Tin, động-tác phát từ con tim
Lm Kevin O’Shea CSsR
Mai Tá lược dịch


Triết học, là như mình đang ở trong phòng tối lại cứ tìm chú mèo mun xem nó có trong đó không.
Siêu-hình-học, là như mình đang ở trong tối để tìm chú mèo mun vẫn không thấy nó trong đó.
Tin, là như đi vào phòng tối tìm chú mèo mun không thấy nó trong đó nhưng lại cứ la: tôi thấy nó!
Thần học, như thể kể cho mọi người biết mình ở trong phòng tối để tìm chú mèo mun không có đó
nhưng vẫn thấy nó và biết rằng mình có nói điều đó ra cũng chẳng ma nào tin.
Tu-đức-học, là như thể đi vào phòng tối tìm chú mèo mun lại cứ đoan chắc là nó không có đó
nhưng lại cứ nghĩ rằng mình vừa nghe như có tiếng nó kêu “meo meo” trong đó.
Giáo dục về đạo, là như thể đi vào phòng tối để tìm chú mèo mun biết chắc nó không có trong đó
nhưng lại vẫn tự hỏi không biết chú “mun” của mình có đó không.
Khoa học, là như ở trong phòng tối tìm chú mèo mun nhưng đã biết dùng đèn loé sáng để dễ thấy.

*

Tôi tin Chúa, điều này có nghĩa gì?

SAO LÀ TÔI? SAO LÀ TIN? SAO LÀ CHÚA?

2013 năm nay, Đức Giáo Hoàng Bênêđíchtô 16 đã yêu cầu Giáo Hội lập ‘Năm Thánh Đức Tin’ để mọi người cùng tìm về niềm tin. Cách đây không lâu, Đức Phaolô Đệ Lục cũng đã làm thế cho năm 1967-1968. Dù có thế, xem ra ngày nay, Đức Tin không còn là vấn-đề quan-yếu cần đặt ra cho chức sắc trong Đạo hoặc mọi người nữa. Tôi thiết nghĩ: ta còn nhiều việc quan trọng cần đặt ưu tiên, như: chuyện tập-thể-hoá lãnh-đạo, chuyện Hội thánh chưa cởi mở đủ với thực tại bên ngoài, vai-trò và vị-thế của nữ-giới trong xã-hội và Giáo-hội, chuyện người từng ly-dị rồi nay tái giá, chuyện tấn-phong linh-mục cho các vị có gia đình, chuyện Giáo Hội quá tập-trung quyền lực vào trung ương, Hội thánh quá cứng ngắc trong cung-cách giáo-huấn tình-dục, chuyện các linh mục ở đây đó cứ phải chạy “Show” hết nhà thờ này đến xứ đạo khác để chủ trì Tiệc Thánh do giáo-dân tổ chức mà các ngài không nắm chắc các giáo-dân ấy có đủ chức năng để làm thế không, vv. Dù thế nào đi nữa, sao lại gọi đó là Đức Tin?

Lại có nhiều vị cứ khẳng định: ngày nay, không ai đoan chắc được mình có được 100% đức tin không. Có vị khác lại bảo: hiện đang xảy ra sự-kiện gọi là: “niềm tin nay mệt mỏi”. “Tin” đây, là tin gì? Tin thế, có tiếp cận được cơ-quan thù-tiếp nơi người mình không? Lâu nay nhiều vị chẳng hề phẩm-bình gì về niềm tin theo cung cách họ vẫn bình-phẩm Hội thánh chuyện này khác. Xem như thế, có lẽ các vị ấy chắc cũng chẳng chú trọng gì nhiều đến niềm tin, chứ nhỉ? Ngay dữ-liệu đầy cảm-tính lại cũng được đưa vào địa-hạt rao-truyền Tin Mừng theo kiểu mới cũng chỉ chú ý rất ít đến vấn đề: Tin, có là động lực xuất tự con tim không? Ở đây, tôi dùng cụm từ “cảm-tính” không theo nghĩa kinh-nghiệm nổi trôi, như thể bảo: nay thì sốt sắng, mai kia mốt nọ lại đã biến dạng.” Đây là sự việc cứ tiếp diễn một cách sâu sắc. Và, đó cũng là lý do khiến ta đặt câu hỏi: đâu là cơ-phận trong con người mình ít được quan tâm, để tìm hiểu cho rõ.

Thế nên, nay cũng là dịp thuận để ta dành vài phút tư-duy về niềm tin trong khuôn khổ “Năm Thánh Đức Tin” 2013 này. Đi vào cụ thể, ta sẽ để ra hai buổi thảo-luận khác nhau: một, về: tác động của niềm tin xuất tự con tim diễn ra hôm nay, tháng 5/2013; và buổi thứ hai, về: nội-dung chính của Niềm tin và cung cách diễn tả theo văn hoá khác biệt. Buổi này sẽ diễn ra vào hạ tuần tháng 8/2013. Phải công nhận: tính nội-tại của niềm tin không được nhiều người đặt nặng trong “Năm Thánh Đức Tin” này. Tuy nhiên, càng ngày tôi càng xác tín rằng: đó là thực-chất cho mọi luận-bàn về niềm tin, thật sâu sắc. Dĩ nhiên, làm thế, ta có nguy cơ phát hiện ra rằng: ta chẳng bao giờ có động-lực tin-yêu phát xuất từ nội tâm hết! Hoặc, có khi còn “lầm lẫn” về niềm tin, coi đó như thứ gì không phải là tin và cũng chẳng yêu. Nên, từ đó, ta sẽ nhận thức rằng: quà tặng của tin-yêu như thế vẫn được Chúa phú ban, không ngưng nghỉ.

Tôi phải nói ngay rằng: đây không là niềm khích-lệ của sự việc mà bên tiếng La-tinh mọi người vẫn nói “sentire cum ecclesia” (tức “đồng-hành với Hội-thánh”) nhưng đây chỉ là bản phân-tích để ta hiểu rõ về niềm tin, khả dĩ làm nó nổi lên trên mặ,t nếu như và mỗi khi ta thực hiện việc này, và cả khi không ai làm thế. Giả như Hội thánh không có niềm tin, thì ta chẳng có gì để đồng hành, hết. Làm sao các thể-chế trong giáo-hội lại có niềm tin đích-thực được? Phải chăng tin là chuyện tư riêng/cá thể mà chỉ con người mới có? Thế nên, đây không là chương trình đề ra để ta đề-bạt/đề-xuất điều gì trong Năm Thánh Đức Tin, nhưng để ta nhìn vào khoảnh-khắc của niềm tin ta có vào bất cứ ngày nào trong năm.

Thêm điều nữa, ở đây tôi chỉ muốn nói: vấn nạn gay gắt về niềm tin có thể khiến một số người trong ta cảm thấy như bị doạ nạt này khác khiến có cảm tưởng là niềm tin ta có cũng quá nhỏ hoặc không đích xác là tin. Nói cho cùng, tôi vẫn muốn tỏ ra trung thực về chuyện này, nên sẽ kết luận rằng: mọi người chúng ta đều có lòng tin. Vâng. Đúng thế. Ai cũng có khả năng đạt kết cuộc để rồi sẽ cảm kích nói rằng: thực tế vượt quá những gì ta thường làm.

Tôi muốn nói thêm một điều nữa, là: nhìn về những ngày còn đi học –nhất là học về niềm tin đi Đạo- tôi thấy được điều mà người Trung cổ vẫn thường qui về điều mà các vị gọi là: “questio disputata”, tức: vấn đề dễ gây tranh cãi. Thật sự, ở đây, tôi chỉ muốn công-khai-hoá các dữ-kiện tiềm-ẩn để ta có thể và có nhu cầu đưa ra nhiều câu trả lời hơn chỉ một câu. Tôi thật sự chẳng muốn đệ-đạt một phương-án nào, dù cũ/mới, về niềm tin theo cung-cách đối nghịch hoặc tách rời nhau. Tôi muốn trình bày sự việc tuy có khác biệt nhưng tương tác với nhau trong khi chúng cùng một lúc hiện-diện bên nhau và với nhau. Các vấn đề như thế, tôi nghiêng về lập luận của tác giả Mikael Bakhtin trong bài nói về “tính nguyên-thủy” cần được giải-thích, nhưng cùng lúc ông lại vào Google để kiếm những điều ông muốn tìm.

*

Phần đầu này, tôi nhắm vào kinh-nghiệm thẳm-sâu về niềm tin. Và, thực hiện điều này cho trọn vẹn, ta cần xét kỹ, dù không đuợc trọn hảo, đối tượng hoặc cung cách nó diễn tả. Thông thường thì, động-tác thâm-sâu nội-tại này không được xét kỹ. Thế nên, tôi đề nghị ta nhấn mạnh đến khía-cạnh tâm-lý và thần-học của tác-động nội-tại đang đổi thay, như thế sẽ tốt hơn. Tôi sẽ để cho các mẫu mã -và một số phê-bình về điều đó- từ từ nổi lên trong khi ta khai thác dữ-kiện nào thấy có ở trong đó.

Đồng thời, ta cũng sẽ để ý đến yếu-tố năng-động/thần-thánh vẫn can-dự vào niềm tin thánh thiêng/linh đạo, chứ không chỉ xét xem người mới tin đang làm gì mà thôi, nhưng cả việc Thiên-Chúa-là-Tình-yêu đang khởi-sự có quan-hệ mới với những người mới tin. Tôi nghĩ điều này sẽ không được thần học đón nhận như một thực-thể. Thường thì, ta quá nhanh-nhẩu phân tích các bước tiến khác nhau trong tiến-trình tin-yêu nơi con người. Trong khi đó, lại ít sẵn sàng nắm vững tính bí-nhiệm để cho thấy Chúa chẳng ban chính tâm-trạng của chút nào hết.

Lâu nay, tôi vẫn cố gắng trình-bày dữ-kiện theo cách thăm-dò để học hỏi đôi điều thực tế rất trọn vẹn. Thăm dò như thế, bao giờ cũng cần tính kiên-nhẫn.

*

Dĩ nhiên, tài liệu chính ta sử dụng ở đây là Lời Chúa, tức: hiến chế về tín lý do Công Đồng Vaticăng 2 ban hành, còn văn bản kia là Hiến Chế “Ánh Sáng Muôn Dân”. Lúc ấy, mọi người đều thấy được chất tiểu-thuyết trong Hiến chế về Lời Chúa. Bởi, mặc-khải là cung cách Chúa đối-thoại xuất từ Ngài, và về Ngài. Bằng việc này, Ngài triển-khai cuộc trao-đổi/đối-thoại cả với ta, nữa. Thế nên, ta cần phương-án mang tính cảm-nghiệm tư riêng khi đối thoại. Về phần ta, đối thoại ấy là “Niềm Tin”. Và, chủ đích tôi nhắm đến ở đây, là dõi theo đường lối đối-thoại, qua học hỏi.

“Bản thể con người được đặt để một cách trọn vẹn và tự do trong tuyên-dương rất mực đầy tính thông-minh kiên-định để cho Chúa mặc-khải về chính Ngài, bằng việc tự nguyện thuận thảo với mặc khải.” (chương 5)

“Nhờ mặc khải đến từ tình yêu tràn đầy của Thiên-Chúa theo cách khó nhìn thấy nhưng được gửi cho con người theo tư cách bạn bè, nên Ngài chuyện trò với con người để rồi mời gọi họ đi vào hiệp-thông với Chúa Cha, để Cha chấp-nhận mọi người vào với sự hiệp thông thần thánh này.”


Đức Gioan Phaolô II có nói trong Tông Thư “Fides et Ratio” (tức: Niềm Tin và Lý Trí) mục đích là để nhắm vào niềm tin ta có. Năm 2007, ĐGH Bênêđíchtô 16 cũng ban hành Thông Điệp “Spe Salvi” (tức: Cứu Rỗi nhờ vào Hy vọng) mở đường cho Tông thư khác có tên là “Caritas in Veritate” (tức: Bác Ái nhờ vào Sự Thật). Thông điệp, gồm ba từ-vựng kép nói về Niềm Tin, Hy vọng và Thương Yêu. Nhưng, từ vựng kép này được dùng như khuôn khổ nhấn mạnh ý nghĩa của Thông điệp. Ý chủ ở Thông điệp này, là tuyên ngôn về tín-lý của đạo Công Giáo liên quan đến các thuyết-lý nhằm giảm-thiểu tính tập-trung đầu óc vào chuyện siêu-hình, đời sau và niềm tin, ân huệ là quà tặng. Tông thư do Đức Gioan Phaolô đệ Nhị ban hành là kết-quả một đời người có triết thuyết về tính hữu-sự, siêu việt. Tông thư do Đức Bênêđíchtô 16 ban-hành lại đặt nặng lên niềm Hy vọng trình bày rộng-rãi những gì ngài đã quảng-diễn trong các bài ngài viết vào lúc trước khi trở thành giáo-hoàng, là về Cánh-chung-luận. Vào tháng 11 năm 2012, Đức Bênêđíchtô 16 có hứa sẽ viết một tông-thư bàn về niềm tin vào năm thánh Đức Tin, tức xuất hiện khoảng đầu năm 2013, nhưng nay ngài đã từ nhiệm chức-vụ làm đầu Hội-thánh, nên muốn biết ngài viết những gì trong đó, xin đọc lại thông điệp Porta Fidei (Cánh Cửa Niềm Tin) ban hành vào đầu “Năm Thánh Đức Tin”. Nay, ngài đã hưu dưỡng, thế nên có lẽ ta sẽ chẳng được đọc ý tưởng của ngài về niềm tin nữa. Thế nhưng, dữ-liệu ngài thu thập để viết tông thư, có thể cũng xuất hiện ở đâu đó, không chính thức.

Ở đây, tôi không muốn bình-luận về các nguồn như thế, mà chỉ khai-triển các đặc trưng cảm-nghiệm nội-tại về sự tin-tưởng vẫn có trong niềm tin. Thật sự, tôi chỉ muốn triển-khai tính-khí cũng như tình-tự nằm trong đó, thôi. Tôi những muốn mở con đường tiềm-ẩn trong nội-tâm của mỗi người mà có khi chẳng ai buồn khám phá ra hết. Tôi lại cũng muốn làm được chuyện ấy bằng cách phẩm-bình vài đường lối diễn tả về những dính dự vào niềm tin, đặc biệt là tin Chúa. Với lòng tôn kính sẵn có, tôi cũng hàm-ẩn lối diễn tả khác dành cho mỗi người và mọi người có cơ hội đào sâu niềm tin sâu xa của mình.

Trên hết mọi sự, phương-cách tôi sử dụng ở đây, là: nhìn vào đặc trưng thông-suốt của niềm tin, chí ít là tin Chúa. Trước kia, Giáo Hội có thói quen sử dụng lý-trí để đưa trí-tuệ vào địa hạt tin tưởng nơi đấng bậc thánh-thiêng; nhưng, cân nhắc theo lý-trí chỉ là phương-cách nhỏ để trở thành thông-minh, trí-tuệ. Mới đây, có phong-trào phổ biến khá rộng đưa về định-hướng có phương-án chủ-lực đặt nặng về cảm-tính khi nói về niềm tin vào đấng thánh-thiêng. Làm thế, sẽ giảm-thiểu hoặc trệch đường khỏi đặc-trưng/đặc-thù thông-minh, rất trí-tuệ. Thế nên, mục tiêu hôm nay tôi muốn nhắm đến, là: từ từ rồi ra ta cũng bắt gặp được từ truyền-thống rất rộng, thứ trí-tuệ đặc-thù có ở niềm tin vốn dĩ vượt trội đặc trưng lý-trí; và như thế sẽ cho phép và đòi ta bao gồm cả yếu tố tự nhiên, rất thương cảm.

Tóm lại, hôm nay ta cùng nhau duyệt xét chủ đề tin, qua các chương như sau:

Chương Một: Tin, động-tác phát từ con tim
“Tin” thật ra có nghĩa gì?

Chương Hai: Ánh sáng Niềm tin
Thấy ánh sáng trong niềm tin – ta “nhận” ra được đôi điều

Chương Ba: Quà tặng Niềm tin
Nhận quà “siêu nhiên” về Niềm tin

Chương Bốn: Từ Tin đến Yêu
Tháp nhập Niềm Tin vào cuộc sống có Yêu Thương

Chương Năm: Tin – Yêu tràn đầy Hy vọng
Tin và Hy vọng vào hạnh phúc vĩnh-cửu rày sẽ đến

Chương I

Tin, động tác phát tự con tim
điều này thật ra có nghĩa gì?


Phần I:

Động-tác của niềm tin: một quan hệ


Tin, không là mặt hàng sản-xuất


Có lẽ, tôi sẽ mạn phép xin được bắt đầu ngay ở đây, bằng một tư-duy suy thật kỹ về sự khác biệt giữa điều mà ta gọi là “niềm tin, như mặt hàng sản-xuất” và “niềm tin đích thật “nội-tại”. Trọng tâm của buổi thảo-luận hôm nay, nhắm vào tiêu đề sau. Nhưng, dẫn-nhập bằng quá-trình mang tính nghịch-thường như thế cũng là điều hay, rất bổ ích.


Sao gọi niềm tin là món hàng sản xuất?

Hồi còn trẻ, tôi chứng kiến nơi Đạo mình một biến-chuyển khá quan trọng. Mãi đến thập niên ’60 và nhất là vào thời kỳ diễn ra Công Đồng Vatican II, đã thấy xuất hiện một mô-hình xem ra cũng an-toàn đòi đảm bảo có sự đồng-thuận của phần lớn các kẻ tin. Tiếp đó, là những bước chuẩn bị, rồi đi đến thảo-luận và sau cùng, là thời hậu-Công Đồng đã diễn tiến tiếp theo sau một loạt các sự kiện, rất khác lạ. Xem ra, việc ấy cũng không kém an toàn và cũng đòi ta phải đạt cho được sự đồng-thuận của phần đông tín-hữu, giống như thế. Sau triều đại Giáo Hoàng của Đức Gioan Phaolô đệ Nhị và Đức Bênêđíchtô 16, nay lại thấy Hội thánh ta đang quay về để tái tạo một cuộc cải-tổ như từng xảy đến vào thời kỳ trước Công Đồng Vatican II gồm phần lớn nội dung vẫn từng có vào những ngày trước đó. Và điều này, xem ra cũng đảm bảo có được sự đồng thuận của ít là một số rất lớn những người tự coi mình là giáo-dân chuyên-chăm việc nhà thờ/nhà thánh. Ở đây, tôi không muốn cãi tranh/biện luận để xem mô-hình nào ‘đúng’, cái nào sai. Tôi thiết nghĩ: bao giờ cũng thế, mô-hình vượt trội được cho là ‘đúng’ nhất đều do những nguời đã bán/buôn nó, nên mới có. Điều, mà tôi quan ngại thật sự chỉ là: coi xem những gì xảy đến có ‘đúng’ như một số người từng đồng thuận hay không, mà thôi. Và, coi thử xem sự đồng thuận, tự căn bản, có thay đổi được gì không; và nếu có, thay đổi ấy là từ những gì?

Vấn đề tôi ưu-tư nhất là việc tiếp cận thị trường và đón nhận lập trường tiếp-thị ấy như thế nào?

Cùng thời gian này, lại cũng thấy xảy đến khá nhiều ví dụ về mô-hình đổi thay rất tương tự. Thay đổi thường có bấy lâu nay, là thay và đổi từ các quốc gia tên tuổi, xấu/tốt cho chí các nền văn minh tăm tiếng, tốt/xấu. Các nền văn minh đáng quan-ngại đã đổi thay cũng khá nhiều, cả những người như: người đạo Hồi, người Ả Rập và cả người Trung Đông cũng được “coi” là “kẻ thù truyền kiếp” thay vì sự kiện đó phải do từ nước Nga hay từ người đảng Cộng Sản chính gốc mới đúng. Lại nữa, vấn đề tôi đặt ra đây là: làm sao ta bán/buôn được mặt hàng như thế để chúng-dân có thể mua vào và làm sao họ chịu mua các mặt hàng như thế. Mặt khác, cũng nên điều tra xem đó có là sự kiện nghiêng hẳn về nhu-cầu tái-thiết học-đường ở thế giới này/khác mà người Đạo Chúa chúng ta chú tâm đến, ngõ hầu dựa vào đó mà đầu tư. Thêm nữa, cũng có thể là đổi và thay nơi vai trò của phụ nữ trong thế giới hiện-đại và Hội thánh. Thay và đổi, về thái độ mình nhắm đến, cũng như việc cho phép người khác phái tính đã được thực hiện ở một số việc trong Đạo mình. Lại cũng có một số các hình thức trong thừa-tác-vụ sẵn sàng bứt-phá lằn ranh sắc tộc, phái tính và chủ trương chọn phái nam hay nữ giới cho mỗi sự việc rất khác nhau. Một lần nữa, ở đây, tôi lại sẽ không đưa ra vấn-nạn nào về các giải đáp đúng/sai, mà về cung cách rất khác biệt nơi lời đáp trả từng trao đi đổi lại để rồi đi đến kết cuộc, là: có được sự đồng thuận khá chung chung nơi phần đông dân chúng.

Mới đây, tôi lại đã tự tạo cho mình một số tư-duy phản ánh quan điểm này, nhờ các tác giả nổi bật như: Edward Herman và Noam Chomsky là những người từng đề-cập đến các vấn đề như thế. Riêng Chomsky lại đã viết lên cuốn sách có đầu đề là: “Sản-xuất ra đồng-thuận là kinh tế chính-trị của truyền thông đại-chúng”. Sách này, tác giả đề cập nhiều đến “mẫu mã tuyên truyền” vốn là cội nguồn của những đồng thuận được xuất xưởng, mới như thế. Tôi chưa có dịp đọc kỹ sách này, nhưng cũng hiểu là tác giả muốn nhấn mạnh về đề-tài như quyền sở-hữu những gì được trưng bày ra ngoài, về tài-trợ cho việc trưng bày giòng chảy thông-tin về những điều như thế cứ liên tục chảy mãi, về đường lối vận-dụng các lời phê phán kình chống nhau và tiếp cận giới chức bên ngoài, ngang qua truyền thông đại chúng. Tôi thiển nghĩ, việc tiếp cận các tiện nghi như thế là để thu thập được nhiều điều đã là yếu tố khiến nhà báo nào thích can dự vào các vần đề được đặt ra, về những vấn đề đáng tin cậy của cuộc họp báo, tính thông thường nhưng hữu ích của “ngôn từ bình dị” được dùng để diễn tả dù không quán xuyến trọn vẹn danh sách các sự việc có liên can. Tôi cho rằng: phần đông các yếu tố này, đặc biệt là yếu tố ý-thức-hệ và chính-trị, mở ra trong tiềm thức, ít nhất là vào lúc đầu.

Với tôi, nếu ta chịu nghiên cứu học hỏi cho thật kỹ lưỡng về niềm tin, thì rồi ra ta cũng sẽ hiểu các vấn đề này và yếu tố “lúc đực lúc cái” hơn sáu mươi năm qua từng diễn ra với Hội thánh, và đặc biệt là sự việc có lien quan đến công cuộc truyền giáo của thánh Hội.

Xem thế thì, ta có thể xem xét bản chất nào có chất-lượng hơn. Và vấn đề đặt ra, là: “sự đồng thuận nhờ vào sản xuất” có hiệu lực đến mức độ nào để coi được là tán thành niềm tin? Cả đến Huấn quyền của Hội thánh có thực hiện sản xuất được sự đồng thuận hiệu quả đến mức độ nào không? Nếu có ai chống đối Huấn quyền của Hội thánh lại cũng làm thế, thì họ có được được phép làm thế không? Và, làm được đến mức độ nào?

Thành thử, ở đây, ta cũng nên xem xét đến các yếu tố tương tự về nguồn gốc của niềm tin trong gia đình và văn hoá này khác hay sao đó...

Cũng là chuyện bổ ích nếu ta để ý xem những gì xuất hiện ở bên dưới các vấn đề như thế, xem và xét cả đến tính-chất nội tại của niềm tin đến thế nào. Đi vào thực tế, tôi vẫn muốn coi xem có sự khác biệt nào giữa công cuộc tiếp-thị và rao truyền Lời Chúa...

----------
(còn tiếp)
______________________
Lm Kevin O’Shea, CSsR
Mai Tá lược dịch