Tôi đến như một người hành hương
Kính chào Nữ vương Rất Thánh, Mẹ giàu lòng Thương xót,
là Sự Sống của chúng con, sự ngọt ngào và hy vọng của chúng con!
Anh chị em thân mến,
1. Hôm nay tôi tới Đền thánh này như là một người hành hương, như tôi có thói quen tới đây lúc còn nhỏ và khi đã thành người thanh niên. Tôi đến trước Đức Bà Calvary như tôi thường đến với tư cách Giám mục Krakow để phó thác cho Mẹ những vấn đề của Tổng Giáo phận và của những người Chúa đã giao phó việc chăm sóc mục vụ của tôi. Tôi đến đây và, bây giờ cũng như hồi đó, tôi lập lại: Kính chào, kính chào, Nữ vương Rất thánh, Mẹ giàu lòng thương xót!
Biết bao nhiêu lần tôi đã thấy Mẹ Con Thiên Chúa quay mắt thương xót trên những âu lo của những kẻ phiền muộn, Mẹ xin cho họ được ơn giải quyết những vấn đề khó khăn, và trong lúc họ bất lực, họ hiểu đầy đủ hơn về quyền năng và khôn ngoan lạ lùng của Chúa Quan Phòng ?
Điều này không phải là kinh nghiệm của các thế hệ người hành hương đã đến đây bốn trăm năm qua sao? Đúng vậy. Bằng không thì lễ cử hành hôm nay sẽ không xẩy ra. Các bạn sẽ không có mặt đây, các bạn mến, các bạn là những kẻ đi trên những Đàng Kalwaria, đồ lại những bước chân của sự Thương khó và Thánh giá Chúa Kitô và theo cuộc hành trình thương xót và vinh quang của Mẹ Người. Nơi này giúp cách lạ lùng tâm trí hiểu sâu hơn mầu nhiệm của sự ràn buộc kết hợp Đấng Cúu thế đau khổ với Mẹ đồng đau khổ của Người. Nơi trung tâm mầu nhiệm tình yêu này hết mọi người đến đây đều tái khám phá chính mình, sự sống của mình, sự hiện hữu hằng ngày của mình, sự yếu hèn của mình và, đồng thời, quyền lực đức tin và hy vọng: quyền lực này bắt nguồn từ sự biết chắc Mẹ không bỏ con cái mình trong những giờ phút rắc rối, nhưng đưa chúng đến cùng Con Mẹ và phó thác chúng cho lòng thương xót của Người.
2. Đứng gần thập giá Chúa Giêsu, có thân mẫu Người, chị của bà thân mẫu, bà Maria vợ ông Clopas, cùng với bà Mary Magdalene (Ga 19:25). Bà là Đấng liên kết với Con Thiên Chúa qua giây ràn buộc máu và tình yêu mẫu tử, ở đó, dưới chân Thánh giá, kinh nghiệm sự hợp nhất này trong đau thương . Chỉ một mình Bà, mặc dầu sự đau đớn trong lòng mẹ của bà, biết rằng sự đau khổ này có ý nghĩa. Bà đã tin cậy--tin cậy bất chấp mọi sự-lời hứa xưa được thực hiện: Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà, giữa dòng giống ngươi và dòng giống người ấy; dòng giống ấy sẽ đánh vào đầu mi, và ngươi sẽ cắn vào gót nó (St 3: 15). Và sự tin cậy của Bà được chứng minh là đúng khi người Con hấp hối của bà nói với Ba Này Bà.
Trong lúc này, đứng dưới chân Thánh giá, Bà có thể chờ đợi trong một thời gian ngắn, trong ba ngày, lời hứa của Chúa sẽ thực hiện chăng? Điều này luôn luôn là một bí ẩn của lòng bà. Chúng ta biết có một điều, dầu sao: Bà, là người thứ nhất trong nhân loại, chia sẻ trọn vẹn trong vinh quang của người Con Sống lại của Bà. Bà-- như chúng ta tin và tuyên xưng-- được đưa xác và hồn lên trời hầu kinh nghiệm sự hợp nhất trong vinh quang, vui mừng bên cạnh Con Bà trong những hoa quả của Tình Thương xót Chúa và xin được những hoa quả đó cho những kẻ tìm kiếm ẩn náu trong Bà.
3. Giây ràng buộc mầu nhiệm của tình yêu. Giây đó được diễn tả cách lộng lẩy trong chỗ này. Lịch sử thuật lại rằng lúc khởi đầu thế kỷ 17 Mikolaj Zebrzydowski, người xây cất Đền thánh, đặt nền móng nhà nguyện Golgotha, phải được xây cất theo kiểu Nhà thờ Mộ Thánh tại Jerusalem. Như vậy, ông muốn, trên tất cả những sự khác, đem mầu nhiệm sự thương khó và sự chết của Chúa Kitô tới gần hơn cho mình và cho các kẻ khác.
Dầu sao, sau này khi ông dự định xây những chặng đường Thương khó Chúa, từ Phòng Trên cho tới Mộ Chúa Kitô, được lòng sốt sắng đối với Đức Maria và nhờ Chúa linh hứng, ông muốn đặt dọc theo con đường một loạt những nhà nguyện nhắc tới những biến cố trong cuộc đời Đức Maria.
Và như vậy xuất hiện những con đường khác, cùng với một thực hành mới đạo đức, coi như bổ sung Đàng Thánh giá: việc cử hành của cái gọi là Đàng Thương xót của Mẹ Thiên Chúa. Qua bốn thế kỷ, những thế hệ luôn mới mẻ các người hành hương đã bước đi tại đây trên những vết chân của Chúa Cúu chuộc và của Mẹ Người, hưởng dồi dào từ tình yêu đã chống lại sự đau khổ và sự chết, và đã gặp phần thưởng trong vinh quang thiên đàng.
Trong những thế kỷ này, các người hành hương có luôn các Cha Phanxicô ở bên mình, các cha gọi là Bernadines, lãnh trách nhiệm lo cho sự sống thiêng liêng của Đền thánh Kalwaria. Hôm nay tôi muốn nói lên với quí cha lòng biết ơn của tôi vì lòng yêu mến đặc biệt của quí cha đối với Chúa Kitô chịu đau khổ và đối với Mẹ Người đồng đau khổ: một tình yêu đặc biệt mà với lòng sùng kính sốt mến các cha đỗ vào trong lòng các người hành hương. Thưa quí Cha và quí Sư huynh Bernadine, xin Chúa nhân hậu chúc phúc quí cha và quí sư huynh trong nhiệm vụ này, bây giờ và về sau!
4. Năm 1641 Đền thánh Kalwaria được làm giàu vì một quà tặng đặc biệt. Chúa Quan Phòng đã đưa tới đây ông Stanislaw Paszkowski of Brzezie, ông muốn giao phó các Cha Bernadine giữ hình ảnh Mẹ Chí Thánh, bức ảnh đã có tiếng tăm do các ân sủng liên hệ với bức ảnh khi còn để trong nhà nguyện gia đình của ông. Từ đó tới nay, và cách riêng sau ngày trong năm 1887 khi, với sự phê chuẩn của Giáo hoàng Leo XIII bức ảnh được đặt mũ miệng do Giám mục Krakow, Albin Sas Dunajewski, thì các người hành hương kết thúc cuộc hành hương của mình dưới mắt Mẹ. Lúc đầu, các người hành hương đến đây từ mọi phần đất Ba-lan, nhưng cũng từ Lithuania, Russia, Slovakia, Bohemia, Hungary, Moravia, và Germany. Dân cư Silesia đặc biệt sùng kính Mẹ; chính họ dâng mũ triều thiên cho Chúa Giêsu và từ ngày tôn vương cho tới nay, hằng năm họ tham dự cuộc rước kiệu trong ngày lễ Mộng triệu của Đức Nữ Đồng Trinh Maria Chí Thánh.
Quan trọng là dường nào nơi này trong một nước Poland bị chia cắt nhiều phần ! Giám mục Dunajewski phát biểu hùng hồn điều này khi, trong lễ tôn vương, ngài cầu nguyện: Trong ngày này, Đức Maria được đưa về trời và tôn vương ở đó. Mổi lần kỷ niệm ngày này, tất cả các Thánh đặt triều thiên của mình dưới chân Nữ hoàng của mình; hôm nay dân Ba-lan cũng mang những triều thiên bằng vàng, ngõ hầu qua tay Giám mục của mình những triều thiên đó được đặt trên đầu Đức Maria trong bức ảnh làm phép lạ này. Ôi lạy Mẹ, xin ân thưởng chúng con vì sự này, để chúng con có thể là một trong chính chúng con và là một với Mẹ.
Đó là kinh nài xin cho sự hịêp nhất nước Ba-lam bị chia cắt. Ngày nay, khi Ba-lan đã trở nên một đơn vị lãnh thổ và quốc gia, những lời nói này của ngài không mất chút nào tính thời sự, thật vậy những lời đó có một ý nghĩa mới. Chúng ta cần lập lại những lời nói đó hôm nay, cầu Đức Maria xin cho chúng ta sự hiệp nhất đức tin, hiệp nhất lòng trí và tinh thần, hiệp nhất trong các gia đình và hiệp nhất trong xã hội. Để được sự này tôi hiệp với anh chị em hôm nay trong lời cầu nguyện: Lạy Mẹ Calvary, xin Mẹ ban cho chúng con nên một giữa chính chúng con và nên một với Mẹ.
5. Giờ đây, lạy Đấng Biện hộ nhân từ, xin hướng ánh mắt Mẹ đầy thương xót đến chúng con, Và, sau cuộc lưu đày này của chúng con, xin tỏ cho chúng con Hoa trái chúc phúc của lòng Mẹ, Chúa Giêsu. Ôi Nữ Trinh Maria nhân lành, yêu thương và dịu ngọt! Lạy Bà đầy ân sủng, xin nhìn đến dân này Đã nhiều thế kỷ vẫn sống trung thành với Mẹ và Con Mẹ. Xin nhìn đến quốc gia này, đã luôn luôn đặt hy vọng mình trong tình yêu mẫu tử của Mẹ. Xin Mẹ hướng mắt thương xót của Mẹ về phía chúng con, Xin cầu cho được điều con cái Mẹ cần nhất. Xin Mẹ mở lòng những kẻ giàu có nghỉ đến những nhu cầu của kẻ nghèo và đau khổ. Xin cho những kẻ không việc làm gặp được người thuê. Xin giúp những người bị nghèo khổ kiếm được nhà ở. Xin ban cho các gia đình tình yêu làm cho họ có thể thắng được tất cả những khốn khó. Xin chỉ cho giới trẻ một con đường và một chân trời cho tương lai. Xin bao che các con trẻ với tấm áo che của Mẹ, Kẻo chúng bị vấp phạm. Xin nâng đỡ các cộng đồng tu sĩ với ân sủng đức tin, hy vọng và tình yêu. Xin cho các linh mục có thể theo những vết chân Con Mẹ bằng cách hy sinh mạng sống mình mổi ngày cho con chiên. Xin cầu cho các Giám mục ánh sáng Chúa thánh Thần, hầu các ngài có thể hướng dẫn Giáo hội này cho tời cửa Vương quốc Con Mẹ chỉ qua một con đường duy nhất và thẳng thắng. Lạy Mẹ Chí Thánh, Lạy Đức Bà Calvary. xin cũng cầu cho con sức mạnh thể xác và tinh thần, ngõ hầu con thực hiện đến cùng sứ vụ Chúa Phục sinh đã giao phó cho con. Cho Mẹ con trả lại tất cả những hoa quả của đời sống và nhiệm vụ của con, Cho Mẹ con phó thác tương lai Giáo hội Cho Mẹ con dâng quê hương con, Trong Mẹ con tin cậy và một lần nữa con tuyên bố với Mẹ: Tất cả là của Mẹ, Mẹ Maria! Tất cả là của Mẹ. Amen |