1.- Hôm nay tâm tư tôi hồi tưởng về chuyến đi thứ tám về lại mảnh đất chôn nhau cắt rốn của mình, một chuyến đi được Chúa Quan Phòng an bài cho tôi thực hiện một cách rất hạnh phúc trong mấy ngày vừa qua.
Tôi lặp lại lòng biết ơn của tôi với tổng thống Cộng Hòa Ba Lan, Thủ Tướng, các cấp thẩm quyền dân sự và quân sự của quốc gia cũng như của thành phố Krakovia, đã bảo đảm cho chuyến đi được an bình. Ý nghĩ trìu mến của tôi xin hướng về Đức Hồng Y Giáo Chủ Jozef Glemp, đến Đức Tổng Giám Mục tổng giáo phận Krakovia - Đức Hồng Y Franciszek Macharski, đến toàn thể Hội Đồng Giám Mục, các linh mục, tu sĩ và những ai đã chuẩn bị cho biến cố tôn giáo quan trọng này, và tất cả những ai đã tham gia với đức tin và lòng nhiệt thành.
Trên hết, tôi muốn gởi lời chân thành biết ơn tới đồng bào yêu dấu, những người đã đón tiếp tôi với con số đông đảo và với cảm tình nồng nhiệt tham gia thật sốt sắng. Cuộc viếng thăm chỉ liên hệ đến một giáo phận, nhưng trong tinh thần, tôi ôm ấp toàn thể Ba Lan, mà tôi khích lệ hãy tiếp tục các nỗ lực để xây đắp tiến bộ xã hội thật sự trong khi không quên gìn giữ căn tính Kitô Giáo của mình.
2.- Thiên Chúa giầu lòng thương xót (Eph 2:4). Những lời này thường vang vọng suốt chuyến tông du của Tôi. Thật vậy, mục đích chính của cuộc viếng thăm này chính là để loan báo một lần nữa Thiên Chúa giầu lòng xót thương, nhất là qua việc cung hiến Đền Thánh Chúa Từ Bi mới xây ở Lagiewniki. Ngôi đền thờ mới này sẽ là trung tâm chiếu tỏa ánh sáng khắp thế giới ngọn lửa tình thương của Thiên Chúa, theo như những gì Chúa Giêsu đã muốn tỏ ra cho Thánh Nữ Faustina Kowalska, vị tông đồ của Lòng Thương Xót Chúa.
Lạy Chúa Giêsu, con phó dâng nơi Chúa!. Đây là lời cầu nguyện đơn sơ Thánh Nữ Faustina đã dạy chúng ta và là lời cầu nguyện chúng ta có thể lập lại trên môi miệng của mình mọi lúc trong cuộc sống. Biết bao nhiêu lần, với tư cách là một công nhân lao động và sinh viên, và sau đó trong vai trò một linh mục và giám mục, trong những giai đoạn khó khăn của lịch sử Ba Lan, Tôi cũng đã lập lại lời kêu cầu đơn sơ mà sâu xa này, và đã cảm nghiệm được tác dụng và hiệu năng của nó.
Tình thương là một trong những nét tuyệt đẹp của Đấng Tạo Hóa và của Đấng Cứu Chuộc, và Giáo Hội hiện hữu là để dẫn con người đến nguồn mạch khôn cùng này, một nguồn mạch mà chính Giáo Hội là nơi chất chứa và ban phát. Đó là lý do tại sao tôi đã muốn ký thác quê hương của mình, Giáo Hội và toàn thể nhân loại cho Lòng Thương Xót Chúa.
3.- Tình yêu nhân hậu của Thiên Chúa hướng lòng con người đến những hành vi bác ái cụ thể đối với tha nhân. Điều này đã xẩy ra đúng như thế nơi Đức Tổng Giám Mục Zygmunt Szczesny Felinski, cha Jan Beyzym, nữ tu Sancja Szymkowiak, và Don Jan Balicki, những vị tôi đã hân hoan phong chân phước trong Thánh Lễ ở công viên Blonia tại Krakovia hôm Chúa Nhật vừa qua.
Tôi muốn nêu cao trước người Kitô giáo những vị tân chân phước này, để gương sáng và lời nói của các vị là một kích thích và một niềm khích lệ chúng ta làm chứng qua những việc làm cụ thể cho tình yêu nhân hậu của Chúa Giêsu, Đấng chiến thắng sự dữ bằng sự lành (x Rm 12:21). Chỉ bằng đường lối này mới có thể xây dựng một nền văn minh yêu thương hằng mong đợi, một thứ văn minh yêu thương mà nhu lực của nó mạnh mẽ chống lại "mầu nhiệm sự dữ" đang hiện diện trên thế giới này. Đối với chúng ta, những môn đệ của Chúa, chúng ta được trao phó cho công việc loan báo và sống mầu nhiệm của Lòng Thương Xót Chúa, một mầu nhiệm làm tái sinh thế giới khi thúc đẩy chúng ta yêu thương anh chị em mình, thậm chí cả kẻ thù của chúng ta nữa. Những vị chân phước này, cùng với các vị thánh khác, là những gương sáng về việc làm thế nào để sức sáng tạo trong đức bác ái mà tôi đã đề cập trong Tông Thư Khởi Đầu Ngàn Năm Mới làm cho chúng ta gần gũi và liên kết với tất cả những ai khổ đau (x số 50), và biến chúng ta thành những nhà kiến trúc của một thế giới được canh tân bởi tình yêu.
4.- Chuyến hành hương đã dẫn đưa tôi đến Kalwaria Zebrzydowska để kỷ niệm 400 năm ngôi đền thánh được cung hiến cho Cuộc Thương Khó của Chúa Giêsu và Đức Mẹ Sầu Bi. Tôi đã gắn bó với nơi thánh này từ khi còn nhỏ. Nhiều lần tôi đã cảm nghiệm được cách thức Mẹ Thiên Chúa, Đức Bà Đầy Ơn Phước, ghé mắt từ ái của Người xuống trên con người đau khổ đang cần đến ơn soi sáng và trợ giúp của Mẹ.
Sau Czestochowa, đền thánh này là một trong những đền thánh nổi tiếng nhất và được viếng thăm nhiều nhất toàn Ba Lan, một đền thánh cũng lôi cuốn được tín hữu của các quốc gia lân cận nữa. Sau khi đã hoàn tất những con Đường Thánh Giá cũng như Đường Thương Khó của Mẹ Thiên Chúa, những người hành hương đứng trước bức tượng cổ kính lạ lùng mang tên Maria Đấng Bầu Cử Chúng Con, Đấng đoái nhìn đến họ bằng đôi mắt trìu mến yêu thương. Bên cạnh Mẹ, ta có thể cảm nhận và đi sâu vào mối liên kết mầu nhiệm giữa Chúa Cứu Chuộc khổ đau trên Canvê và Người Mẹ đồng lao cộng khổ của Người dưới chân thập giá. Trong sự hiệp thông yêu thương trong khổ đau này, chúng ta dễ thấy được nguồn gốc của quyền năng can thiệp từ lời cầu bầu của Đức Trinh Nữ cho chúng ta, những con cái của Mẹ.
Vậy chúng ta hãy xin Đức Mẹ thắp lên tia sáng ân sủng của Thiên Chúa trong các cõi lòng, giúp chúng ta truyền đạt cho thế giới ngọn lửa của Lòng Thương Xót Chúa. Chớ gì Mẹ Maria ban cho tất cả mọi người ơn hiệp nhất và bình an: hiệp nhất đức tin, hiệp nhất tinh thần và tư duy, hiệp nhất các gia đình; bình an trong tâm hồn, bình an cho các dân nước và bình an cho thế giới, trong khi chúng ta đợi chờ Chúa Kitô trở lại trong vinh quang. Sau đó, Đức Thánh Cha đã tóm tắt lại bằng Anh Ngữ
Chuyến tông du của tôi đến Ba Lan vừa qua đã công bố rằng Thiên Chúa thật "giầu lòng thương xót" (Ephêsô 2:4). Tại Lagiewniki, tôi đã cung hiến tân Đền Thờ Kính Lòng Từ Bi Chúa, và nguyện xin rằng từ nơi này, ngọn lửa của lòng Từ Bi Chúa sẽ lan tỏa ra toàn thế giới. Tại công viên Blonia, tôi đã phong Chân Phước cho bốn vị Tôi Tớ Chúa là những chứng nhân sống động của lòng thương xót Chúa Giêsu. Tại Kalwaria Zebrzydowska, tôi đã hồi tưởng tình yêu hiệp nhất Đức Mẹ với những đau khổ cứu chuộc của Con Chí Thánh Người. Qua những lời cầu xin dâng lên Mẹ Maria, xin cho sứ điệp lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa mang đến hiệp nhất và bình an cho thế giới chúng ta, và dẫn đưa mọi người đến chỗ đặt niềm trông cậy vào Chúa Giêsu.
Tôi hân hoan chào mừng những người hành hương Ái Nhĩ Lan thuộc giáo phận Killaloe. Lời chào của tôi cũng hướng đến những người hành hương từ Học Viện Bunri Satoh ở Saitama, Nhật Bản. Tôi thân ái kêu cầu phúc lành của Thiên Chúa và bình an cho mọi người hành hương đến từ Anh, Ái Nhĩ Lan, Nhật và Indonesia. |