Huynh Đoàn Thánh Piô X là một hội huynh đệ linh mục Công Giáo truyền thống được thành lập năm 1970 bởi Đức Tổng Giám Mục Marcel Lefebvre. Lefebvre là một nhân vật theo chủ nghĩa truyền thống hàng đầu tại Công đồng Vatican II trong nhóm Coetus Internationalis Patrum, tiếng Latinh có nghĩa là nhóm các “Nghị Phụ Quốc Tế” và là Bề trên Tổng quyền của Dòng Chúa Thánh Thần cho đến năm 1968.
Huynh Đoàn ban đầu được thành lập như một Hiệp hội các tín hữu Kitô giáo của Giáo Hội Công Giáo với sự cho phép rõ ràng của Đức Cha François Charrière, Giám mục giáo phận Lausanne, Geneva và Fribourg của Thụy Sĩ.
Huynh Đoàn được đặt tên theo Đức Giáo Hoàng Piô X, người mà Huynh Đoàn nhấn mạnh lập trường chống chủ nghĩa hiện đại, giữ lại Thánh lễ Tridentinô và các sách phụng vụ trước Công đồng Vatican II bằng tiếng Latinh cho các Bí tích Thánh khác. Bề trên Tổng quyền hiện tại của Huynh Đoàn là Cha Davide Pagliarani.
Căng thẳng giữa Huynh Đoàn và Tòa Thánh lên đến đỉnh điểm vào năm 1988 với các lễ tấn phong ở Écône: Đức Tổng Giám Mục Lefebvre đã tấn phong bốn giám mục mà không có sự chuẩn y của Đức Giáo Hoàng và bất chấp lời cảnh báo cá nhân của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, dẫn đến tuyên bố của Vatican rằng các giám mục đã tham gia tấn phong hoặc được tấn phong đã phải chịu hình phạt vạ tuyệt thông tiền kết (Latæ Sententiæ).
Mặc dù SSPX phủ nhận rằng các giám mục phải chịu bất kỳ hình phạt nào, họ viện dẫn luật giáo hội để lập luận rằng các lễ tấn phong là được phép do cuộc khủng hoảng đạo đức và thần học trong Giáo Hội Công Giáo, khiến chúng được phép theo luật giáo hội.
Vào năm 2009, Đức Bênêđíctô đã tha vạ tuyệt thông đối với các giám mục còn sống theo yêu cầu của họ với hy vọng nhanh chóng đạt được “sự hòa giải trọn vẹn và sự hiệp thông hoàn toàn”.
Tình trạng pháp lý của Huynh Đoàn này vẫn còn gây tranh cãi. Năm 2017, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã ban năng quyền giải tội vô thời hạn cho các linh mục của Huynh Đoàn, và các giám mục địa phương được phép ủy quyền cho các linh mục của Huynh Đoàn chứng hôn trong các lễ cưới chính thức. Ngoài ra, Tòa Thánh đã chỉ định giám mục Fellay của SSPX làm thẩm phán trong một phiên tòa giáo luật chống lại một trong các linh mục của Huynh Đoàn.
Ý nghĩa của những sự công nhận này là, không giống như các bí tích Công Giáo khác, năng quyền giải tội và cử hành bí tích hôn phối đều đòi hỏi phải được thẩm quyền giáo luật chấp nhận mới có hiệu lực. Trong khi những người chỉ trích cho rằng các linh mục của Huynh Đoàn không được trao thẩm quyền cần thiết một cách rõ ràng, Huynh Đoàn này lập luận rằng họ có “thẩm quyền được cung cấp” để giải tội trong một “cuộc khủng hoảng khẩn cấp”.
Huynh Đoàn có hơn 700 linh mục và tổng cộng 1.482 thành viên. Một số dòng tu, chủ yếu đặt tại Pháp, có liên kết với Huynh Đoàn. Trên toàn cầu, ước tính có khoảng 600.000 người tham dự Thánh lễ của SSPX. Vào tháng 2 năm 2026, Huynh Đoàn tuyên bố ý định tấn phong các Giám mục mới vào ngày 1 tháng 7 năm 2026, bất kể có hoặc không có sắc lệnh của Tòa thánh, đồng thời từ chối đối thoại thêm với Tòa Thánh. Ngày 13 tháng 5 năm 2026, Hồng Y Víctor Manuel Fernández, nhà lãnh đạo Bộ Giáo lý Đức tin, đã đưa ra một tuyên bố chính thức nhắc lại rằng đây sẽ là một hành động ly giáo và bị vạ tuyệt thông tự động. Ngày 26 tháng 5 năm 2026, FSPPX công bố tên và tiểu sử của bốn linh mục dự kiến được tấn phong Giám mục là: Pascal Schreiber, Michael Goldade, Michel Poinsinet de Sivry và Marc Hanappier.
Một số tổ chức xuất phát từ SSPX, chẳng hạn như Huynh Đoàn Thánh Piô V, gọi tắt là SSPV theo phái trống tòa hay sedevacantist và Hội Linh mục Thánh Phêrô, gọi tắt là FSSP, được Giáo hoàng Gioan Phaolô II cho phép thành lập như một Hội Đời sống Tông đồ vào năm 1988.
Phái trống tòa hay sedevacantist là gì? Thưa, những người theo phái trống tòa tin rằng Giáo Hội Công Giáo hiện không có giáo hoàng thực sự. Họ tin rằng vị trí quyền lực tối cao đang trống rỗng. Hầu hết cho rằng Đức Giáo Hoàng Piô XII là nhà lãnh đạo hợp lệ cuối cùng. Họ bác bỏ các nhà lãnh đạo hiện tại vì những cải cách hiện đại.
Vào những năm 1960, các nhà lãnh đạo Giáo hội đã tổ chức Công đồng Vatican II. Các ngài đã thay đổi một số quy tắc và truyền thống của Giáo hội, như cho phép cử hành thánh lễ bằng ngôn ngữ địa phương thay vì tiếng Latinh. Những người theo chủ nghĩa truyền thống muốn giữ lại thánh lễ Latinh cũ. Một số người cảm thấy những thay đổi mới là sai lầm. Họ quyết định rằng các giáo hoàng mới không phải là giáo hoàng thực sự.
Source:Wiki