VATICAN (Zenit.org)- Toàn văn bài huấn đức của Đức Gioan Phaolô II trong buổi Triều Yết Chung ngày thứ Tư 23/7, Ngài suy tư Thánh Vịnh 146 [147], một thánh thi ca tụng "quyền năng và lòng nhân lành của Chúa."

* * *

1. Thánh Vịnh vừa mới được hát lên là phần đầu của một sáng tác cũng bao gồm Thánh Vịnh 147 kế tiếp, bản gốc Do thái nhập hai thành một. Những bản cũ Hy lạp và Latinh lại chia đôi bài hát thành hai Thánh Vịnh khác nhau.

Thánh Vịnh bắt đầu bằng một lời mời ca tụng Thiên Chúa và tiếp sau mộtchuổi dài những lý do phải ca tụng, tất cả đều được diễn tả trong thời hiện tại. Có những sinh hoạt của Thiên Chúa được coi như là đặc điểm và luôn luôn có tính thời sự; dầu sao, chúng có nhiều bản tánh khác nhau: một số qui chiếu về những lần can thiệp của Chúa vào sự sống con người (x. Tv 146: 3,6,11) và nhất là chiếu cố đến Jerusalem và Israel (x.c.2); những phần khác qui chiếu về vũ trụ được sáng tạo (x.c.4) và đặc biệt nhất là về trái đất với thực vật và động vật của nó (x.cc. 8-9).

Sau cùng, bằng cách diễn tả người mà Thiên Chúa ưa thích, Thánh Vịnh mời chúng ta phải có hai thái độ: lòng kính sợ Chúa và lòng trông cậy (x. c 11).Chúng ta không bị bỏ rơi một mình và cho những năng lực vũ trụ, nhưng chúng ta luôn luôn ở trong tay Chúa, theo chương trình cứu rỗi của Người.

2. Sau lời mời vui mừng ca tụng (x.c.1),Thánh Vịnh mở ra thành hai phần có tính thi ca và thiêng liêng. Trước hết, phần thứ nhất (x. cc.2 -6) dẫn nhập đến hành động lịch sử của Chúa, dưới hình ảnh một người xây dựng tái thiết Jerusalem, trở về với cuộc sống sau thời lưu đày Babilon (x.c.2) Dầu vậy, kiến trúc sư vĩ đại này là chính Chúa, mặc khải mình như một người cha nghiêng mình xuống những vết thương nội tâm và thể lý, hiện diện trong dân cư bị hạ nhục và bị áp bức (x.c.3).

Trong bài Giải thích Thánh Vịnh 146 ('Esposizione del Salmo 146), trình bày tại Carthage năm 412, Thánh Augustine đã bình luận về câu này như sau: "Chúa chữa trị người có con tim tan nát": "Bất cứ ai không có con tim tan nát thì không thể được chữa trị... Những ai thì có con tim tan nát? Là những người khiêm tốn. Và những ai lại không có con tim tan nát? Ðó là những kẻ kiêu căng. Do đó, con tim tan nát được chữa trị, và con tim đầy kiêu căng thì bị hạ xuống.

Còn điều gì nữa, trong mọi sự có thể, nếu nó bi hạ xuống chính vì vậy mà một khi bị tan nát, nó có thể được làm thẳng ra, có thể được chữa trị... 'Chúa chữa trị người tan nát con tim, băng bó những vết thương của họ'... Nói cách khác, Chúa chữa trị những người khiêm tốn, những kẻ thú tội, những người đền tội, những kẻ lên án mình cách thẳng tay để có khả năng kinh nghiệm đến lòng thương xót của Người. Kìa người được Chúa chữa trị. Dầu sao, sức khoẻ hoàn toàn chỉ đạt được đến tình trạng hay chết hiện nay, khi hũu thể hư nát chúng ta sẽ mặc lấy sự không hư nát và hữu thể hay chết của chúng ta sẽ mặc lấy sự bất tử" (5-8" Những trình bày về các Thánh Vịnh--Esposizioni sui Salmi-,IV Rome, 1977,pp.772-779).

3. Nhưng công trình của Chúa không chỉ được bày tỏ khi chữa trị dân người khỏi những đau khổ của nó. Đấng bao bọc kẻ nghèo với tình yêu và chăm sóc, lại xuất hiện như một thẩm phán nghiêm khắc khi giáp mặt với kẻ ác (x. c,6). Thiên Chúa lịch sử không làm ngơ trước sự hung tàn của kẻ kiêu ngạo tưởng mình là những trọng tài duy nhất của các việc làm con người. Chúa hạ xuống đất đen những kẻ bất chấp thiên đường với sự kiêu ngạo của mình (x. 1 Samuel 2:7-8; Luke 1:51-53).

Dâu sao, hành động của ThiênChúa không kiệt quệ trong việc quản trị qua giòng lịch sử; người cũng là vua tạo vật; toàn thể vũ trụ đáp ứng tiếng gọi của Người như Đáng sáng tạo. Không những Người có thể đếm tất cả những loại ngôi sao, Người còn có thể gọi tên từng ngôi một, như vậy Người ấn định bản tánh và những đặc điểm của nó )x. Tv 146, 4).

Tiên tri Isaiah đã hát: "Hãy đưa mắt lên cao mà nhìn:ai đã sáng tạo những vật đó? Đấng tung ra toàn bộ đạo binh các tinh tú, Người goi đích danh từ ngôi một" (40: 26). "Đạo binh" của Chúa, là các ngôi sao. Tiên tri Baruch nói thêm :"các tinh tú, mỗi ngôi ở vị trí mình, tưng bừng chiếu sáng; Người gọi chúng, chúng thưa, 'Có mặt!' Chúng hân hoan chiếu sáng mừng Đấng tạo nên mình" )3: 34-35).

4. Sau một lời mời vui mừng mới để ca tụng (x. Tv 146,7),bắt đầu đến phần thứ hai của Thánh Vịnh 146 (cc 7-11) Hành động sáng tạo của Chúa trong vũ trụ lại được bày tỏ trong khung cảnh. Trong một vùng đất thường khô hạn, như vùng đất phương Đông, dấu chỉ đầu tiên tình yêu của Chúa là mưa làm cho đất ra phì nhiêu (x. c.8). Như vậy, Đấng Sáng tạo dọn một bàn ăn cho thú vật. Điều hơn nữa, Chúa chăm lo ban phát lương thực cho hữu thể nhỏ nhất, như những con quạ con kêu đói (x. c.9). Chúa Giêsu sẽ mời chúng ta xem "những chim trời: chúng không gieo, không gặt không thu tích vào kho, thế mà Cha anh em trên trời vẫn nuôi chúng" (Mt.6:26; x. Lc 12: 24 với sự qui chiếu rõ ràng về các "con qua").

Nhưng lại một lần nữa sự chú ý chuyển từ tạo vật đến sự sống con người. Và như vậy Thánh Vịnh kết thúc bằng cách chứng tỏ Chúa cuối xuống nhìn kẻ công chính và khiêm tốn (x. Tv 146: 10-11), cũng như đã nói trong phần thứ nhất bài thánh thi (x. c. 6).

Qua hai biểu trưng sức mạnh, con ngựa và chân người, thái độ thần linh được phác họa, thái độ không để mình bị chinh phục hay bị dọa dẫm bởi sức mạnh.

Một lần nữa, luận lý của Chúa coi thường sự hãnh diện và tính kiêu ngạo của kẻ quyền thế, nhưng đứng về phía người hiếu trung, " người cậy trông ở tình thương của Người" (c.11), nghĩa là, kẻ theo sự hướng dẫn của Chúa trong hành động và suy nghĩ của mình, trong những chương trình của mình và trong sự sống hằng ngày của mình.

Giữa những sự này, người cầu nguyện cũng phải đặt mình, dựa niềm hy vọng của mình trong ân sủng Chúa, vì chắc được bao bọc trong áo choàng tình yêu của Chúa: "Chúa để mắt trông nom người kính sợ Chúa, kẻ trông cậy vào lòng Chúa yêu thương, hầu cứu họ khỏi tay thần chết và nuôi sống họ trong buổi cơ hàn... Vâng, tâm hồn chúng tôi mừng rỡ, vì hằng tin tưởng ở Thánh Danh" (Tv 32: 18-19, 21).

Cuối buổi Triều yết, Đức Thánh Cha nói tóm bằng tiếng Anh:

Anh chị em thân mến,

Thánh Vịnh chúng ta vừa nghe mời gọi chúng ta ca tụng Chúa và đưa ra nhiều lý do tại sao chúng ta phải ngợi khen Người. Người là Chúa lịch sử và đem sự cứu rỗi đến cho dân Người, lo lắng đến những nhu cầu của họ trong những hoàn cảnh cụ thể thuộc sự sống của họ. Người cũng là Chúa tạo vật, và toàn thể vũ trụ đáp ứng ý muốn của Người. Lời ca ngợi cao nhất chúng ta có thể dâng lên Chúa chúng ta là đặt tất cả lòng tín cẩn và niềm hy vọng chúng ta trong Người, dâng cuộc đời chúng ta hoàn toàn cho Người và cho chương trình cứu rỗi của Người đối với muôn dân.

Tôi xin chào cách riêng đến những khách hành hương nói tiếng Anh hiện diện hôm nay, nhất là những người đến từ Ireland, Malta, Nigeria, Lapan và Hoa Kỳ. Xin Chúa hòa bình luôn luôn đổ tràn lòng anh chị em với ân ban niềm vui và sức mạnh của Người!