. Ngài tạ ơn Ðức Mẹ đã cứu chữa mạng sống mình.
15 tháng 9 năm 1982.
Ngài tiếp lãnh tụ Mặt Trận Giải Phóng Palestine là ông Yasser Arrafat tại điện Vatican. Vụ này làm cho Israel và các nhóm Do Thái chỉ trích Ngài.
27 tháng 12 năm 1983.
Sau lễ Giáng Sinh, Ngài vào nhà tù Rebibbia để thăm anh Alì Agca, một người Thổ Nhĩ Kỳ mà đã định sát hại Ngài vào ngày 13 tháng 5 năm 1981. Ngài xin chính phủ Ý tha thứ cho anh và thả anh về Thổ Nhĩ Kỳ.
1986.
Ngài là vị Giáo Hoàng đầu tiên thăm Hội Ðường Do Thái Giáo. Trong lúc viếng thăm tại đây, Ngài đã chính thức lên án việc tàn sát người Do Thái trong quá khứ.
Còn tiếp.