Thiên Chua phán trong việc SÁng tạo, Lich sử và Mạc khải,
CASTEL GANDOLFO(Zenit org.).- Đây là bản dịch bài huấn đức của Đức Gioan Phaolô II trong buổi triều yết chung ngày Thứ Tư 20/8, Ðức Thánh Cha giải thích về phần hai Thánh Vịnh 147 (cc.12-20). Bài huấn đức bằng tiếng Ý.
* * *
1. Thánh Vịnh vừa được đề nghị để chúng ta suy gẫm là phần hai của Thánh Vịnh 146 lần trước. Dầu sao, những bản dịch Latin và Hy lạp cỗ xưa đã được phụng vụ tiếp thu, coi Thánh Vịnh này như một bài ca độc lập, vì phần mở đầu Thánh Vịnh phân biệt rõ ràng với phần đi trước. Phần mở đầu này cũng trở thành nổi danh vì thường được phổ nhạc theo tiếng Latin: "Jerusalem, hãy ngợi khen Chúa". Những lời mở đầu này là một lời mời tiêu biểu của những thánh thi của Thánh Vịnh để cử hành và ngợi khen Thiên Chúa. Bây giờ chính Jerusalem, hiện thân của con người được dùng để tán dương và tôn vinh Thiên Chúa mình (x.c.12).
Trước hết, cần nhắc tới lý do tại sao cộng đồng cầu nguyện phải cất lời ngợi khencủa mình lên Thiên Chúa. Điều đó có bản chất lịch sử: Chính Người, Đấng giải phóng Israel khỏi lưu đày Babilon, ban nền an ninh cho dân mình, làm kiên vững thêm "những then cửa" thành đô (x.c.13).
Khi Jerusalem sụp đỗ dưới sự tấn công của đạo quân Vua Nebuchadnezzar vào năm 586 trước Công Nguyên, Sách Ai Ca trình bày Đức Chúa như là quan xét tội Israel, đang khi Đức Chúa "đã tính chuyện tàn phá tường lũy của thiếu nữ Sion. Cổng thành bị sụt sâu dưới đất; Nguời phá tung, bẻ gãy then cài" (Ai Ca 2: 8,9). Dầu sao, bây giờ Đức Chúa tái thiết Thành Thánh; trong đền thờ được tái thiết, Người lại chúc phúc con cái Người. Như vậy là nhắc tới công trình do Nehemiah thực hiện (x. Nehemiah 3:1-38), ông sửa sang tường lũy thành Jerusalem, để nó trở nên lại thành một ốc đảo anh ninh và hoà bình.
2. Trên thực tế, hòa bình, shalom, được nhắc tới ngay, dường như được chứa đựng cách biểu trưng trong chính danh Jerusalem. Tiên tri Isaiah đã hứa với thành đô: "Để giám sát ngươi, Ta sẽ đặt Bình An, để cai trị ngươi, Ta sẽ đặt Công Chính" (60: 17).
Nhưng, ngoài việc tái thiết tường lũy thành đô, chúc phước và bình định nó trong an ninh, Thiên Chúa cống hiến cho Israel những ân huệ cơ bản khác: được diễn tả vào cuối bài Thánh Vịnh. Thật vậy, những ân huệ về Mạc khải, về Luật pháp, và về những mệnh lệnh của Chúa được nhắc tới ở đó: "Chúa bày tỏ lời Người cho nhà Giacob và chiếu chỉ luật điều cho Israel" (Tv.147:19).
Như vậy, việc tuyển chọn Israel và sứ vụ duy nhất của nó giữa muôn dân được tôn vinh: loan báo cho thế giới Lời Chúa. Đó là một sứ vụ tiên tri và tư tế, như "có dân tộc vĩ đại nào được những thánh chỉ và quyết định công minh như tất cả lề luật mà hôm nay tôi đưa ra trước mặt anh em?" (Dnl 4:8). Nhờ Israel và do đó cũng nhờ cộng đồng Kitô hữu, tức là Giáo hội, Lời Chúa có thể vang dội trong thế giới và trở nên điều luật và ánh sáng sự sống cho muôn dân (x. Tv.147:20).
3. Cho tới bây giờ chúng ta đã diễn tả lý do thứ nhất để lời ngợi khen được nâng lên tới Chúa: đó là một lý do lịch sử được liên kết, thật vậy với hành động giải phóng và mạc khải của Thiên Chúa với dân Người.
Hơn nữa, còn có một lý do khác để hoan hỉ và ngợi khen. Lý do này có bản tính vũ trụ, nghĩa là liên kết với hành động sáng tạo của Chúa. Lời Chúa đột ngột ban sự sống cho hữu thể. Như một sừ giả, Lời Chúa đi ngang qua những không gian mênh mông của trái đất (x. Tv 147:15). Và thình lình có môt sự nở rộ lên những sự lạ.
Như mùa đông tới được mô tả trong hiện tượng khí quyển của nó với một vẻ nên thơ. Tuyết giống như lông chiên vì màu trắng, sương giá với những hạt li ti giống như bụi cát nơi hoang dã (x.c.16), mưa đá giống những vụn bánh rơi xuống đất, nước đá làm đông mặt đất và bóp nghẹt thảo mộc (x. c.17)
Đó là một hình ảnh mùa đông để mời con người khám phá những kỳ công sáng tạo, những kỳ công sẽ được nhắc lại trong một trang rất đẹp của một sách khác là sách Sirach (43:18-20).
4. Dầu vậy, hành động của Lời Chúa cũng làm tái xuất hiện mùa Xuân: "Nước đá tan, gió nóng thổi và làm cho nước tan chảy (x. Tv 147:18), nhờ vậy mà lập lại chu kỳ các mùa và vì thế cũng lập lại môt khả năng sống cho những người nam và nữ.
Tất nhiên, những bài đọc ẩn dụ về những ân huệ thần linh này không thiếu, "Hoa lúa" làm người ta nghĩ tới ân huệ vĩ đại bánh Thánh Thể. Còn hơn nữa, Origen, đại văn sĩ Kitô giáo sống vào thế kỷ thứ ba, xác nhận lúa là một dấu chỉ đến chính Chúa Kitô và nhất là chỉ về Kinh Thánh.
Đây là lởi giải thích của ông: "Chúa chúng ta là hạt lúa rơi xuống đất, và tự sinh ra nhiều cho chúng ta. Nhưng hạt lúa này thật rất dồi dào. Lời Chúa thật rất phong phú, chính Lời Chúa đã chứa đầy mọi thú vi.
Từ Lời Chúa, tất cả những gì anh chị em thấy giống như một kiểu cách mà người Do Thái nói: khi họ ăn manna, mà mỗi người đã thưởng thức được hương vị của nó theo ý mình. Đối với thân mình Chúa Kitô cũng vậy, thịt đó là lời của huấn giáo, nghĩa là của sự hiểu biết Kinh Thánh, lòng muốn của ta càng lớn, thì sự dinh dưỡng chúng ta lãnh nhận càng cao. Nếu anh chị là người thánh thiện, anh chị gặp sự mát mẻ, nhưng nếu anh chị là người tội lỗi, anh chị sẽ gặp thấy sự dày vò" (Origen--Jerome, 74 omelie sul libro dei Salmi" [74 bài Giảng về sách Thánh Vịnh]. Milan, 1993, pp. 543-544).
5. Như vậy, Đức Chúa hành động với Lời của Người không những trong tạo vật mà còn trong lịch sử. Người mặc khải chính mình với tiếng nói thinh lặng của thiên nhiên (x. Tv 18[19] 2-7), nhưng Người tỏ mình một cách minh nhiên qua Kinh Thánh, và trong sự truyền thông bản thân Người qua các tiên tri, và cách hoàn hảo qua Người Con (x.Dt 1:1-2). Đó là hai ân huệ của Người tuy khác nhau nhưng cùng quy về ân huệ tình yêu.
Đó là lý do tại sao hằng ngày lời ngợi khen của chúng ta phải cất lên trời. Chính lòng biết ơn của chúng ta, được cất lên vàolúc binh minh trong kinh sáng để ngợi khen Đức Chúa sự sống và sự tự do, sự hiện hữu và đừc tin, sự sáng tạo và sư cứu độ.
Cuối buổi triều yết, Đức Thánh Cha nói tóm như sau:
Anh chị em thân mến,
Thánh Vịnh hôm nay là một lời mời ngợi khen Chúa vì vai trò của Người trong lịch sử và tạo vật. Thánh Vịnh ca hát về hành động của Chúa nhờ đó dân ưu tuyển được giải phóng khỏi lưu đày và nhớ đó, Jerusalem được tái thiết và củng cố trở thành một nơi hòa bình. Thánh Vịnh cũng khơi lên ân huệ Mạc khải và Luật của Chúa, là một nền tảng cho hòa bình vững chắc hơn bất cứ thành lũy nào. Thánh Vịnh ngợi khen Lời Chúa, Đấng biến đổi mùa đông thành mùa xuân và tiếp tục cống hiến đến hồng ân sự sống cho chúng ta hôm nay.
Tôi xin chào chân tình tới tất cả những người hành hương và khách thăm viếng nói tiếng Anh hiện diện trong buổi triều yết hôm nay, cách riêng đến những người từ Scotland, Hoa Kỳ, Nhật bản và Hồng kông. Tôi hết lòng cầu xin niềm vui và sự bình an của Chúa Giêsu Kitô Chúa chúng ta xuống trên tất cả quý anh chị em.
CASTEL GANDOLFO(Zenit org.).- Đây là bản dịch bài huấn đức của Đức Gioan Phaolô II trong buổi triều yết chung ngày Thứ Tư 20/8, Ðức Thánh Cha giải thích về phần hai Thánh Vịnh 147 (cc.12-20). Bài huấn đức bằng tiếng Ý.
* * *
1. Thánh Vịnh vừa được đề nghị để chúng ta suy gẫm là phần hai của Thánh Vịnh 146 lần trước. Dầu sao, những bản dịch Latin và Hy lạp cỗ xưa đã được phụng vụ tiếp thu, coi Thánh Vịnh này như một bài ca độc lập, vì phần mở đầu Thánh Vịnh phân biệt rõ ràng với phần đi trước. Phần mở đầu này cũng trở thành nổi danh vì thường được phổ nhạc theo tiếng Latin: "Jerusalem, hãy ngợi khen Chúa". Những lời mở đầu này là một lời mời tiêu biểu của những thánh thi của Thánh Vịnh để cử hành và ngợi khen Thiên Chúa. Bây giờ chính Jerusalem, hiện thân của con người được dùng để tán dương và tôn vinh Thiên Chúa mình (x.c.12).
Trước hết, cần nhắc tới lý do tại sao cộng đồng cầu nguyện phải cất lời ngợi khencủa mình lên Thiên Chúa. Điều đó có bản chất lịch sử: Chính Người, Đấng giải phóng Israel khỏi lưu đày Babilon, ban nền an ninh cho dân mình, làm kiên vững thêm "những then cửa" thành đô (x.c.13).
Khi Jerusalem sụp đỗ dưới sự tấn công của đạo quân Vua Nebuchadnezzar vào năm 586 trước Công Nguyên, Sách Ai Ca trình bày Đức Chúa như là quan xét tội Israel, đang khi Đức Chúa "đã tính chuyện tàn phá tường lũy của thiếu nữ Sion. Cổng thành bị sụt sâu dưới đất; Nguời phá tung, bẻ gãy then cài" (Ai Ca 2: 8,9). Dầu sao, bây giờ Đức Chúa tái thiết Thành Thánh; trong đền thờ được tái thiết, Người lại chúc phúc con cái Người. Như vậy là nhắc tới công trình do Nehemiah thực hiện (x. Nehemiah 3:1-38), ông sửa sang tường lũy thành Jerusalem, để nó trở nên lại thành một ốc đảo anh ninh và hoà bình.
2. Trên thực tế, hòa bình, shalom, được nhắc tới ngay, dường như được chứa đựng cách biểu trưng trong chính danh Jerusalem. Tiên tri Isaiah đã hứa với thành đô: "Để giám sát ngươi, Ta sẽ đặt Bình An, để cai trị ngươi, Ta sẽ đặt Công Chính" (60: 17).
Nhưng, ngoài việc tái thiết tường lũy thành đô, chúc phước và bình định nó trong an ninh, Thiên Chúa cống hiến cho Israel những ân huệ cơ bản khác: được diễn tả vào cuối bài Thánh Vịnh. Thật vậy, những ân huệ về Mạc khải, về Luật pháp, và về những mệnh lệnh của Chúa được nhắc tới ở đó: "Chúa bày tỏ lời Người cho nhà Giacob và chiếu chỉ luật điều cho Israel" (Tv.147:19).
Như vậy, việc tuyển chọn Israel và sứ vụ duy nhất của nó giữa muôn dân được tôn vinh: loan báo cho thế giới Lời Chúa. Đó là một sứ vụ tiên tri và tư tế, như "có dân tộc vĩ đại nào được những thánh chỉ và quyết định công minh như tất cả lề luật mà hôm nay tôi đưa ra trước mặt anh em?" (Dnl 4:8). Nhờ Israel và do đó cũng nhờ cộng đồng Kitô hữu, tức là Giáo hội, Lời Chúa có thể vang dội trong thế giới và trở nên điều luật và ánh sáng sự sống cho muôn dân (x. Tv.147:20).
3. Cho tới bây giờ chúng ta đã diễn tả lý do thứ nhất để lời ngợi khen được nâng lên tới Chúa: đó là một lý do lịch sử được liên kết, thật vậy với hành động giải phóng và mạc khải của Thiên Chúa với dân Người.
Hơn nữa, còn có một lý do khác để hoan hỉ và ngợi khen. Lý do này có bản tính vũ trụ, nghĩa là liên kết với hành động sáng tạo của Chúa. Lời Chúa đột ngột ban sự sống cho hữu thể. Như một sừ giả, Lời Chúa đi ngang qua những không gian mênh mông của trái đất (x. Tv 147:15). Và thình lình có môt sự nở rộ lên những sự lạ.
Như mùa đông tới được mô tả trong hiện tượng khí quyển của nó với một vẻ nên thơ. Tuyết giống như lông chiên vì màu trắng, sương giá với những hạt li ti giống như bụi cát nơi hoang dã (x.c.16), mưa đá giống những vụn bánh rơi xuống đất, nước đá làm đông mặt đất và bóp nghẹt thảo mộc (x. c.17)
Đó là một hình ảnh mùa đông để mời con người khám phá những kỳ công sáng tạo, những kỳ công sẽ được nhắc lại trong một trang rất đẹp của một sách khác là sách Sirach (43:18-20).
4. Dầu vậy, hành động của Lời Chúa cũng làm tái xuất hiện mùa Xuân: "Nước đá tan, gió nóng thổi và làm cho nước tan chảy (x. Tv 147:18), nhờ vậy mà lập lại chu kỳ các mùa và vì thế cũng lập lại môt khả năng sống cho những người nam và nữ.
Tất nhiên, những bài đọc ẩn dụ về những ân huệ thần linh này không thiếu, "Hoa lúa" làm người ta nghĩ tới ân huệ vĩ đại bánh Thánh Thể. Còn hơn nữa, Origen, đại văn sĩ Kitô giáo sống vào thế kỷ thứ ba, xác nhận lúa là một dấu chỉ đến chính Chúa Kitô và nhất là chỉ về Kinh Thánh.
Đây là lởi giải thích của ông: "Chúa chúng ta là hạt lúa rơi xuống đất, và tự sinh ra nhiều cho chúng ta. Nhưng hạt lúa này thật rất dồi dào. Lời Chúa thật rất phong phú, chính Lời Chúa đã chứa đầy mọi thú vi.
Từ Lời Chúa, tất cả những gì anh chị em thấy giống như một kiểu cách mà người Do Thái nói: khi họ ăn manna, mà mỗi người đã thưởng thức được hương vị của nó theo ý mình. Đối với thân mình Chúa Kitô cũng vậy, thịt đó là lời của huấn giáo, nghĩa là của sự hiểu biết Kinh Thánh, lòng muốn của ta càng lớn, thì sự dinh dưỡng chúng ta lãnh nhận càng cao. Nếu anh chị là người thánh thiện, anh chị gặp sự mát mẻ, nhưng nếu anh chị là người tội lỗi, anh chị sẽ gặp thấy sự dày vò" (Origen--Jerome, 74 omelie sul libro dei Salmi" [74 bài Giảng về sách Thánh Vịnh]. Milan, 1993, pp. 543-544).
5. Như vậy, Đức Chúa hành động với Lời của Người không những trong tạo vật mà còn trong lịch sử. Người mặc khải chính mình với tiếng nói thinh lặng của thiên nhiên (x. Tv 18[19] 2-7), nhưng Người tỏ mình một cách minh nhiên qua Kinh Thánh, và trong sự truyền thông bản thân Người qua các tiên tri, và cách hoàn hảo qua Người Con (x.Dt 1:1-2). Đó là hai ân huệ của Người tuy khác nhau nhưng cùng quy về ân huệ tình yêu.
Đó là lý do tại sao hằng ngày lời ngợi khen của chúng ta phải cất lên trời. Chính lòng biết ơn của chúng ta, được cất lên vàolúc binh minh trong kinh sáng để ngợi khen Đức Chúa sự sống và sự tự do, sự hiện hữu và đừc tin, sự sáng tạo và sư cứu độ.
Cuối buổi triều yết, Đức Thánh Cha nói tóm như sau:
Anh chị em thân mến,
Thánh Vịnh hôm nay là một lời mời ngợi khen Chúa vì vai trò của Người trong lịch sử và tạo vật. Thánh Vịnh ca hát về hành động của Chúa nhờ đó dân ưu tuyển được giải phóng khỏi lưu đày và nhớ đó, Jerusalem được tái thiết và củng cố trở thành một nơi hòa bình. Thánh Vịnh cũng khơi lên ân huệ Mạc khải và Luật của Chúa, là một nền tảng cho hòa bình vững chắc hơn bất cứ thành lũy nào. Thánh Vịnh ngợi khen Lời Chúa, Đấng biến đổi mùa đông thành mùa xuân và tiếp tục cống hiến đến hồng ân sự sống cho chúng ta hôm nay.
Tôi xin chào chân tình tới tất cả những người hành hương và khách thăm viếng nói tiếng Anh hiện diện trong buổi triều yết hôm nay, cách riêng đến những người từ Scotland, Hoa Kỳ, Nhật bản và Hồng kông. Tôi hết lòng cầu xin niềm vui và sự bình an của Chúa Giêsu Kitô Chúa chúng ta xuống trên tất cả quý anh chị em.