BỘ GIÁO LÝ ĐỨC TIN
NHỮNG NHẬN XÉT VỀ SỰ THỪA NHẬN PHÁP LÝ NHỮNG KẾT HỢP GIỮA CÁC NGƯỜI ĐỒNG PHÁi TÍNH
NHẬP ĐỀ
1. Đã nhiều lần, Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II và các Bộ trung ương của Tòa Thánh (1) đã đề cập mới đây các vấn đề liên quan tới đồng tính luyến ái. Đó là một hiện tượng luân lý và xã hội đáng âu lo, mặc dầu tại những quốc gia mà hiện tượng này chưa được chú ý tới theo phương diện hệ thống pháp lý. Hiện tượng này còn đáng âu lo hơn tại những quốc gia đã tuyên bố thừa nhận về mặt pháp lý các kết hợp đồng phái tính hay những quốc gia có ý làm như vậy, mà trong vài trường hợp, bao hàm đến khả năng được nhận con nuôi. Những nhận xét này không có gì mới lạ về mặt Giáo Lý. Những nhận xét này có ý nhắc lại những yếu tố thiết yếu về vấn đề này và cung cấp những luận cứ hợp lý, sẽ giúp các Giám mục soạn thảo những can thiệp chuyên biệt hơn, tùy theo những hoàn cảnh riêng tùy theo các quốc gia khác nhau thế giới. Những can thiệp này nhằm bảo vệ và thăng tiến phẩm giá hôn nhân, nền tảng gia đình, cũng như sự vững bền xã hội mà cơ chế này là một thành phần cấu tạo.
Mục đích những nhận xét này cũng để soi sáng hành động của những chính trị gia Công Giáo và chỉ cho họ những cách cư xử thích đáng theo lương tâm Kitô hữu khi họ phải đương đầu với những dự luật liên quan đến vấn đề này. (2) Vì đây là một vấn đề liên quan đến luật luân lý tự nhiên, những luận chứng này không chỉ được đề nghị với các tín hữu mà thôi, mà còn đua ra cho tất cả những người dấn thân cổ võ và bảo vệ công ích xã hội.
I. BẢN CHẤT VÀ NHỮNG ÐẶC ÐIỂM THIẾT YẾU CỦA HÔN NHÂN
2. Huấn giáo của Giáo hội về hôn nhân vàvề sự bổ sung lẫn nhau giữa các phái tính lập lại lần nữa đến một chân lý hiển nhiên đối với lẽ thật và đã được nhìn nhận bởi tất cả những nền văn hóa lớn trên thế giới. Hôn nhân không phải là một sự kết hợp nào đó giữa những con người. Hôn nhân được Đấng Sáng tạo thiết lập với bản tánh riêng biệt của nó, được phú bẩm bắng những mục đích và những tính chất thiết yếu. (3)
Không một ý thức hệ nào có thể xóa khỏi lòng trí con người sự chắc chắn này: hôn nhân chỉ hiện hữu giữa hai người khác phái bằng sự hiến thân riêng biệt và duy nhất cho nhau, hầu nhắm tới sự hiệp thông bản thân cho nhau. Như vậy, hai người tự hoàn thiện lấy nhau để cộng tác với Thiên Chúa trong việc sinh sản và giáo dục những con người mới.
3. Chân lý tự nhiên về hôn nhân đã được Mặc Khải xác nhận trong những tường thuật Kinh Thánh về sự sáng tạo, cũng là sự diễn tả tính khôn ngoan nhân bản nguyên thủy mà tiếng nói của chính tạo vật được nghe thấy. Sách Sáng Thế nói về ba dữ kiện cơ bản trong ý định sáng tạo về hôn nhân.
Thứ nhất con người là hình ảnh Thiên Chúa, đã được tạo dựng "có nam có nữ" (St 1,27). Người nam và người nữ ngang hàng với nhau trong phương diện con người và bổ sung cho nhau về phương diện "nam và nữ". Một đàng, phái tính là sự gì đó mà nói lên được thành phần của lĩnh vực sinh thái; đàng khác xét về mặt nhân sinh, phái tính được nâng lên tới một mực độ mới, nơi thân xác và tinh thần kết hợp với nhau.
Kế đến là hôn nhân được Đấng Sáng Tạo thiết lập thành một trạng thái sự sống trong đó thực thi sự hiệp thông nhân vị, sự hiệp thông này bao gồm đến việc xử dụng những năng lực của phái tính. "Bởi thế, người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt" (St 2, 24)
Sau hết, Thiên Chúa đã muốn phú cho sự kết hợp giữa người nam và nữ một sự tham gia đặc biệt vào công trình sáng tạo của Người. Cho nên Người đã chúc phúc họ qua những lời này: "Hãy sinh sôi nẩy nở thật nhiều" (St 1, 28).
Theo ý định của Đấng Sáng tạo, sự bổ sung các phái tính và khả năng sinh sản như thếlà thuộc về chính bản tính cơ chế của hôn nhân.
Hơn nữa, sự kết hợp hôn nhân giữa người nam và người nữ đã được Chúa Kitô nâng giá trị lên hàng bí tích. Giáo hội dạy rằng hôn nhân Kitô hữu là dấu hiệu nghiệm của giao ước giữa Chúa Kitô và Giáo Hội (x. Ep 5, 32). Thay vì làm giảm giá trị nhân bản thật của sự kết hợp vợ chồng giữa người nam và người nữ, thì ý nghĩa hôn nhân Kitô hữu lại được củng cố và tăng cường. (x. Mt 19, 3-12; Mc 10, 6-9).
4. Không có một cơ sở tuyệt đối nào để đồng hóa những kết hợp giữa người đồng phái tính hay coi tương tự giống như ý định của Thiên Chúa về hôn nhân và gia đình. Hôn nhân là thánh thiêng, đang khi những tương quan đồng phái tính thì đi nghịch lại với luật luân lý tự nhiên. Trên thực tế những hành vi đồng tính luyến ái, "loại bỏ chủ đích truyền sinh của hành vi tính dục. Những hành vi đó không phát xuất từ nhu cầu bổ túc thực sự về tình cảm và tính dục. Những hành vi đó không thể được chấp thuận trong bất cứ trường hợp nào" (4).
Trong Kinh Thánh, những quan hệ đồng phái tính "bị kết án như những suy đồi nghiêm trọng... (x. Rm 1,24-27; 1 Cor 6,10; ! Tm 1, 10). Phán đoán này của Kinh Thánh không cho phép kết luận rằng tất cả những ai mắc phải tính bất thường này chịu trách nhiệm cá nhân về những điều ấy, nhưng khẳng định rằng những hành vi đồng tính luyến ái tự bản chất là sai lạci". (5) Cũng một phán đoán luân lý được lập lại nơi nhiều văn sĩ giáo hội vào những thế kỷ đầu (6) và được Truyền thống Công Giáo nhất trí chấp nhận
Nhưng theo huấn giáo Giáo hội, những người nam và người nữ mắc những xu hướng đồng phái tính "phải được đối xử với lòng tôn trọng, thông cảm và tế nhị. Con người phải tránh tất cả những dấu kỳ thị bất công đối với họ" (7).Hơn nữa những người này được kêu gọi như những kitô hữu khác để sống đời khiết tịnh. (8) Nhưng xu hướng đồng phái tính thì "khách quan đã là thác loạn " (9) và những hành vi đồng tính luyến ái là những "tội nghịch nặng nề với Ðức khiết tịnh". (10)
II. NHỮNG THÁI ÐỘ ÐỐI VỚI VẤN ÐỀ NHỮNG KẾT HỢP GIỮA NGƯỜI ÐỒNG PHÁI TÍNH.
5. Ðương đầu với sự kiện những kết hợp đồng phái tính, các thẩm quyền dân sự có những thái độ khác nhau: đôi khi những thẩm quyền đó nhân nhượng chấp nhận hiện tượng này; đôi khi họ vận động hợp thức hóa cho những kết hợp đó viện lý do cho những quyền lợi nào đó hay tránh đi sự kỳ thị đối với những người sống chung với người đồng phái tinh. Trong những trường hợp khác họ đi tới việc ủng hộ về mặt pháp lý của những kết hợp đồng phái tính tương đương với hôn nhân, cùng với tình trạng có thể cho phép nhận con nuôi.
Nơi nào chính sách nhà nước trên thực tế nhân nhượng và không dứt khoát thừa nhận về mặt pháp lý đối với những hình thức sống chung này, thì thật là cần thiết để phân định kỹ lưỡng các khía cạnh khác nhau của vấn đề. Lương tâm luân lý đòi hỏi rằng trong mọi hoàn cảnh người Kitô hữu phải làm chứng về chân lý luân lý nguyên vẹn vốn đi ngược lại đến sự thừa nhận các hành vi của người đồng phái tính cũng như sự kỳ thị bất công đối với những người đồng tính luyến ái.
Vậy thì nên có những sư can thiệp kín đáo và khôn ngoan; có thể bao hàm tới như: vạch trần đường lối trong việc lạm dụng hay ý thức hệ mà người ta có thể thực hiện do sự nhân nhượng này; xác nhận rõ ràng tính chất vô luân của kiểu kết hợp này; nhắc cho nhà Nước sự cần thiết kềm hảm hiện tượng này trong những giới hạn không nguy hại đến bối cảnh luân lý chung, và nhất là đừng lôi kéo những thế hệ trẻ theo một quan niệm sai lầm về tình dục và hôn nhân, tước đọat khỏi chúng những sự bảo vệ cần thiết và hơn nữa lại góp phần phổ biến chính hiện tượng đó.
Ðối với những ai từ chỗ nhân nhượng cho đến hợp pháp hóa những quyền riêng cho việc sống chung của những người đồng phái tính, họ cần phải được nhắc nhớ rằng việc khoan nhượng đối với điều tai hại hoàn toàn khác với hợp thức hóa điều tai hại. Khi phải chạm trán với sự thừa nhận pháp lý đối với những kết hợp đồng phái tính, hay là với sự kiện đồng hóa về mặt pháp lý giữa những kết hợp đồng phái tính với hôn nhân, việc chống đối một cách rõ ràng và dứt khoát là một bổn phận. Con người phải tránh mọi hình thức hợp tác chính thức trong việc quảng bá hay áp dụng những luật lệ bất công nghiêm trọng như thế, và càng tránh được bao nhiêu có thể bấy nhiêu trong việc cung cấp tài liệu về mặt áp dụng chúng. Về mặt này, mỗi người có thể đòi quyền phủ quyết theo lương tâm.
III. NHỮNG LUẬN CHỨNG HỢP LÝ CHỐNG SỰ THỪA NHẬN PHÁP LÝ ÐỐI VỚI NHỮNG KẾT HỢP ÐỒNG PHÁI TÍNH.
6. Muốn thấu hiểu những lý do tại sao cần thiết chống đối những trường hợp nhằm hợp pháp hóa các kết hợp đồng phái tínhnhư thế, thì cần đòi hỏi những nhận xét đạo Ðức riêng biệt thuộc những loại khác nhau.
Theo trật tự của lẽ phải
Phạm vị của luật dân sự chắc chắn bị hạn chế hơn so với luật luân lý; (11) nhưng, luật dân sự không thể đi ngược lại với lẽ phải mà không mất đi hiệu lực ràng buộc lương tâm (12) Tất cả luật pháp do con người được coi là hợp pháp bao lâu nó còn thích hợp với luật luân lý tự nhiên, được lẽ phải công nhận, và nhất là bao lâu nó còn tôn trọng đến những quyền bất khả nhượng của mổi người (13). Những luật pháp ủng hộ các kết hợp đồng phái tính thì nghịch lại với lẽ phải bởi vì chúng ban bố những luật pháp bảo đảm cho sự kết hợp giữa hai người đồng phái tính ngang hàng với hôn nhân. Vì những giá trị đang bị đe đọa cho vấn đề này, nhà Nước không thể hợp pháp hoá những kết hợp này mà lại không mắc lỗi bổn phận đến việc cổ võ và bảo vệ hôn nhân là cơ cấu thiết yếu cho công ích.
Người ta có thể thắc mắc tại sao lại đi nghịch với công ích vì nó không áp đặt một cách xử sự riêng biệt nào, nhưng chỉ hợp pháp hóa một thực tại mà xem ra không bao hàm một sự bất công nào đối với ai. Trong vấn đề này, trước hết nên suy nghĩ tới sự khác biệt hiện hữu giữa cách hành xử đồng phái tính là một hiện tượng có tính cá nhân với cách hành xử của sự quan hệ được dự kiến trước trong xã hội và đã được luật pháp công nhận để trở thành một trong những cơ chế trong hệ thống pháp lý. Hiện tượng thứ hai này không những nghiêm trọng hơn nhưng còn coi là lan rộng nhiều hơn và ảnh hưởng thâm sâu hơn và sẽ dẫn đến nhưng sự thay đổi toàn thể tổ chức trong xã hội đi nghịch lại với công ích. Những luật dân sự là những quy luật xây dựng sự sống con người trong lòng xã hội, đưa đến sự lành hay sự dữ. Chúng "đóng một vai trò rất quan trọng và đôi khi giữ vai trò quyết định ảnh hưởng đến những tư tưởng và tập quán". (14)
Những lối sống và những điều được phỏng định, tất cả điều này không những tạo nên cách sống xã hội bề ngoài, nhưng cũng còn có xu hướng sửa đối đến sự nhận thức và sư đánh giá những cách ứng xử cho thế hệ trẻ. Như vậy sự hợp pháp hóa những kết hợp đồng phái tính sẽ sinh ra hậu quả là làm mờ ám sự nhận thức một số gia trị luân lý cơ bản và làm hạ giá đến cơ cấu hôn nhân.
Theo trật tự sinh thái và nhân văn
7. Trong những kết hợp đồng phái tính, hoàn toàn vắng bóng những yếu tố sinh thái học và nhân loại học của hôn nhân và của gia đình, mà dựa vào lý trí nó sẽ là nền tảng để cho phép sự thừa nhận chúng về mặt pháp lý. Những kết hợp này không còn khả năng bảo đảm một cách thích đáng đến sự sinh sản và sự sống còn của nhân loại. Khả năng dùng đến các phương pháp thụ thai nhân tạo được khám phá mới đây, sẽ bao hàm những thiếu sót trầm trọng đến sự tôn trọng nhân phẩm (15) và không thay đổi được gì cho sự không thích đáng này.
Trong những kết hợp đồng phái tính cũng không có chiều kích vợ chồng mà lẽ ra các tương quan tình dục mang một hình thức nhân bản và trật tự. Thật vậy, những tương quan tính dục này được coi là nhân bản bao lâu chúng diễn tả và cổ võ đến sự nâng đỡ lẫn nhau giữa giới tính trong hôn nhân và không hạn chế đến việc truyền sinh.
Như kinh nghiệm chứng minh cho thấy sự thiếu vắng bổ sung sinh dục trong những kết hợp đồng phái tính này tạo nên những ngăn trở cho sự phát triển bình thường nơi các trẻ em khì chúng bị đặt dưới sự chăm sóc của những người đồng phái tính. Những trẻ em này bị tướt đoạt mất kinh nghiệm đến tình cha hay tình mẹ. Cho phép những cặp đồng phái tính nhận trẻ em qua chế độ con nuôi, chẳng khác nào là đối xử bạo tàn với chúng, có nghĩa là người ta lợi dụng tình trạng lệ thuộc của trể em để áp đặt chúng vào môi trường không được phát triển nhân bản đầy đủ.
Chăc chắn một việc như thế mang tính vô luân trầm trọng và trái ngược trắng trợn với nguyên tắc cũng được thừa nhận bởi Qui Ước quốc tế Liên Hiệp Quốc về các quyền của trẻ em, mà theo nguyên tắc đó, quyền lợi tốt đẹp nhất cho trẻ em là chúng phải được bênh vực trong mọi tình huống vì chúng là thành phần yếu nhất và không được tự vệ.
Theo trật tự xã hội
8. Xã hội thừa nhận đến sự sống còn là nhờ gia đình xây dựng trên hôn nhân. Hậu quả không thể tránh được cho sự thừa nhận hợp pháp các kết hợp đồng phái tính, là việc tái định nghĩa hôn nhân theo đó đối với người thích quan hệ tình dục, hôn nhân đã mất đi những yếu tố cần thiết lại trở thành hợp pháp, ví dụ như bổn phận sinh sản và giáo dục. Nếu đứng theo phương diện pháp lý, hôn nhân giữa hai người khác phái chỉ được coi như một trong những hình thức hôn nhân, thì ý niệm hôn nhân sẽ bị thay đổi tận gốc rễ, và điều này có hại cho công ích. Khi đặt sự kết hợp đồng phái tính trên một bình diện pháp lý tương đương tới mặt pháp lý của hôn nhân hay gia đình, Nhà Nước tự quyền hành động và đi ngược lại với bổn phận mình.
Nguyên lý tôn trọng và không phân biệt đối xử không thể được viện dẫn để ủng hộ sự hợp pháp hoá các kết hợp đồng phái tính. Trên thực tế, sự phân biệt giữa con người hay phủ nhận đến sự công nhận xã hội hay phúc lợi xã hội thì không thể chấp nhận được chỉ khi nào nó nghịch với công lý. Không ban qui chế xã hội và pháp lý thuộc hôn nhân cho những hình thức sống chung không có tính hôn nhân hay không thể có tính hôn nhân, thì không đi nghịch lại với công lý (16) Nhưng trái lại chính nó là công lý đòi hỏi điều ấy.
Cũng không thể viện dẫn cách hợp lý nguyên lý về quyền tự trị phải có của con người. Một mặt khi mỗi công dân có thể thực hiện tự do những sinh hoạt mà họ cảm thấy thích thú, khi nói chung những sinh hoạt đó là thành phần của những quyền và của những tự do dân sự chung; mặt khác và rất khác biệt, khi những sinh hoạt không có đóng góp ý nghĩa và tích cực cho sự phát triển con người và xã hội, mà lại có thể nhận được về phía nhà Nước sự thừa nhận pháp lý riêng biệt và đủ tư cách. Ngay cả trong một cảm giác tương tự mơ hồ đến những kết hợp đồng phái tính không làm tròn những nhiệm vụ mà hôn nhân và gia đình đáng được sự công nhận một cách tuyệt đối minh bạch. Ngược lại, có đủ những lý lẽ để khẳng định rằng những kết hợp kiểu đó là có hại cho sự phát triển lành mạnh cho xã hội loài người, nhất là ảnh hưởng của chúng trên xã hội đã trên đà gia tăng
Theo trật tự luật pháp
9. Luật dân sự ban cho những đôi kết hôn một sự thừa nhận cơ chế bởi vì họ làm tròn vai trò bảo đảm sự tiếp nối các thế hệ và như vậy là có lợi ích chung. Trái lại những kết hợp đồng phái tính không cần thiết đòi hỏi một sự chú ý đặc biệt về mặt pháp lý, bởi vì những phối hợp đó không không thi hành chức năng này vì lợi ích chung. Luận cứ không vững chắc khi cho rằng thừa nhận pháp lý đối với những kết hợp người đồng phái tinh là cần thiết hấu tránh đi những tình trạng ăn ở chung của người đồng phái tính, chỉ vì sống chung với nhau, điều này có thể tước mất đi sự công nhận thức sự đến quyền lợi của họ là những con người và là những người công dân
Trên thực tế, -như tất cả các công dân và trên nền tảng tự trị riêng của họ - họ có thể luôn luôn viện dẫn luật chung để dàn xếp những vấn đề pháp lý có lợi ích hỗ tương. Nó sẽ là một bất công trầm trọng nếu hy sinh đến công ích và quyền gia đình, nhằm bảo vệ những lợi ích cá nhân mà những lợi ích tư riêng ấy có thể và phải được đảm bảo bằng đường lối không hại đến cho cơ cấu xã hội. (17)
IV. NHỮNG CÁCH ỨNG XỬ CỦA NHỮNG NHÀ CHÍNH TRỊ CÔNG GIÁO ÐỐI VỚI LUẬT PHÁP ỦNG HỘ NHỮNG CẶP ÐỒNG PHÁI TÍNH.
10. Nếu tất cả các tín hữu buộc phải chống đối sự thừa nhận pháp lý cho những kết hợp đồng phái tính thì đối với những người chính trị Công Giáo là những chính trị gia duy trì trách nhiệm của họ, buộc phải thi hành trong một chiều hướng đặc biệt. Trước những dự luật ủng hộ các kết hợp đồng phái tính, các chính trị gia Công Giáo phải coi trọng những chỉ dẫn đạo đức sau đây:
Trong trường hợp được đề nghị lần đầu tiên tại Hội đồng lập pháp, một dự luật ủng hộ sự thừa nhận pháp lý các kết hợp đồng phái tính, nhà lập pháp Công Giáo có bổn phận luân lý bày tỏ rõ ràng và công khai sự bất đồng ý kiến của mình và bỏ phiếu chống lại dự luật này. Bỏ phiếu ủng hộ một bản văn luật pháp có hại cho công ích xã hội như vậy sẽ là một hành vi vô luân nặng.
Trong trường hợp pháp luật đã có hiệu lực thiên về những kết hợp đồng phái tính, thì chính trị gia Công Giáo ấy phải chống đối bằng những phương tiện có thể được và đưa ra lời phải đối của mình. Ðó là nhiệm vụ của người ấy làm minh chứng cho chân lý. Nếu không thể hủy bỏ hoàn toàn một đạo luật như thế, chính trị gia Công Giáo có thể dựa vào những sự chỉ dẫn trong thông điệp Evangelium Vitae, "được phép ủng hộ những đề nghị nhằm hạn chế các mối thiệt hại của luật đó và như vậy làm giảm bớt những hiệu quả tiêu cực trên bình diện văn hóa và đạo Ðức công", miễn là mọi người thấy và biết "sự tuyệt đối chống đối một cách đích thực” của mình đối với những luật thuộc loại này và tránh được nguy hiểm gây gương xấu. (18). Ðiều này không có nghĩa là một luật hạn chế hơn có thể được coi là đúng đắn, hay ít ra có thể chấp nhận được; nhưng đúng hơn khi không thể bài trừ hoàn toàn thì đó là một nỗ lực hợp pháp và cần thiết nhắm hủy bỏ ít ra đến từng phần đến một quy luật bất công
KẾT LUẬN
11. Giáo hội dạy rằng sư tôn trọng đối với những người đồng phái tính không thể dẫn dẫn tới sự tán thành cách hành xử của người đồng phái tính hay là dẫn tới sự nhìn nhận pháp lý những kết hợp đồng phái tính. Công ích đòi buộc các luật pháp phải nhìn nhận, ủng hộ và bảo vệ sự kết hợp hôn nhân như là nền tảng của gia đình là tế bào đầu tiên xã hội.
Công nhận trên pháp lý những phối hợp đồng phá tínhi hay là đồng hóa chúng với hôn nhân, không những là tán thành một cách ứng xử sai quấy, vì thế lấy nó làm một mẫu trong xã hội hiện nay, nhưng còn che giấu những giá trị cơ bản thuộc di sản chung của nhân loại. Giáo hội không thể không bảo vệ những giá trị đó vì lợi ích của những người nam và người nữa và vì lợi ích cho chính xã hội.
Trong buổi triều yết ngày 28/3/ 2003 dành cho Hồng Y Chủ tịch ký tên dưới đây, Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã phê chuẩn những nhận xét này, được quyết định trong Khóa hợp thường lệ của Bộ Giáo Lý Ðức tin, và đã truyền lệnh cho phổ biến
Rome, làm tại trụ sở Bộ Giáo Lý Ðức tin, ngày 3/6/2003, ngày kính nhớ Thánh Charles Lwanga và các bạn tử đạo.
Ðức Hồng Y Joseph Card.Ratzinger
Tổng Trưởng Bộ Giáo Lý Ðức Tin
Tổng Giám Mục Angelo Amato, S.D.B.
Thư Ký Bộ Giáo Lý Ðức Tin
(1) X. Gioan Phaolô II, Những huấn dụ khi đọc kinh Truyền tin, 20/2/1994 và 19/6/1994; Diễn văn trước Hội Nghị khoáng đại của Hội đồng Giáo Hoàng về Gia đình, 24/3/1999; sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo, số 2357-2359, 2396; Bộ Giáo Lý Ðức tin, Tuyên ngôn Persona Humana, 29/12/1975, n.8;
Thư mục vụ cho những người đồng tính luyến ái, I/10/1986; Một vài nhận xét về sự trả lời cho những đề nghị của luật về sự không-kỳ thị những người đồng tính luyến ái, 24/7/1992; Hội đồng Giáo Hoàng về Gia Ðình, Thư gởi các chủ tịch những Hội Ðồng Giám Mục Châu Âu về sự giải quyết của Quôc hội châu Âu đối với những đôi đồng phái, 25/3/1994; Gia đình, hôn nhân và "những phối hợp thật tế", 26/7/2000, n.23.
(2) Bộ Giáo Lý Ðức tin, Ghi chú giáo lý về một số vấn đề đối với sự cam kết và cách ứng xử của những người Công Giáo trong đời sống công, 24/11/ 2002, n.4.
(3) X. Công đồng Vatican II, Hiến chế mục vụ Gaudium et Ses, n. 48.
(4) Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo, n.2357.
(5) Bộ Giáo Lý Ðức Tin, Tuyên ngôn Persona humana, 29/12/1975, n.8.
(6) X.ví dụ T.Polycarpe, Thư gởi người Philippiens, V, 3; S.Justin, Biện hộ thứ nhất, 27, 1-4; Athénagoras, Đơn thỉnh cầu cho các người Kitô hữu, 34.
(7) Giáo lý Giáo Hội Công Giáo, n.2358; x.Bộ Giáo Lý Ðức tin, Thu mục vụ đối với những người đồng tính luyến ái, I/10/1986, n. 10.
(8) X.Giáo lý Giáo hội Công Giáo, n.2359; Bộ Giáo lý Ðức tin, Thư mục vụ đối với những người đồng tính luyến ái, 1/10/1986, n.12.
(9) Giáo lý Giáo Hội Công Giáo, n.2358.
(10) Ibid., n. 2396.
(11) X. Gioan Phaolô II, Thông điệp Evangelium Vitae, 25/3/1995, n. 71.
(12) X. ibid., n.72.
(13) X. T,Thomas d' Aquin, Summa Theologiae, I-II,q.95,a.2.
(14) Gioan Phaolô II Thông điệp Evangelium Vitae, 25/3/1995, n. 90.
(15) X. Bộ Giáo Lý Ðức tin, Huấn thị Donum Vitae, 22 février 1987, II. A. 1-3.
(16) X. T.Thomas d' Aquin, Summa Theologiae II-II, q. 63, a.1,c.
(17) Cũng không nên quên rằng luôn có nguy hiểm "là môt luật pháp biến loạn dâm đồng phái tính thành một nền tảng để có được những quyền, trên thực tế có thể khuyến khích môt người có những xu hướng đồng tính luyến ái tuyên bố tính dâm loạn đồng phái của mình hay có khi tìm một người bạn với mục đích để hưởng những đặc ân của luật phát" ( Bộ Giáo Lý Ðức tin, Một vài nhận xét liên quan tới sự trả lời cho những đề nghị của luật về sự không nên kỳ thị những người đống tính luyến ái, 24/7/1992, n. 14).
(18) Gioan Phaolô II. Thông điệp Evangelium Vitae, 25/3/1995, n.73
NHỮNG NHẬN XÉT VỀ SỰ THỪA NHẬN PHÁP LÝ NHỮNG KẾT HỢP GIỮA CÁC NGƯỜI ĐỒNG PHÁi TÍNH
NHẬP ĐỀ
1. Đã nhiều lần, Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II và các Bộ trung ương của Tòa Thánh (1) đã đề cập mới đây các vấn đề liên quan tới đồng tính luyến ái. Đó là một hiện tượng luân lý và xã hội đáng âu lo, mặc dầu tại những quốc gia mà hiện tượng này chưa được chú ý tới theo phương diện hệ thống pháp lý. Hiện tượng này còn đáng âu lo hơn tại những quốc gia đã tuyên bố thừa nhận về mặt pháp lý các kết hợp đồng phái tính hay những quốc gia có ý làm như vậy, mà trong vài trường hợp, bao hàm đến khả năng được nhận con nuôi. Những nhận xét này không có gì mới lạ về mặt Giáo Lý. Những nhận xét này có ý nhắc lại những yếu tố thiết yếu về vấn đề này và cung cấp những luận cứ hợp lý, sẽ giúp các Giám mục soạn thảo những can thiệp chuyên biệt hơn, tùy theo những hoàn cảnh riêng tùy theo các quốc gia khác nhau thế giới. Những can thiệp này nhằm bảo vệ và thăng tiến phẩm giá hôn nhân, nền tảng gia đình, cũng như sự vững bền xã hội mà cơ chế này là một thành phần cấu tạo.
Mục đích những nhận xét này cũng để soi sáng hành động của những chính trị gia Công Giáo và chỉ cho họ những cách cư xử thích đáng theo lương tâm Kitô hữu khi họ phải đương đầu với những dự luật liên quan đến vấn đề này. (2) Vì đây là một vấn đề liên quan đến luật luân lý tự nhiên, những luận chứng này không chỉ được đề nghị với các tín hữu mà thôi, mà còn đua ra cho tất cả những người dấn thân cổ võ và bảo vệ công ích xã hội.
I. BẢN CHẤT VÀ NHỮNG ÐẶC ÐIỂM THIẾT YẾU CỦA HÔN NHÂN
2. Huấn giáo của Giáo hội về hôn nhân vàvề sự bổ sung lẫn nhau giữa các phái tính lập lại lần nữa đến một chân lý hiển nhiên đối với lẽ thật và đã được nhìn nhận bởi tất cả những nền văn hóa lớn trên thế giới. Hôn nhân không phải là một sự kết hợp nào đó giữa những con người. Hôn nhân được Đấng Sáng tạo thiết lập với bản tánh riêng biệt của nó, được phú bẩm bắng những mục đích và những tính chất thiết yếu. (3)
Không một ý thức hệ nào có thể xóa khỏi lòng trí con người sự chắc chắn này: hôn nhân chỉ hiện hữu giữa hai người khác phái bằng sự hiến thân riêng biệt và duy nhất cho nhau, hầu nhắm tới sự hiệp thông bản thân cho nhau. Như vậy, hai người tự hoàn thiện lấy nhau để cộng tác với Thiên Chúa trong việc sinh sản và giáo dục những con người mới.
3. Chân lý tự nhiên về hôn nhân đã được Mặc Khải xác nhận trong những tường thuật Kinh Thánh về sự sáng tạo, cũng là sự diễn tả tính khôn ngoan nhân bản nguyên thủy mà tiếng nói của chính tạo vật được nghe thấy. Sách Sáng Thế nói về ba dữ kiện cơ bản trong ý định sáng tạo về hôn nhân.
Thứ nhất con người là hình ảnh Thiên Chúa, đã được tạo dựng "có nam có nữ" (St 1,27). Người nam và người nữ ngang hàng với nhau trong phương diện con người và bổ sung cho nhau về phương diện "nam và nữ". Một đàng, phái tính là sự gì đó mà nói lên được thành phần của lĩnh vực sinh thái; đàng khác xét về mặt nhân sinh, phái tính được nâng lên tới một mực độ mới, nơi thân xác và tinh thần kết hợp với nhau.
Kế đến là hôn nhân được Đấng Sáng Tạo thiết lập thành một trạng thái sự sống trong đó thực thi sự hiệp thông nhân vị, sự hiệp thông này bao gồm đến việc xử dụng những năng lực của phái tính. "Bởi thế, người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt" (St 2, 24)
Sau hết, Thiên Chúa đã muốn phú cho sự kết hợp giữa người nam và nữ một sự tham gia đặc biệt vào công trình sáng tạo của Người. Cho nên Người đã chúc phúc họ qua những lời này: "Hãy sinh sôi nẩy nở thật nhiều" (St 1, 28).
Theo ý định của Đấng Sáng tạo, sự bổ sung các phái tính và khả năng sinh sản như thếlà thuộc về chính bản tính cơ chế của hôn nhân.
Hơn nữa, sự kết hợp hôn nhân giữa người nam và người nữ đã được Chúa Kitô nâng giá trị lên hàng bí tích. Giáo hội dạy rằng hôn nhân Kitô hữu là dấu hiệu nghiệm của giao ước giữa Chúa Kitô và Giáo Hội (x. Ep 5, 32). Thay vì làm giảm giá trị nhân bản thật của sự kết hợp vợ chồng giữa người nam và người nữ, thì ý nghĩa hôn nhân Kitô hữu lại được củng cố và tăng cường. (x. Mt 19, 3-12; Mc 10, 6-9).
4. Không có một cơ sở tuyệt đối nào để đồng hóa những kết hợp giữa người đồng phái tính hay coi tương tự giống như ý định của Thiên Chúa về hôn nhân và gia đình. Hôn nhân là thánh thiêng, đang khi những tương quan đồng phái tính thì đi nghịch lại với luật luân lý tự nhiên. Trên thực tế những hành vi đồng tính luyến ái, "loại bỏ chủ đích truyền sinh của hành vi tính dục. Những hành vi đó không phát xuất từ nhu cầu bổ túc thực sự về tình cảm và tính dục. Những hành vi đó không thể được chấp thuận trong bất cứ trường hợp nào" (4).
Trong Kinh Thánh, những quan hệ đồng phái tính "bị kết án như những suy đồi nghiêm trọng... (x. Rm 1,24-27; 1 Cor 6,10; ! Tm 1, 10). Phán đoán này của Kinh Thánh không cho phép kết luận rằng tất cả những ai mắc phải tính bất thường này chịu trách nhiệm cá nhân về những điều ấy, nhưng khẳng định rằng những hành vi đồng tính luyến ái tự bản chất là sai lạci". (5) Cũng một phán đoán luân lý được lập lại nơi nhiều văn sĩ giáo hội vào những thế kỷ đầu (6) và được Truyền thống Công Giáo nhất trí chấp nhận
Nhưng theo huấn giáo Giáo hội, những người nam và người nữ mắc những xu hướng đồng phái tính "phải được đối xử với lòng tôn trọng, thông cảm và tế nhị. Con người phải tránh tất cả những dấu kỳ thị bất công đối với họ" (7).Hơn nữa những người này được kêu gọi như những kitô hữu khác để sống đời khiết tịnh. (8) Nhưng xu hướng đồng phái tính thì "khách quan đã là thác loạn " (9) và những hành vi đồng tính luyến ái là những "tội nghịch nặng nề với Ðức khiết tịnh". (10)
II. NHỮNG THÁI ÐỘ ÐỐI VỚI VẤN ÐỀ NHỮNG KẾT HỢP GIỮA NGƯỜI ÐỒNG PHÁI TÍNH.
5. Ðương đầu với sự kiện những kết hợp đồng phái tính, các thẩm quyền dân sự có những thái độ khác nhau: đôi khi những thẩm quyền đó nhân nhượng chấp nhận hiện tượng này; đôi khi họ vận động hợp thức hóa cho những kết hợp đó viện lý do cho những quyền lợi nào đó hay tránh đi sự kỳ thị đối với những người sống chung với người đồng phái tinh. Trong những trường hợp khác họ đi tới việc ủng hộ về mặt pháp lý của những kết hợp đồng phái tính tương đương với hôn nhân, cùng với tình trạng có thể cho phép nhận con nuôi.
Nơi nào chính sách nhà nước trên thực tế nhân nhượng và không dứt khoát thừa nhận về mặt pháp lý đối với những hình thức sống chung này, thì thật là cần thiết để phân định kỹ lưỡng các khía cạnh khác nhau của vấn đề. Lương tâm luân lý đòi hỏi rằng trong mọi hoàn cảnh người Kitô hữu phải làm chứng về chân lý luân lý nguyên vẹn vốn đi ngược lại đến sự thừa nhận các hành vi của người đồng phái tính cũng như sự kỳ thị bất công đối với những người đồng tính luyến ái.
Vậy thì nên có những sư can thiệp kín đáo và khôn ngoan; có thể bao hàm tới như: vạch trần đường lối trong việc lạm dụng hay ý thức hệ mà người ta có thể thực hiện do sự nhân nhượng này; xác nhận rõ ràng tính chất vô luân của kiểu kết hợp này; nhắc cho nhà Nước sự cần thiết kềm hảm hiện tượng này trong những giới hạn không nguy hại đến bối cảnh luân lý chung, và nhất là đừng lôi kéo những thế hệ trẻ theo một quan niệm sai lầm về tình dục và hôn nhân, tước đọat khỏi chúng những sự bảo vệ cần thiết và hơn nữa lại góp phần phổ biến chính hiện tượng đó.
Ðối với những ai từ chỗ nhân nhượng cho đến hợp pháp hóa những quyền riêng cho việc sống chung của những người đồng phái tính, họ cần phải được nhắc nhớ rằng việc khoan nhượng đối với điều tai hại hoàn toàn khác với hợp thức hóa điều tai hại. Khi phải chạm trán với sự thừa nhận pháp lý đối với những kết hợp đồng phái tính, hay là với sự kiện đồng hóa về mặt pháp lý giữa những kết hợp đồng phái tính với hôn nhân, việc chống đối một cách rõ ràng và dứt khoát là một bổn phận. Con người phải tránh mọi hình thức hợp tác chính thức trong việc quảng bá hay áp dụng những luật lệ bất công nghiêm trọng như thế, và càng tránh được bao nhiêu có thể bấy nhiêu trong việc cung cấp tài liệu về mặt áp dụng chúng. Về mặt này, mỗi người có thể đòi quyền phủ quyết theo lương tâm.
III. NHỮNG LUẬN CHỨNG HỢP LÝ CHỐNG SỰ THỪA NHẬN PHÁP LÝ ÐỐI VỚI NHỮNG KẾT HỢP ÐỒNG PHÁI TÍNH.
6. Muốn thấu hiểu những lý do tại sao cần thiết chống đối những trường hợp nhằm hợp pháp hóa các kết hợp đồng phái tínhnhư thế, thì cần đòi hỏi những nhận xét đạo Ðức riêng biệt thuộc những loại khác nhau.
Theo trật tự của lẽ phải
Phạm vị của luật dân sự chắc chắn bị hạn chế hơn so với luật luân lý; (11) nhưng, luật dân sự không thể đi ngược lại với lẽ phải mà không mất đi hiệu lực ràng buộc lương tâm (12) Tất cả luật pháp do con người được coi là hợp pháp bao lâu nó còn thích hợp với luật luân lý tự nhiên, được lẽ phải công nhận, và nhất là bao lâu nó còn tôn trọng đến những quyền bất khả nhượng của mổi người (13). Những luật pháp ủng hộ các kết hợp đồng phái tính thì nghịch lại với lẽ phải bởi vì chúng ban bố những luật pháp bảo đảm cho sự kết hợp giữa hai người đồng phái tính ngang hàng với hôn nhân. Vì những giá trị đang bị đe đọa cho vấn đề này, nhà Nước không thể hợp pháp hoá những kết hợp này mà lại không mắc lỗi bổn phận đến việc cổ võ và bảo vệ hôn nhân là cơ cấu thiết yếu cho công ích.
Người ta có thể thắc mắc tại sao lại đi nghịch với công ích vì nó không áp đặt một cách xử sự riêng biệt nào, nhưng chỉ hợp pháp hóa một thực tại mà xem ra không bao hàm một sự bất công nào đối với ai. Trong vấn đề này, trước hết nên suy nghĩ tới sự khác biệt hiện hữu giữa cách hành xử đồng phái tính là một hiện tượng có tính cá nhân với cách hành xử của sự quan hệ được dự kiến trước trong xã hội và đã được luật pháp công nhận để trở thành một trong những cơ chế trong hệ thống pháp lý. Hiện tượng thứ hai này không những nghiêm trọng hơn nhưng còn coi là lan rộng nhiều hơn và ảnh hưởng thâm sâu hơn và sẽ dẫn đến nhưng sự thay đổi toàn thể tổ chức trong xã hội đi nghịch lại với công ích. Những luật dân sự là những quy luật xây dựng sự sống con người trong lòng xã hội, đưa đến sự lành hay sự dữ. Chúng "đóng một vai trò rất quan trọng và đôi khi giữ vai trò quyết định ảnh hưởng đến những tư tưởng và tập quán". (14)
Những lối sống và những điều được phỏng định, tất cả điều này không những tạo nên cách sống xã hội bề ngoài, nhưng cũng còn có xu hướng sửa đối đến sự nhận thức và sư đánh giá những cách ứng xử cho thế hệ trẻ. Như vậy sự hợp pháp hóa những kết hợp đồng phái tính sẽ sinh ra hậu quả là làm mờ ám sự nhận thức một số gia trị luân lý cơ bản và làm hạ giá đến cơ cấu hôn nhân.
Theo trật tự sinh thái và nhân văn
7. Trong những kết hợp đồng phái tính, hoàn toàn vắng bóng những yếu tố sinh thái học và nhân loại học của hôn nhân và của gia đình, mà dựa vào lý trí nó sẽ là nền tảng để cho phép sự thừa nhận chúng về mặt pháp lý. Những kết hợp này không còn khả năng bảo đảm một cách thích đáng đến sự sinh sản và sự sống còn của nhân loại. Khả năng dùng đến các phương pháp thụ thai nhân tạo được khám phá mới đây, sẽ bao hàm những thiếu sót trầm trọng đến sự tôn trọng nhân phẩm (15) và không thay đổi được gì cho sự không thích đáng này.
Trong những kết hợp đồng phái tính cũng không có chiều kích vợ chồng mà lẽ ra các tương quan tình dục mang một hình thức nhân bản và trật tự. Thật vậy, những tương quan tính dục này được coi là nhân bản bao lâu chúng diễn tả và cổ võ đến sự nâng đỡ lẫn nhau giữa giới tính trong hôn nhân và không hạn chế đến việc truyền sinh.
Như kinh nghiệm chứng minh cho thấy sự thiếu vắng bổ sung sinh dục trong những kết hợp đồng phái tính này tạo nên những ngăn trở cho sự phát triển bình thường nơi các trẻ em khì chúng bị đặt dưới sự chăm sóc của những người đồng phái tính. Những trẻ em này bị tướt đoạt mất kinh nghiệm đến tình cha hay tình mẹ. Cho phép những cặp đồng phái tính nhận trẻ em qua chế độ con nuôi, chẳng khác nào là đối xử bạo tàn với chúng, có nghĩa là người ta lợi dụng tình trạng lệ thuộc của trể em để áp đặt chúng vào môi trường không được phát triển nhân bản đầy đủ.
Chăc chắn một việc như thế mang tính vô luân trầm trọng và trái ngược trắng trợn với nguyên tắc cũng được thừa nhận bởi Qui Ước quốc tế Liên Hiệp Quốc về các quyền của trẻ em, mà theo nguyên tắc đó, quyền lợi tốt đẹp nhất cho trẻ em là chúng phải được bênh vực trong mọi tình huống vì chúng là thành phần yếu nhất và không được tự vệ.
Theo trật tự xã hội
8. Xã hội thừa nhận đến sự sống còn là nhờ gia đình xây dựng trên hôn nhân. Hậu quả không thể tránh được cho sự thừa nhận hợp pháp các kết hợp đồng phái tính, là việc tái định nghĩa hôn nhân theo đó đối với người thích quan hệ tình dục, hôn nhân đã mất đi những yếu tố cần thiết lại trở thành hợp pháp, ví dụ như bổn phận sinh sản và giáo dục. Nếu đứng theo phương diện pháp lý, hôn nhân giữa hai người khác phái chỉ được coi như một trong những hình thức hôn nhân, thì ý niệm hôn nhân sẽ bị thay đổi tận gốc rễ, và điều này có hại cho công ích. Khi đặt sự kết hợp đồng phái tính trên một bình diện pháp lý tương đương tới mặt pháp lý của hôn nhân hay gia đình, Nhà Nước tự quyền hành động và đi ngược lại với bổn phận mình.
Nguyên lý tôn trọng và không phân biệt đối xử không thể được viện dẫn để ủng hộ sự hợp pháp hoá các kết hợp đồng phái tính. Trên thực tế, sự phân biệt giữa con người hay phủ nhận đến sự công nhận xã hội hay phúc lợi xã hội thì không thể chấp nhận được chỉ khi nào nó nghịch với công lý. Không ban qui chế xã hội và pháp lý thuộc hôn nhân cho những hình thức sống chung không có tính hôn nhân hay không thể có tính hôn nhân, thì không đi nghịch lại với công lý (16) Nhưng trái lại chính nó là công lý đòi hỏi điều ấy.
Cũng không thể viện dẫn cách hợp lý nguyên lý về quyền tự trị phải có của con người. Một mặt khi mỗi công dân có thể thực hiện tự do những sinh hoạt mà họ cảm thấy thích thú, khi nói chung những sinh hoạt đó là thành phần của những quyền và của những tự do dân sự chung; mặt khác và rất khác biệt, khi những sinh hoạt không có đóng góp ý nghĩa và tích cực cho sự phát triển con người và xã hội, mà lại có thể nhận được về phía nhà Nước sự thừa nhận pháp lý riêng biệt và đủ tư cách. Ngay cả trong một cảm giác tương tự mơ hồ đến những kết hợp đồng phái tính không làm tròn những nhiệm vụ mà hôn nhân và gia đình đáng được sự công nhận một cách tuyệt đối minh bạch. Ngược lại, có đủ những lý lẽ để khẳng định rằng những kết hợp kiểu đó là có hại cho sự phát triển lành mạnh cho xã hội loài người, nhất là ảnh hưởng của chúng trên xã hội đã trên đà gia tăng
Theo trật tự luật pháp
9. Luật dân sự ban cho những đôi kết hôn một sự thừa nhận cơ chế bởi vì họ làm tròn vai trò bảo đảm sự tiếp nối các thế hệ và như vậy là có lợi ích chung. Trái lại những kết hợp đồng phái tính không cần thiết đòi hỏi một sự chú ý đặc biệt về mặt pháp lý, bởi vì những phối hợp đó không không thi hành chức năng này vì lợi ích chung. Luận cứ không vững chắc khi cho rằng thừa nhận pháp lý đối với những kết hợp người đồng phái tinh là cần thiết hấu tránh đi những tình trạng ăn ở chung của người đồng phái tính, chỉ vì sống chung với nhau, điều này có thể tước mất đi sự công nhận thức sự đến quyền lợi của họ là những con người và là những người công dân
Trên thực tế, -như tất cả các công dân và trên nền tảng tự trị riêng của họ - họ có thể luôn luôn viện dẫn luật chung để dàn xếp những vấn đề pháp lý có lợi ích hỗ tương. Nó sẽ là một bất công trầm trọng nếu hy sinh đến công ích và quyền gia đình, nhằm bảo vệ những lợi ích cá nhân mà những lợi ích tư riêng ấy có thể và phải được đảm bảo bằng đường lối không hại đến cho cơ cấu xã hội. (17)
IV. NHỮNG CÁCH ỨNG XỬ CỦA NHỮNG NHÀ CHÍNH TRỊ CÔNG GIÁO ÐỐI VỚI LUẬT PHÁP ỦNG HỘ NHỮNG CẶP ÐỒNG PHÁI TÍNH.
10. Nếu tất cả các tín hữu buộc phải chống đối sự thừa nhận pháp lý cho những kết hợp đồng phái tính thì đối với những người chính trị Công Giáo là những chính trị gia duy trì trách nhiệm của họ, buộc phải thi hành trong một chiều hướng đặc biệt. Trước những dự luật ủng hộ các kết hợp đồng phái tính, các chính trị gia Công Giáo phải coi trọng những chỉ dẫn đạo đức sau đây:
Trong trường hợp được đề nghị lần đầu tiên tại Hội đồng lập pháp, một dự luật ủng hộ sự thừa nhận pháp lý các kết hợp đồng phái tính, nhà lập pháp Công Giáo có bổn phận luân lý bày tỏ rõ ràng và công khai sự bất đồng ý kiến của mình và bỏ phiếu chống lại dự luật này. Bỏ phiếu ủng hộ một bản văn luật pháp có hại cho công ích xã hội như vậy sẽ là một hành vi vô luân nặng.
Trong trường hợp pháp luật đã có hiệu lực thiên về những kết hợp đồng phái tính, thì chính trị gia Công Giáo ấy phải chống đối bằng những phương tiện có thể được và đưa ra lời phải đối của mình. Ðó là nhiệm vụ của người ấy làm minh chứng cho chân lý. Nếu không thể hủy bỏ hoàn toàn một đạo luật như thế, chính trị gia Công Giáo có thể dựa vào những sự chỉ dẫn trong thông điệp Evangelium Vitae, "được phép ủng hộ những đề nghị nhằm hạn chế các mối thiệt hại của luật đó và như vậy làm giảm bớt những hiệu quả tiêu cực trên bình diện văn hóa và đạo Ðức công", miễn là mọi người thấy và biết "sự tuyệt đối chống đối một cách đích thực” của mình đối với những luật thuộc loại này và tránh được nguy hiểm gây gương xấu. (18). Ðiều này không có nghĩa là một luật hạn chế hơn có thể được coi là đúng đắn, hay ít ra có thể chấp nhận được; nhưng đúng hơn khi không thể bài trừ hoàn toàn thì đó là một nỗ lực hợp pháp và cần thiết nhắm hủy bỏ ít ra đến từng phần đến một quy luật bất công
KẾT LUẬN
11. Giáo hội dạy rằng sư tôn trọng đối với những người đồng phái tính không thể dẫn dẫn tới sự tán thành cách hành xử của người đồng phái tính hay là dẫn tới sự nhìn nhận pháp lý những kết hợp đồng phái tính. Công ích đòi buộc các luật pháp phải nhìn nhận, ủng hộ và bảo vệ sự kết hợp hôn nhân như là nền tảng của gia đình là tế bào đầu tiên xã hội.
Công nhận trên pháp lý những phối hợp đồng phá tínhi hay là đồng hóa chúng với hôn nhân, không những là tán thành một cách ứng xử sai quấy, vì thế lấy nó làm một mẫu trong xã hội hiện nay, nhưng còn che giấu những giá trị cơ bản thuộc di sản chung của nhân loại. Giáo hội không thể không bảo vệ những giá trị đó vì lợi ích của những người nam và người nữa và vì lợi ích cho chính xã hội.
Trong buổi triều yết ngày 28/3/ 2003 dành cho Hồng Y Chủ tịch ký tên dưới đây, Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã phê chuẩn những nhận xét này, được quyết định trong Khóa hợp thường lệ của Bộ Giáo Lý Ðức tin, và đã truyền lệnh cho phổ biến
Rome, làm tại trụ sở Bộ Giáo Lý Ðức tin, ngày 3/6/2003, ngày kính nhớ Thánh Charles Lwanga và các bạn tử đạo.
Ðức Hồng Y Joseph Card.Ratzinger
Tổng Trưởng Bộ Giáo Lý Ðức Tin
Tổng Giám Mục Angelo Amato, S.D.B.
Thư Ký Bộ Giáo Lý Ðức Tin
(1) X. Gioan Phaolô II, Những huấn dụ khi đọc kinh Truyền tin, 20/2/1994 và 19/6/1994; Diễn văn trước Hội Nghị khoáng đại của Hội đồng Giáo Hoàng về Gia đình, 24/3/1999; sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo, số 2357-2359, 2396; Bộ Giáo Lý Ðức tin, Tuyên ngôn Persona Humana, 29/12/1975, n.8;
Thư mục vụ cho những người đồng tính luyến ái, I/10/1986; Một vài nhận xét về sự trả lời cho những đề nghị của luật về sự không-kỳ thị những người đồng tính luyến ái, 24/7/1992; Hội đồng Giáo Hoàng về Gia Ðình, Thư gởi các chủ tịch những Hội Ðồng Giám Mục Châu Âu về sự giải quyết của Quôc hội châu Âu đối với những đôi đồng phái, 25/3/1994; Gia đình, hôn nhân và "những phối hợp thật tế", 26/7/2000, n.23.
(2) Bộ Giáo Lý Ðức tin, Ghi chú giáo lý về một số vấn đề đối với sự cam kết và cách ứng xử của những người Công Giáo trong đời sống công, 24/11/ 2002, n.4.
(3) X. Công đồng Vatican II, Hiến chế mục vụ Gaudium et Ses, n. 48.
(4) Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo, n.2357.
(5) Bộ Giáo Lý Ðức Tin, Tuyên ngôn Persona humana, 29/12/1975, n.8.
(6) X.ví dụ T.Polycarpe, Thư gởi người Philippiens, V, 3; S.Justin, Biện hộ thứ nhất, 27, 1-4; Athénagoras, Đơn thỉnh cầu cho các người Kitô hữu, 34.
(7) Giáo lý Giáo Hội Công Giáo, n.2358; x.Bộ Giáo Lý Ðức tin, Thu mục vụ đối với những người đồng tính luyến ái, I/10/1986, n. 10.
(8) X.Giáo lý Giáo hội Công Giáo, n.2359; Bộ Giáo lý Ðức tin, Thư mục vụ đối với những người đồng tính luyến ái, 1/10/1986, n.12.
(9) Giáo lý Giáo Hội Công Giáo, n.2358.
(10) Ibid., n. 2396.
(11) X. Gioan Phaolô II, Thông điệp Evangelium Vitae, 25/3/1995, n. 71.
(12) X. ibid., n.72.
(13) X. T,Thomas d' Aquin, Summa Theologiae, I-II,q.95,a.2.
(14) Gioan Phaolô II Thông điệp Evangelium Vitae, 25/3/1995, n. 90.
(15) X. Bộ Giáo Lý Ðức tin, Huấn thị Donum Vitae, 22 février 1987, II. A. 1-3.
(16) X. T.Thomas d' Aquin, Summa Theologiae II-II, q. 63, a.1,c.
(17) Cũng không nên quên rằng luôn có nguy hiểm "là môt luật pháp biến loạn dâm đồng phái tính thành một nền tảng để có được những quyền, trên thực tế có thể khuyến khích môt người có những xu hướng đồng tính luyến ái tuyên bố tính dâm loạn đồng phái của mình hay có khi tìm một người bạn với mục đích để hưởng những đặc ân của luật phát" ( Bộ Giáo Lý Ðức tin, Một vài nhận xét liên quan tới sự trả lời cho những đề nghị của luật về sự không nên kỳ thị những người đống tính luyến ái, 24/7/1992, n. 14).
(18) Gioan Phaolô II. Thông điệp Evangelium Vitae, 25/3/1995, n.73