Ngày 03-03-2021
 
Phụng Vụ - Mục Vụ
Tìm một lối vào
Lm. Minh Anh
05:05 03/03/2021
TÌM MỘT LỐI VÀO
“Này chúng ta lên Giêrusalem và Con Người sẽ bị nộp”.

Kính thưa Anh Chị em,

Thật bất ngờ, Lời Chúa hôm nay nói đến một con đường mang tên “Thập Tự”; ở đó, Giêrêmia hướng lên Thiên Chúa, xin Người giúp ông ‘tìm một lối ra’, ra khỏi vòng vây của những kẻ đang chôn sống ông. Khác với Giêrêmia, trước con đường đó, Chúa Giêsu cũng hướng lên Thiên Chúa để ‘tìm một lối vào’, vào trong kế đồ cứu độ của Cha, dù phải xông vào vòng vây của kẻ giết Ngài.

Bị dân mình tẩy chay, Giêrêmia tỏ bày, “Lạy Chúa, xin lưu tâm đến con, và nghe tiếng quân thù của con! Vì họ đào lỗ chôn con?”; Giêrêmia khấn xin Thiên Chúa thương giúp ông ‘tìm một lối ra’.

Tin Mừng hôm nay tường thuật cuộc hành hương trẩy lên Giêrusalem của Thầy trò Chúa Giêsu. Bước trên con đường tự nó mang tên “Thập Tự”, Chúa Giêsu không ‘tìm một lối ra’, nhưng ‘tìm một lối vào’; không chỉ cho mình, nhưng còn cho các môn đệ, để họ cùng vào với Ngài, “Này chúng ta lên Giêrusalem và Con Người sẽ bị nộp”. Dù thực sự đang đi lên với Thầy, nhưng các môn đệ không muốn giống Thầy, họ chỉ ‘tìm một lối ra’. Bằng chứng là sự xuất hiện của ‘môn đệ thứ mười ba’; bà mẹ quê Zêbêđê, con cà con cuốc, quấy rầy Ngài; bà chường mặt xin cho hai con, một ngồi bên hữu, một ngồi bên tả… khiến cho nhóm còn lại, “Tức tối với hai anh em”. Một cuộc đối thoại không đáng có! Xót xa thay! Đang khi Thầy nói chuyện đi lên, trò nghĩ chuyện đi xuống; Thầy nói chuyện trên cao, trò mơ chuyện dưới thấp; Thầy nói chuyện bị nộp, trò tính chuyện trị vì; Thầy nói chuyện vong thân, trò nghĩ chuyện vinh thân; Thầy làm vui lòng Cha trên trời, trò làm thoả dạ mẹ dưới đất. Rõ ràng, Thầy trò đang lệch pha, ngược chiều; Thầy ‘tìm một lối vào’, trò ‘tìm một lối ra!’.

Chúa Giêsu đã phản ứng thế nào? Thật tuyệt vời! Với một nhân cách hiếu hoà, bản lãnh, tự tại, bình an… Ngài khoan thai bày vẽ cho họ như không có chuyện gì xảy ra. Ngài biết, họ không muốn nghe những gì đang chờ đợi Ngài ở Giêrusalem; thế nhưng, Ngài nhất định tỏ cho họ sự thật gai gốc này, đặc biệt là khi thời điểm chết chóc đã cận kề. Thông thường, chúng ta khó chấp nhận toàn bộ thông điệp Phúc Âm vì lẽ, nó luôn quy hướng về thập giá; vậy mà tình yêu tự hiến và việc ôm trọn thập giá cần phải được nhìn, được hiểu, được yêu, được đón nhận và được tuyên xưng. Làm sao có thể thực hiện điều này? Hãy bắt đầu ‘tìm một lối vào’ với Chúa Giêsu! Ngài đối diện sự thật; chấp nhận sự thật mà không do dự; Ngài biết đau khổ và cái chết sắp xảy ra. Ngài không nhìn thập giá dưới lăng kính tiêu cực, không coi đó là một bi kịch phải tránh; Ngài không cho phép sợ hãi khiến Ngài nhụt chí. Thay vào đó, Chúa Giêsu nhìn những đau khổ sắp xảy đến dưới ánh sáng cứu độ; Ngài coi đau khổ và cái chết là hành động của một tình yêu miên viễn mà Ngài sẽ sớm dâng hiến. Vì thế, không chỉ đón nhận, Ngài còn nói đến những đau khổ với sự tự tin và can đảm; Ngài đã ‘tìm một lối vào’ con đường “Thập Tự”, vì Ngài biết, cuối con đường này, sẽ mở ra một ánh quang rạng ngời phục sinh. Ngài đã nói, “Nhưng ngày thứ ba, Người sẽ sống lại”.

Ở thế kỷ 17, Oliver Cromwell, lãnh chúa nước Anh, đã kết án xử bắn một người lính trọng tội. Vụ hành quyết dự liệu diễn ra vào giờ chuông giới nghiêm ngân. Thế nhưng, đêm hôm ấy, chuông không đổ. Vị hôn thê của người lính đã ‘tìm một lối vào’ trại binh, leo lên tháp, bám vào chiếc chuông để ngăn nó ngân lên. Được Cromwell triệu tập để giải trình về hành động của mình, cô đã khóc và cho ông thấy hai bàn tay bầm tím đầy máu của cô. Trái tim của Cromwell thổn thức, ông nói, “Tình yêu của cô sẽ tồn tại vì những hy sinh của cô. Giờ giới nghiêm tối nay không đổ chuông!”.

Anh Chị em,

Tình yêu của vị hôn thê với đôi tay rướm máu được đền đáp với mạng sống của người mình yêu; cũng thế, tình yêu thập giá, tay chân bị đóng đinh của Chúa Giêsu đã được đền đáp với phần rỗi của cả nhân loại. Noi gương Chúa Giêsu, nhờ sức mạnh của Thánh Thần và biết tha thiết cầu xin như lời Thánh Vịnh đáp ca hôm nay, “Lạy Chúa, xin cứu sống con theo lượng từ bi của Chúa”, chúng ta cũng sẽ đối mặt với bất kỳ thánh giá nào trong đời mình bằng tình yêu, lòng can đảm và một vòng tay sẵn sàng. Thay vì ‘tìm một lối ra’, chúng ta ‘tìm một lối vào’; đón nhận đau khổ trong ánh sáng cứu độ. Như Chúa Giêsu, chúng ta ôm chặt thánh giá đời mình; vì mọi thập giá đều có khả năng trở thành công cụ của bao ân sủng trong đời mình và trong đời của những người khác.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, để cứu chuộc con, Chúa đã tự do đón nhận thập giá với tình yêu và lòng can đảm. Xin ban cho con ân sủng và sức mạnh để con cũng có thể ‘tìm một lối vào’ trong những nẻo đường thập giá đời con, hầu con cũng có thể gặt hái những hoa trái cứu độ đời đời như Ngài”, Amen.

(Tgp. Huế)
 
Hãy Thanh Tẩy Tâm Hồn Là Đền Thờ Chúa
Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ
10:27 03/03/2021
Suy niệm Tin Mừng Chúa nhật III Mùa Chay - B
(Ga 2,13-25)

Lễ Vượt qua của người Do thái thường diễn ra tại Đền thờ. Vào dịp này, Chúa Giêsu lên dự lễ, Người thấy ở trong Ðền thờ có những người bán bò, chiên, chim câu và cả những người ngồi đổi tiền bạc, Người chắp dây thừng làm roi, đánh đuổi tất cả bọn cùng với chiên bò ra khỏi Đền thờ. Người hất tung tiền của những người đổi bạc, xô đổ bàn ghế của họ và bảo những người bán chim câu rằng: “Hãy đem những thứ này đi khỏi đây, và đừng làm nhà Cha Ta thành nơi buôn bán” (Ga 2, 16). Chứng kiến cảnh tượng Chúa làm, các môn đệ khám phá ra lòng nhiệt thành với nhà Cha nơi tâm hôn Chúa Giêsu, họ liền nhớ lại câu Kinh Thánh: “Sự nhiệt thành vì nhà Chúa sẽ thiêu đốt tôi” (Tv 69, 10).

Thật là tệ! Đền thờ, nhà của Thiên Chúa đã bị biến thành nơi chợ búa. Mục đồng thì mang cừu đến bán, kẻ bán chim câu mong kiếm được vài đồng, kẻ giữ Đền thờ cũng vậy…

Đền thờ Giêrusalem

Luật Do thái cấm mua bán nơi Ðền thờ. Tuy nhiên hàng tư tế quản trị Ðền thờ lại dung túng cho dịch vụ này để nhằm chuộc lợi. Kẻ đổi tiền ăn bớt phần trăm, người bán coi đó như là cách thế làm tiền, khiến người cần phải mua đồ lễ một cách bất đắc dĩ cho việc dâng hiến với giá cắt cổ thay vì mua ở ngoài theo giá thị trường. Các tư tế cho đấu thầu hai dịch vụ này cũng có món tiền bỏ túi riêng. Thay vì giúp những người từ xa đến mua lễ vật trong khu vực Ðền thờ cho tiện lợi, vì họ khó có thể mang theo lễ vật để hiến dâng. Tiện lợi chứ không hẳn là cần thiết, vì việc mua bán vẫn có thể thực hiện bên ngoài Ðền thờ. Nếu tiện lợi, sao Ðức Giêsu lại tỏ ra khó chịu, lên tiếng cảnh giác những người buôn bán súc vật và đổi tiền quanh Ðền thờ? Chúa đuổi họ, vì họ cũng như con buôn, coi tiền bạc trọng hơn Thiên Chúa. Chúa lên tiếng cảnh giác họ: “Ðừng biến nhà Cha tôi thành nơi buôn bán” (Ga 2, 16). Chúa quở trách những nhà lãnh đạo tôn giáo đồng lõa với một số người thương mại hoá và phàm tục hoá Ðền thờ.

Chúa Giêsu là Đền Thờ

Thật ra, cơn giận của Chúa Giêsu không nhằm chống lại những người buôn bán cho bằng chống lại chính việc thờ phượng bị thương mại hóa theo kiểu ấy. Khi lật nhào các quầy buôn bán, Người lật đổ chính tôn giáo và phá hủy đền thờ. Hành động đó gây phẫn nộ cho tất cả mọi người, nhất là khi biết rằng Đền thờ Giêrusalem có một vị trí trong tâm hồn mọi người Do thái. Họ hỏi Chúa Giêsu: “Ông lấy dấu lạ nào chứng tỏ cho chúng tôi thấy là ông có quyền làm như thế?” (Mc 2, 18) Chúa đáp: “Các ông cứ phá hủy Ðền Thờ này đi; nội ba ngày, tôi sẽ xây dựng lại” (Mc 2, 19).

Thánh Gioan tường thuật chi tiết chính xác quan trọng ấy. Đền thờ Chúa Giêsu nói đây chính là Thân thể Người, hiện thân của Chúa Cha. Khi sánh ví Người là Đền Thờ, Chúa Giêsu khẳng định chính mình là Đền Thờ Thiên Chúa Cha ngự trị. Chúa Giêsu chính là sự tôn vinh Thiên Chúa. Theo thánh sử Gioan, chúng ta được tiên báo về cái chết và sự sống lại của Chúa Giêsu : thân thể của Người, vốn bị bạo lực của tội lỗi hủy hoại trên thập giá, Thiên Chúa gặp gỡ con người qua sự Phục Sinh của Chúa Giêsu. Vì thế, nhân tính của Người là Ðền Thờ đích thực, nơi Thiên Chúa mặc khải chính mình, để gặp gỡ và ngỏ lời với con người; và những ai thờ phượng Thiên Chúa đích thực không phải là những kẻ giữ cửa của Ðền thờ vật chất, cũng chẳng phải những người nắm giữ quyền lực hay có kiến thức về tôn giáo, nhưng là những ai thờ phượng Thiên Chúa trong “Thần Khí và sự thật” (Ga 4, 23).

Chúng ta là Đền thờ

Thánh Phaolô nói: “Anh em không biết anh em là đền thờ của Thiên Chúa sao?.. Đền thờ của Thiên Chúa là thánh thiêng, anh chị em cũng vậy” (1 Cr 3,16-17). Như thế, chân lý và phẩm giá Thiên Chúa được liên kết với sự thật và phẩm giá con người. Thánh Phaolô cảnh cáo: “Anh em là Đền Thờ của Thiên Chúa, và ai xúc phạm Đền Thờ Thiên Chúa, thì Thiên Chúa sẽ huỷ diệt kẻ ấy” (1Cr 3, 17).

Người ta xúc phạm đến Đền Thờ của Thiên Chúa bằng nhiều cách. Nếu người Do thái xưa kia đã biến Đền Thờ thành nơi buôn bán. Và Chúa Giêsu đã nổi giận đến nỗi thắt dây thừng thành roi để đánh đuổi họ và lật đổ bàn ghế của họ. Ngày nay, có nhiều nơi dùng Thánh Đường để buôn thần bán thánh, nhưng cách xúc phạm thông thường nhất là phạm đến Đền thờ tâm hồn và thân xác của mỗi người và của tha nhân.

Phá thai là một hình thức xúc phạm nặng nề đến Đền thờ Thiên Chúa. Không những xúc phạm, mà còn phá hủy những Đền thờ nhỏ bé của Thiên Chúa, tước quyền Thiên Chúa là Đấng đã dựng nên các thai nhi ấy theo hình ảnh Chúa.

Linh hồn cũng là Đền thờ Thiên Chúa. Chúng ta xúc phạm đến Đền thờ này bằng cách xúi dục người khác phạm tội, làm dịp cho người khác phạm tội, làm gương mù cho người khác, nhất là trẻ em (x. Mc 9:42), hay làm lơ không nhắc nhở khi mình có trách nhiệm. Có nhiều người nghĩ rằng mình không làm hại ai là đủ rồi. Thật ra những người có trách nhiệm giáo dục và hướng dẫn người khác mà lơ là bổn phận của mình, cũng là xúc phạm đến Đền Thờ của Thiên Chúa vì mình không chu toàn bổn phận bảo trì và xây dựng những ngôi Đền Thờ mà Thiên Chúa đã trao cho.

Khi đuổi súc vật ra khỏi đền thờ, Chúa Giêsu muốn chúng ta hãy tiếp tục công việc của Người là gìn giữ đền thờ bản thân chúng ta. Tâm hồn chúng ta là cung thánh Chúa ngự. Chúa biết rõ những khao khát nồng nhiệt nhất của chúng ta: đó là được Chúa cư ngụ trong cõi lòng mình, chỉ một mình Chúa thôi. Chúng ta hãy để cho Chúa bước vào cuộc đời, gia đình, và cả cõi lòng của chúng ta nữa. Để được như thế Ta phải luôn luôn thanh tẩy tâm hồn hầu xứng đáng với Chúa.

Lạy Mẹ Maria, đền thờ Con Thiên Chúa ngự, xin đồng hành với chúng con và xin nâng đỡ chúng con trong hành trình Mùa Chay Thánh, giúp chúng con khám phá ra vẻ đẹp của cuộc gặp gỡ với Ðức Kitô, Ðấng sẽ giải thoát và cứu độ chúng con. Amen.

Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ

 
Tin Giáo Hội Hoàn Vũ
Tòa Thánh khẳng định: Đức Thánh Cha quyết tâm tông du Iraq bất kể những lo ngại và những lời chỉ trích
Đặng Tự Do
03:20 03/03/2021
Đức Thánh Cha Phanxicô quyết tâm thăm Iraq từ ngày 5 đến 8 tháng 3, không hề nao núng trước mối đe dọa khủng bố, bất ổn chính trị và xã hội, và số lượng COVID-19 đang gia tăng tại nước này. Ông Matteo Bruni, Giám đốc Phòng Báo chí Tòa Thánh, đã đưa ra lập trường trên vào hôm thứ Ba 2 tháng Ba.

Khi liên tục bị các nhà báo chất vấn tại sao chuyến đi tiếp tục được tiến hành, không thể dời lại vào một thời điểm khác thích hợp hơn, phát ngôn viên của Vatican trả lời rằng đó là “hành động xuất phát từ tình yêu đối với vùng đất này, đối với người dân và các Kitô hữu trong vùng”.

Khu vực mà ngày nay là Iraq đóng một vai trò quan trọng trong Kinh thánh: Truyền thống của các Giáo Hội Đông phương tin rằng Chúa lấy bùn từ sông Tigris để tạo ra người đàn ông; cũng chính tại nơi này người ta tìm thấy những tàn tích nơi sinh của Tổ Phụ Áp-ra-ham, là thành Ur; và Đồng bằng Ninivê là địa điểm được đề cập đến trong Sách Giô-na.

Đây sẽ là chuyến đi đầu tiên của một vị Giáo hoàng tới Iraq, đất nước mà cả Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II và Đức Bênêđíctô XVI đều đã cố gắng đến thăm nhưng không được.

Đây cũng sẽ là lần đầu tiên một Đức Giáo Hoàng cử hành Thánh lễ theo nghi thức Chanđê, của Giáo Hội Công Giáo chiếm đa số tại Iraq; đây sẽ là cuộc gặp gỡ đầu tiên của một vị Giáo hoàng với một Grand Ayatollah của nhánh Hồi giáo Shiite – là Đại Giáo Trưởng Ali al-Sistani, tại thành phố Najaf; và vâng đây là chuyến đi đầu tiên của một vị Giáo hoàng trong một trận đại dịch toàn cầu.

Vì lý do này, Ông Matteo Bruni, Giám đốc Phòng Báo chí Tòa Thánh, nói rằng tất cả các biện pháp phòng ngừa có thể đã được thực hiện để tránh chuyến đi trở thành một tai họa lây nhiễm COVID-19. Các biện pháp bao gồm việc Đức Giáo Hoàng di chuyển trong một chiếc xe kín mít thay vì chiếc popemobile truyền thống, để tránh các đám đông trên đường phố; số lượng người tham dự mỗi sự kiện bị cắt giảm mạnh để tạo khoảng cách xã hội; và việc sử dụng khẩu trang sẽ là bắt buộc.

Sự kiện lớn nhất sẽ diễn ra vào Chúa Nhật, khi Đức Phanxicô cử hành Thánh lễ tại sân vận động “Franso Hariri” ở Erbil. Chỉ có 10,000 người được phép vào cơ sở có thể chứa đến 30,000 chỗ ngồi và họ sẽ ngồi ở chỗ được chỉ định trước.

Đức Thánh Cha Phanxicô đã được chủng ngừa COVID-19, cũng như hơn 70 nhà báo đi cùng ngài trên máy bay của Giáo hoàng.

Tuy nhiên, Iraq mới chỉ bắt đầu chiến dịch tiêm chủng vào thứ Ba, có nghĩa là hầu hết những người tham dự các sự kiện với Đức Giáo Hoàng sẽ không được tiêm vắc xin coronavirus.

Ông Matteo Bruni đã đề cập trong cuộc họp báo hôm thứ Ba rằng 57% dân số của đất nước dưới 25 tuổi, điều này có thể giúp giải thích tại sao nước này chỉ có 341 ca tử vong liên quan đến coronavirus trên một triệu người, so với 1,561 ca tử vong trên một triệu người ở Hoa Kỳ và 1,624 người chết trên một triệu người ở Ý.

Các nhà tổ chức có những lo ngại khác ngoài đại dịch, và người phát ngôn của Đức Giáo Hoàng thừa nhận có khả năng Đức Phanxicô sẽ tuân thủ yêu cầu của chính phủ Iraq yêu cầu ngài sử dụng một chiếc xe bọc thép.

Khi được hỏi tại sao chuyến đi không thể bị hoãn lại, người phát ngôn cho biết nếu không có gì khác, nó đáng lẽ phải xảy ra sớm hơn, nhưng khoảng thời gian này là “thời điểm đầu tiên có thể xảy ra cho một cuộc hành trình như thế này”.

“Mọi thứ đều có sự cấp bách của nó, tất cả các biện pháp phòng ngừa đã được thực hiện liên quan đến vấn đề sức khỏe, nhưng có lẽ cách tốt nhất để giải thích cuộc tông du này là nói rằng đó là một hành động của tình yêu đối với vùng đất này, đối với người dân và các tín hữu Kitô Iraq,” ông Bruni nói. “Mọi hành động yêu thương đều có thể được hiểu là cực đoan, nhưng điều đó cũng là một sự xác nhận cho một tình yêu cực độ và người được yêu được củng cố trong tình yêu đó”.

Đối với Đức Phanxicô, chuyến đi là một sứ mệnh gồm ba phần: thứ nhất là khuyến khích cộng đồng Kitô hữu địa phương, vốn là nạn nhân triền miên của bách hại và chủ nghĩa cực đoan; thứ hai là theo đuổi đối thoại với Hồi giáo Shiite; và thứ ba là gặp gỡ với toàn thể quốc gia Iraq.

Điều mà ông Bruni không muốn đề cập đến là các tín hữu Kitô, và các dân tộc thiểu số khác tại Iraq, vẫn đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng. Mặc dù ISIS đã chính thức bị đánh bại, nhưng chủ nghĩa thánh chiến ở Iraq thì không, và các cuộc tấn công và tội ác bạo lực của các lực lượng dân quân chống lại các nhóm thiểu số vẫn diễn ra hàng ngày.

Ông Bruni nói: “Rõ ràng là Đức Giáo Hoàng cũng đã nhìn ra nhu cầu “củng cố người dân Iraq về mặt đức tin của họ”, nhưng ngài cũng muốn củng cố họ “về mặt yêu thương, như sứ mệnh của người kế vị thánh Phêrô đòi buộc”.

Chính quyền Iraq đang lúng túng trước các khó khăn rất lớn để tìm cách vực dậy nền kinh tế của đất nước sau chiến tranh trong bối cảnh phải đương đầu với đại dịch coronavirus. Họ rất chờ mong chuyến tông du của Đức Thánh Cha Phanxicô. Những lời chỉ trích chống báng chuyến tông du của Đức Thánh Cha chỉ nổi lên từ một số thành phần bên ngoài Iraq. Càng gần đến chuyến tông du, những lời chỉ trích càng tiếp tục gia tăng. Tuy nhiên, cũng có 29 tổ chức dựa trên đức tin hoạt động trên thực địa đã đưa ra một tuyên bố chung ủng hộ chuyến thăm.

“Iraq là cái nôi của nền văn minh nhân loại và là một đất nước xinh đẹp với sự đa dạng về văn hóa và tôn giáo”, tuyên bố được công bố vào cuối ngày thứ Ba nhận định. “Trong nhiều thế kỷ, nhiều cộng đồng dân tộc và tín ngưỡng sống cạnh nhau ở vùng đất này. Tuy nhiên, trong những thập kỷ gần đây, Iraq đã phải hứng chịu chiến tranh, mất an ninh và bất ổn và gần đây nhất là sự trỗi dậy của ISIS. Một chuỗi các cuộc xung đột như vậy đã làm căng thẳng sâu sắc mối quan hệ giữa các cộng đồng và làm hỏng cấu trúc xã hội của đất nước”.

Các bên ký kết bao gồm Tổ chức Cứu trợ Hồi giáo trên toàn thế giới, Dịch vụ Tị nạn Dòng Tên, Liên đoàn Thế giới Luther, Dịch vụ Cứu trợ Công Giáo và Hiệp hội Phúc lợi Công Giáo Cận Đông thuộc quỹ giáo hoàng.

Tuyên bố cho biết Iraq vẫn phải đối mặt với những thách thức khó khăn: Có 1.2 triệu người Iraq phải di tản bên trong nội địa và hơn 4.8 triệu người hồi hương đã trở về nhà ở các thành phố và làng mạc cần được xây dựng lại.

“Trong khi đó, một cuộc khủng hoảng kinh tế ngày càng trầm trọng, do đại dịch COVID-19 làm trầm trọng thêm, đang đẩy nhiều người vào cảnh nghèo đói và tước đi các nguồn lực cần thiết của chính phủ để hỗ trợ người dân của mình”.

“Là các tổ chức dựa trên đức tin, chúng tôi hoàn toàn chấp nhận thông điệp về tình huynh đệ và đối thoại mà Đức Thánh Cha Phanxicô đang mang đến cho Iraq. Chúng tôi tin chắc rằng chuyến tông du này đại diện cho một con đường cần thiết để chữa lành vết thương trong quá khứ và xây dựng tương lai cho các cộng đồng đa dạng của đất nước. Chúng tôi phối hợp với các Chính quyền địa phương và quốc gia để giúp các cộng đồng hòa giải, xây dựng lại hòa bình và đòi lại các quyền tập thể của họ về an toàn, dịch vụ và sinh kế”.
Source:Crux

 
Tài Liệu - Sưu Khảo
Hình ảnh Thánh Giuse, người công chính
Lm. Daminh Nguyễn ngọc Long
10:29 03/03/2021
Hình ảnh Thánh Giuse, người công chính

Nơi đền thờ Gia đình Thánh gia ở thành phố Nazareth miền Galileo nước Do Thái, bên dưới tầng hầm có cửa sổ kính mầu khắc vẽ hình Thánh Giuse và Đức Mẹ Maria đang trao nhẫn cưới cho nhau với sự chứng kiến của một Thầy cả thượng phẩm thời đó.

Hình ảnh thơ mộng mang chiều sâu đạo đức truyền thống này gợi lên nơi tâm trí người xem không chỉ đến hình ảnh cô dâu là Đức Mẹ Maria, mà còn đến cả chú rể Giuse nữa. Vì tầng hầm này cách đây hơn 2000 năm là nhà của chú rể Giuse làm ăn sinh sống. Ở đây còn một hai di tích lịch sử xưởng mộc làm của thánh Giuse đã được đào bới tìm thấy và được bảo quản an toàn trong khu tường kiếng chắn xung quanh.

Một kỷ niệm lịch sử địa lý vừa mang dấu vết thánh đức, vừa sống động tình nghĩa con người.

Chú rể Giuse là ai?

Dịp kỷ niệm 150 năm, từ năm 1870, Hội thánh Công Giáo nhận Thánh Giuse là đấng thánh quan thầy bảo trợ, đức đương kim giáo hoàng Phanxico đã kêu mời lập năm thánh ôn nhớ về Thánh Giuse„ “Patris corde – Trái tim của người Cha.“ từ ngày 08.12.2020 - 08.12.2021.

Ôn nhớ về Thánh Giuse không nhằm chú ý đến lịch sử đời sống cùng những thành qủa việc làm khi xưa của ngài. Nhưng trọng tâm hướng đến nhân đức đời sống đạo đức của thánh nhân.

Lịch sử về chú rể Giuse, người được Giáo hội tôn kính là một vị Thánh cả, mà xưa nay không có lễ nghi phong Thánh cho ngài. Bốn Phúc âm Chúa Giêsu nhắc đến đời sống Giuse cả thảy 14 lần -7 lần nơi phúc âm theo Thánh Mattheo, 5 lần nơi Thánh Luca, và 2 lần nơi Thánh Gioan- ẩn hiện như một hình ảnh lu mờ đàng sau hậu trường. Nhưng dẫu vậy cũng giúp tìm nhận ra một vài khía cạnh đời sống chú rể Giuse sống thầm lặng này.

Thánh sử Matheo (1,20), và Thánh sử Luca (1,27, 2,4) viết thuật lại, Giuse là con cháu thuộc dòng tộc Vua David, người khai sinh lập nước Do Thái. Đây là điều mấu chốt quan trọng cho lịch sử. Như vậy nhân vật Giuse có nguồn gốc gia phả thuộc về một dòng tộc của dân Do Thái, dòng tộc vua David.

Thánh sử Matheo (13, 55) nói đến nghề nghiệp sinh sống kiếm miếng cơm manh áo nuôi gia đình của Giuse là Tekon - người thợ lao động làm việc chân tay.

Thánh sử Mattheo (1,19) diễn tả bản tính của Giuse là một dikaios - người công chính.: „ Ông Giuse, chồng của Maria, là người công chính.“

Thế nào là người có đời sống công chính?

Chúa Giêsu, con Giuse, khi đi rao giảng nước Thiên Chúa, đã đưa ra dụ ngôn ( Mt 20,1-16) người chủ tốt lành nhân ái đối xử với những người làm việc trong vườn nho của ông- Ông chủ vườn nho đã trả lương đồng đều cho mọi người thợ, dù họ vào làm trước hay vào làm sau ít giờ hơn - để nói về nước Thiên Chúa. Qua dụ ngôn này, Chúa Giêsu muốn nói đến rõ hơn dikaios - công chính - không phải chỉ là người sống ngay thẳng theo luật lệ hay đạo đức, nhưng là người có một tấm lòng quảng đại rộng mở đầy lòng thương xót.

Giuse là người có đời sống của một dikaios. Khi hoàn hoàn cảnh khó xử lúc mẹ Maria bỗng dưng có thai, mà trước đó ông không hay biết, cùng không do Ông, trong một ý nghĩa hoàn toàn mới của một tâm hồn có trái tim to lớn rộng mở: Ông có ý định âm thầm ra đi, không phải chỉ để tránh né luật lệ, nhưng để bảo vệ thanh danh cho Maria.
Ông định tâm yên lặng bỏ đi trốn, không muốn tố cáo Maria trước luật pháp, trước công chúng. Đó là cung cách sống của một người có trái tim tràn đầy lòng từ tâm nhân đạo. Mình đau khổ. Nhưng không muốn để cho người khác cũng bị đau khổ.

Qua đó Giuse đã trở thành hình ảnh mẫu mực thứ nhất, như Chúa Giesu đòi hỏi quan niệm mới về công chính „ Thầy bảo cho anh em biết, nếu anh em không ăn ở công chính hơn các Kinh Sư và người Pharisieu, thì sẽ chẳng được vào nước Trời.“ (Mt 5,20).

Người nào sống công chính, người đó sống dấn thân mạo hiểm, như trong Tám mối phúc thật nói: Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính“ (Mt 5,10).

Giuse sống công chính với tâm hồn quảng đại rộng mở thế nào với mẹ Maria, là cha nuôi Chúa Giêsu về phương diện xã hội, Ông cũng sống đối xử như vậy với Chúa Giêsu.

Giuse chấp nhận trẻ Giêsu như là con của mình. Thời xa xưa theo luật lệ việc nhận làm con thể hiện qua việc người cha đặt tên cho người con. Sau khi mẹ Maria hạ sinh Chúa Giêsu, Giuse đã „ đặt tên cho con trẻ là Giêsu“ (Mt 1,25).

Chấp nhận con trẻ Giêsu, Giuse đã trao tặng sự bảo đảm nuôi sống bảo vệ người con mình nhận nuôi trong gia đình. Vì thế trong dân gian thời đó và sau này vẫn hằng chính thức gọi Chúa Giêsu là con của Giuse - (Lc 3,23, 4,22, Ga 1,45,6,42) -

Con đường dòng sông đời sống của Giuse

Không có sử sách bút tích nào viết thuật về nguồn lịch sử đời sống Giuse.

Phúc âm Chúa Giêsu theo Thánh Mattheo viết thuật về gia phả chúa Giêsu Kito viết: „ Ông Giacop sinh ông Giuse, chồng của Maria mẹ Đức Giêsu Kitô.“ ( Mt 1,16)

Thánh sử Maco (6,3) giới thiệu Chúa Giesu là con của mẹ Maria. Điều này có thể nói đến Giuse, cha nuôi Chúa Giêsu, người có nếp sống sống âm thầm, đã qua đời sớm.

Người ta cho rằng, vào năm 5. trước Chúa Giêsu giáng sinh - theo suy diễn khảo cứu thực ra vào năm này Chúa Giêsu sinh ra - lúc Chúa Giêsu đạt tới 18 hay 20 tuổi, có thể thánh Giuse lúc đó vào khoảng 43 hay 45 tuổi. Như thế, Thánh Giuse theo mức tuổi trung bình sinh sống ngày xưa, đã bước qua ngưỡng cửa tuổi sống thọ. Như vậy có thể thánh nhân qua đời vào năm 20. sau Chúa Giêsu giáng sinh.

Việc Giuse chấp nhận làm cha nuôi Chúa Giêsu theo phương diện xã hội đã đem lại cho Chúa Giêsu là thành phần thuộc về dòng tộc vua David. Đây là danh dự lớn lao nhất trong dân Do Thái cho người nào thuộc dòng tộc này. Vì từ dòng tộc này sẽ xuất hiện Đấng cứu thế, vị Vua cứu tinh nhân loại. (2 Samuel 7,12)

Khi được chọn làm Vua, trong một giấc mơ, vua Salomon đã khẩn cầu xin Thiên Chúa ban cho ông một tâm hồn biết lắng nghe (1 Các Vua 3,9).Nhờ thế mà vua Salomon trở nên vị vua khôn ngoan và được mọi thế hệ ca ngợi. Và nhân gian xưa nay có ca ví: sự khôn ngoan Salomon!

Còn Thánh Giuse, người chồng dikaios của mẹ Maria, người cha nuôi Chúa Giêsu, cũng có tâm hồn trái tim luôn lắng nghe tiếng Thiên Chúa qua Thiên Thần hiện đến báo cho trong giấc mơ (Mt 1,20, 2,23.19 và 2,22) mỗi lần như thế Ông đều làm theo ngay không thắc mắc gì.

Qua cung cách sống công chính như thế, Thánh Giuse đã chỉ ra về một nếp sống căn bản của người Kitô hữu, của người làm chồng, làm cha gia đình, mà trong đời sống xã hội hôm nay là điều thiếu sót lớn, cùng là một căn bệnh thời đại: nếp sống người công chính!

“Sự thinh lặng của Thánh Giuse không là dấu chỉ sự trống rỗng nội tâm. Trái lại đó là dấu chỉ sức sống trọn vẹn tràn đầy của đức tin ẩn chứa trong trái tim tâm hồn. Và từ nơi đó tuôn chảy ra cùng hướng dẫn những suy nghĩ cùng việc làm.

Qua sự thinh lặng, Thánh Giuse cùng với Đức Mẹ Maria gìn giữ Lời Chúa, mà ngài đã học hỏi trong Kinh Thánh, và giúp ngài đối chiếu hiểu nhận ra những biến sự việc trong đời sống Chúa Giêsu. Sự thinh lặng của Thánh Giuse thành hình trong liên lỷ cầu nguyện ca ngợi Thiên Chúa, trong sự suy ngắm tìm hiểu thánh ý Chúa.

Không phải là phóng đại, khi nghĩ rằng, - theo bình diện suy nghĩ loài người – Chúa Giêsu do từ người cha Giuse, đã học được đời sống nội tâm mạnh mẽ sâu thẳm.

Điều này là điều căn bản của sự công chính đích thực, sự công chính to lớn hơn ( Mt 5,20), mà Chúa Giêsu ngày nào đó sẽ chỉ dạy cho các Tông đồ” (Đức Giáo Hoàng Benedicto 16. Kinh truyền tin ngày 18.12.2005)

„ Ông Thánh Giuse là đấng ngay chính tận trung.“ ( Kinh cầu Thánh Giuse.

Năm Thánh Giuse 2020 -2021 “Patris corde – Trái tim của người Cha.“

Lm. Daminh Nguyễn ngọc Long
 
VietCatholic TV
Bí ẩn trận Mosul. Hình ảnh tráng lệ những thành phố ĐTC sẽ viếng thăm trong chuyến tông du thứ 33
Thế Giới Nhìn Từ Vatican
05:10 03/03/2021


1. Thủ đô Baghdad

Thủ đô Baghdad nghĩa là “Được Chúa Ban”
Baghdad (tiếng Ả Rập: بغداد ), nơi Đức Thánh Cha Phanxicô sẽ cư ngụ trong suốt chuyến tông du từ ngày 5 đến 8 tháng Ba, là thủ đô của Iraq và là một trong những thành phố lớn nhất trong thế giới Ả Rập. So sánh với dân số đông đúc trên một một diện tích nhỏ bé chỉ có 673 km vuông, Baghdad là thành phố có mật độ dân cư lớn nhất trong vùng Trung Đông.

Nằm dọc theo sông Tigris, gần tàn tích của thành phố Babylon ở Akkadian và thủ đô Ctesiphon của Iran cổ đại, Baghdad được thành lập vào thế kỷ thứ 8 và trở thành thủ đô của đế chế Abbasid. Tuy nhiên, trước khi Baghdad trở thành một thành phố, vùng này đã có dân cư. Tên Baghdad đã có từ trước và trong tiếng Aramaic là ngôn ngữ Chúa Giêsu nói khi xuống thế làm người nó có nghĩa là “Được Chúa Ban”.

Trong một thời gian ngắn, Baghdad đã phát triển thành một trung tâm văn hóa, thương mại và tri thức quan trọng của thế giới Hồi giáo. Ngoài việc có một số cơ sở học thuật quan trọng, Baghdad cũng có một môi trường đa sắc tộc và đa tôn giáo, tạo cho thành phố danh tiếng trên toàn thế giới như là “Trung tâm Học tập”.

Baghdad là thành phố lớn nhất trên thế giới trong phần lớn thời đế chế Abbasid, là thời kỳ Hoàng kim của Hồi giáo, với dân số đạt đến mức cao nhất là hơn một triệu người. Thành phố đã bị phá hủy phần lớn dưới tay của Đế chế Mông Cổ vào năm 1258, dẫn đến sự suy tàn kéo dài qua nhiều thế kỷ do thường xuyên xảy ra dịch bệnh và sự thay đổi của nhiều đế chế kế tiếp nhau. Với việc Anh công nhận Iraq là một quốc gia độc lập vào năm 1932, Baghdad dần dần lấy lại một số vị trí nổi bật trước đây như một trung tâm văn hóa Ả Rập quan trọng, với dân số ước tính khoảng 6 hoặc hơn 7 triệu người.

Trong thời hiện đại, thành phố thường xuyên phải đối mặt với những thiệt hại nghiêm trọng về cơ sở hạ tầng, gần đây nhất là do cuộc xâm lược Iraq năm 2003 do Hoa Kỳ lãnh đạo, và Chiến tranh Iraq tiếp theo kéo dài đến tháng 12 năm 2011. Trong những năm gần đây, thành phố thường xuyên là địa bàn của của các cuộc biểu tình, và các cuộc tấn công khủng bố, làm mất đi đáng kể các di sản văn hóa và hiện vật lịch sử. Tính đến năm 2018, Baghdad được xếp vào danh sách những nơi nguy hiểm nhất để sinh sống.

2. Thành phố Najaf

Najaf (tiếng Ả Rập: ٱ لنجف), còn được gọi là Baniqia (tiếng Ả Rập: بانيقيا ), là một thành phố ở miền trung Iraq khoảng 180 km về phía nam Baghdad. Dân số ước tính là 1 triệu người. Đây là thủ phủ của tỉnh Najaf. Theo dự trù, sáng thứ Bẩy, 6 tháng Ba, Đức Thánh Cha sẽ đáp máy bay đi Najaf để có cuộc gặp gỡ với Grand Ayatollah, tức là Đại Giáo Trưởng, của Hồi Giáo Shiite, là Ali al-Sistani.

Najaf được coi là thành phố linh thiêng thứ ba của Hồi giáo Shiite, sau Mecca và Medina, thủ đô tâm linh của thế giới Hồi giáo Shiite và là trung tâm quyền lực chính trị của người Shiite ở Iraq.

Để hiểu tại sao Najaf quan trọng đối với người Hồi giáo Shiite, chúng tôi xin trình bày như sau. Tất cả người Hồi giáo tin rằng không có Chúa nào khác ngoài Allah, và rằng Mohammed là vị tiên tri cuối cùng của Ngài. Họ tin rằng kinh Koran là Lời Chúa mạc khải cho Mohammed. Bên cạnh niềm tin chung đó, họ cũng rất tương đồng trong cách thức thờ phượng. Tuy nhiên, người Hồi Giáo Sunni, chiếm khoảng 80 phần trăm người Hồi giáo, và người Shiite, từ 15-20 phần trăm, thường tiến hành những cuộc chiến tranh tôn giáo kinh hoàng chống lại nhau.

Đền thờ Hồi Giáo Al-Najaf của người Hồi giáo dòng Shiite
Sự khác biệt quan trọng giữa hai hệ phái Hồi Giáo này là một điều thuộc về tín lý: Người Shiite tin rằng sau khi Mohammed qua đời vào năm 632, quyền lãnh đạo tôn giáo do ông thành lập phải được truyền cho con cháu của ông bắt đầu với Ali, là con rể của ông ta. Họ cũng tin rằng hàng lãnh đạo tôn giáo, tức là các imams, phải được thần thánh lựa chọn. Trong khi đó, người Hồi Giáo Sunni tin rằng quyền lãnh đạo tôn giáo phải được trao cho những đồng chí thân cận nhất của tiên tri Mohammed. Khi thế hệ các đồng chí này qua đi, thì người ta bình bầu lên các vị Caliph, tức là những người được cho là ưu tú, và có đạo đức nổi bật, được người ta tôn lên làm các nhà lãnh đạo tôn giáo và chính trị, trực hệ hay không với tiên tri Mohammed không phải là vấn đề.

Sự khác biệt về tín lý này gây ra những hậu quả bi thảm. Mỗi nhánh Hồi Giáo nhìn nhánh khác như là những kẻ đi theo các nhà lãnh đạo giả mạo, và do đó, họ là những người bội giáo - những kẻ phản bội Hồi giáo. Những người cực đoan ở cả hai phía tin rằng những người Hồi Giáo phía bên kia phải bị tận diệt để “thanh tẩy đức tin”.

Ngay những từ đầu sau khi Mohammed qua đời, những imams Shiite đều bị hàng lãnh đạo Sunni tìm mọi cách tiêu diệt, và tất cả 11 nhà lãnh đạo đầu tiên của Hồi Giáo Shiite đều đã chết một cách thê thảm, thường là do bị ám sát.

Trong lịch sử, chính tại Iraq, người Hồi Giáo Shiite đã bị đại bại trong những trận đánh lớn diễn ra trong các thế kỷ thứ 7, thứ 8 và thứ 9, và do đó, mà cũng chính tại Iraq, người Hồi Giáo Shiite có các đền thờ lớn nhất – để vinh danh các nhà lãnh đạo bị thảm sát của họ.

Ali, con rể của tiên tri và cũng là Imam đầu tiên của người Hồi Giáo Shiite, đã bị tấn công và giết chết trong lúc đang cầu nguyện; và sau đó được chôn cất ở Najaf. Con trai của ông là Hussein, vị Imam thứ ba, cũng đã bị giết trong trận Karbala và được chôn cất ở đó.

Cho đến ngày nay, nhiều người Shiite vẫn mang theo bên cạnh họ một viên gạch nhỏ làm bằng đất sét lấy từ đất ở Karbala, nơi máu của Hussein đổ ra. Họ đặt viên gạch xuống đất ở bất cứ nơi nào họ cầu nguyện và nhấn trán của mình lên đó.

Al-Najaf được người Hồi giáo dòng Shiite coi là linh thiêng vì là nơi chôn cất Ali, con rể và anh họ của tiên tri Muhammad. Thành phố hiện là một trung tâm hành hương trên khắp thế giới của Hồi giáo Shiite. Người ta ước tính rằng chỉ có Mecca và Medina là hai nơi nhận được nhiều người hành hương Hồi giáo hơn.

Đền thờ Hồi Giáo Imam Ali nằm trong một công trình kiến trúc vĩ đại với mái vòm mạ vàng và nhiều đồ vật quý giá trên tường. Gần đó là nghĩa trang Wadi-us-Salaam, lớn nhất thế giới. Nó chứa các ngôi mộ của một số nhà tiên tri và nhiều người tín hữu Hồi Giáo từ khắp nơi trên thế giới mong muốn được chôn cất ở đó, để được sống lại từ cõi chết cùng với Imam Ali vào ngày Phán xét. Qua nhiều thế kỷ, nhiều nhà tế bần, trường học, thư viện và viện nghiên cứu đã được xây dựng xung quanh đền thờ để biến thành phố trở thành trung tâm học tập và thần học của Hồi giáo Shiite.

Chủng viện Al-Najaf là một trong những trung tâm giảng dạy quan trọng nhất trong thế giới Hồi giáo. Ayatollah Khomeini giảng dạy ở đó từ năm 1964 đến năm 1978. Nhiều nhân vật hàng đầu của phong trào Hồi giáo mới nổi lên ở Iraq, Iran và Li Băng trong những năm 1970 đã học tại Najaf.

Najaf, cùng với Karbala, được coi là một điểm đến hành hương đông đúc của người Hồi giáo Shiite và ngành công nghiệp hành hương trong thành phố bùng nổ sau khi kết thúc sự cai trị của Saddam Hussein. Tuy nhiên, do lệnh trừng phạt của Mỹ đối với Iran, số lượng người hành hương Iran đã giảm đáng kể.

3. Thành phố Nasiriyah

Nasiriyah (tiếng Ả Rập: ٱ لناصرية ) là một thành phố ở miền Nam Iraq cách thủ đô Baghdad 350km về phía Đông Nam, cách Najaf 250km về phía Đông Đông Nam. Nó nằm dọc theo bờ sông Euphrates, khoảng 360 km về phía đông nam Baghdad, gần những tàn tích của thành phố cổ Ur. Dân số ở đây vào khoảng 560,000 người, khiến nó trở thành thành phố lớn thứ tư ở Iraq. Vào đầu thế kỷ 20, thành phố có một dân số đa dạng về tôn giáo gồm người Hồi giáo, người Manda và người Do Thái, nhưng ngày nay cư dân của thành phố này chủ yếu là người Hồi giáo Shiite.

Vùng đồng bằng Ur là quê hương của tổ phụ Abraham
Nasiriyah được thành lập bởi bộ tộc Muntafiq vào cuối thế kỷ 19 trong thời kỳ Ottoman. Nó đã trở thành một trung tâm giao thông vận tải lớn. Nasiriyah là trung tâm của khu vực trồng cây chà là. Các ngành công nghiệp tiểu thủ công của thành phố bao gồm đóng thuyền, làm mộc và làm các đồ trang trí bằng bạc. Viện bảo tàng thành phố có một bộ sưu tập lớn các hiện vật của người Sumer, Assyriô, Babylon và Abbasid. Tàn tích của các thành phố cổ đại Ur và Larsa nằm gần đó.

Vào ngày thứ Bẩy, 6 tháng Ba, sau cuộc viếng thăm xã giao với Đại Giáo Trưởng Ali al-Sistani của Hồi giáo Shiite, Đức Thánh Cha sẽ khởi hành bằng máy bay đi Nasiriyah.

Vùng đồng bằng Ur là quê hương ban đầu của tổ phụ Abraham trước khi ngài lên đường theo tiếng Chúa gọi để xây dựng quê hương mới ở Canaan.

Tại Nasiriyah, Đức Thánh Cha sẽ có cuộc gặp gỡ liên tôn với các tôn giáo lớn tại Iraq.

4. Thành phố Erbil

Erbil (tiếng Ả Rập:ھ ە ول ێ ر) được biết đến trong lịch sử cổ đại với danh xưng là Arbela, là thủ phủ và là thành phố đông dân cư nhất trong khu vực Kurdistan của Iraq. Thành phố có khoảng 1.5 triệu dân. Đây là thủ phủ của khu tự trị Kurdistan Iraq, cách Baghdad 370km về phía Bắc.

Thành phố Erbil
Con người đã có mặt tại Erbil từ thiên niên kỷ thứ 5 trước Chúa Giáng Sinh. Như thế, Erbil là một trong những khu vực có người sinh sống liên tục lâu đời nhất trên thế giới.

Thành phố có dân số đa dạng về sắc tộc gồm người Kurd, người Thổ, người Assyriô, người Ả Rập và người Armenia. Nó cũng đa dạng về tôn giáo không kém, với các tín đồ của Hồi giáo Sunni, Hồi giáo Shiite, Kitô Giáo, và các tín hữu Yazidi.

Sáng Chúa Nhật, 7 tháng 3, Đức Thánh Cha sẽ khởi hành bằng máy bay từ thủ đô Baghdad để bay đến Erbil.

Khi đến sân bay Irbil, ngài aẽ có cuộc gặp gỡ với các nhà lãnh đạo tôn giáo và dân sự của Khu tự trị người Kurdistan trong phòng khánh tiết của sân bay.

Sau cuộc gặp gỡ tại đây, Đức Thánh Cha sẽ khởi hành bằng trực thăng đến Mosul.

5. Thành phố Mosul

Mosul (tiếng Ả Rập: الموصل ) là một thành phố lớn ở miền bắc Iraq, nằm cách thủ đô Baghdad khoảng 400 km về phía bắc, và cách Erbil 80km về phía Tây Tây Bắc. Mosul nằm trên bờ tây của sông Tigris, đối diện với thành phố Ninivê cổ của người Assyriô ở bờ đông. Khu vực đô thị đã phát triển bao gồm các khu vực đáng kể ở cả hữu ngạn và tả ngạn của con sông Tigris.

Mosul, cùng với đồng bằng Ninivê gần đó, là một trong những trung tâm lịch sử của người Assyriô và các Giáo Hội của họ bao gồm Giáo Hội Công Giáo nghi lễ Chanđê, Giáo Hội Công Giáo nghi lễ Syria và các Giáo Hội Chính Thống Đông Phương của người Assyriô, có lăng mộ của một số nhà tiên tri trong Cựu ước như tiên tri Giôna, một số đã bị bọn khủng bố Hồi Giáo IS phá hủy vào tháng 7 năm 2014.

Thành phố Mosul
Mosul là thành phố lớn thứ hai của Iraq sau thủ đô Baghdad, và là nơi đã diễn ra một trận chiến kỳ lạ nhất trong lịch sử cận đại. Trước sự ngỡ ngàng của thế giới, đêm 9 rạng 10 tháng 6, 2014 30,000 quân Iraq đồn trú trong thành phố Mosul, cùng với gần 30,000 cảnh sát liên bang, tức là gần 60,000 quân đã bỏ chạy tán loạn trước sức tấn công của một lực lượng chỉ từ 800 đến 1,500 quân khủng bố Hồi Giáo IS. Kho bạc, các kho vũ khí, các chiến xa và các khí tài chiến tranh khác được bỏ lại gần như nguyên vẹn.

Chiến thắng Mosul tạo ra một thanh thế rất lớn cho bọn khủng bố Hồi Giáo IS đến mức nhiều thành phố, làng mạc khác lần lượt rơi vào tay chúng. Trong thời cực thịnh của IS, một nửa nước Iraq và một phần ba Syria rơi vào tay chúng. Có lúc, chúng đã áp sát được đến tận thủ đô Baghdad.

Hơn 2 năm sau thất bại tại Mosul, quân Iraq mới hoàn hồn và mới dám mở cuộc tấn công giải phóng Mosul từ ngày 16 tháng 10, 2016 và đến ngày 9 tháng 7, 2017 mới chính thức giải phóng được thành phố này.

Khi đến Mosul, Đức Thánh Cha sẽ cầu nguyện tưởng niệm các nạn nhân chiến tranh tại Hosh al-Bieaa, nghĩa là quảng trường nhà thờ.

Trong trận chiến tại Mosul, quân Iraq thiệt mất 1,200 quân và 5,000 quân nhân bị thương. Quân Kurd tham chiến bên cạnh quân Iraq thiệt mất 30 quân và 100 quân nhân bị thương. Hoa Kỳ có 2 quân nhân bị giết và 20 người khác bị thương, Quân Iran chiến đấu bên cạnh lực lượng dân quân Hồi giáo Shiite có 3 người bị giết.

Về phía thường dân có 6,400 người thiệt mạng và 17, 124 người bị thương.

6. Thành phố Bakhdida

Bakhdida (tiếng Ả Rập: بخديدا ) còn được gọi là Baghdeda, hay Qaraqosh, là một thành phố của người Assyriô ở miền bắc Iraq trong tỉnh Ninivê, tọa lạc khoảng 39 km về phía Đông Nam thành phố Mosul và 60 km về phía tây Erbil trong bối cảnh đất nông nghiệp, gần đống đổ nát của các thành phố Assyriô cổ đại Nimrud và Ninivê. Nó được kết nối với thành phố Mosul bằng hai con đường chính. Tuyến đầu tiên nối vào trục đường Mosul - Erbil chạy qua các thị trấn Bartella và Karamles. Tuyến thứ hai được xây dựng những năm 1990, dẫn thẳng đến Mosul.

Qaraqosh là tên do người Thổ Nhĩ Kỳ đặt dưới thời đế quốc Ottoman. Từ đầu vùng này có tên là Bakhdida, theo tiếng Aramaic có nghĩa là “Vùng đất của loài chim Kite”. Dân chúng trong vùng gần như toàn tòng theo Công Giáo nghi lễ Syria hay theo Chính Thống Giáo Syria. Đến nay họ vẫn dùng tiếng Aramaic là ngôn ngữ Chúa Giêsu nói khi xuống thế làm người.

Ngày 6 tháng 8, 2014, trước sức tấn công của bọn khủng bố Hồi Giáo IS, toàn bộ dân chúng dưới sự hướng dẫn của các linh mục dắt nhau bỏ chạy về thành phố Erbil. Thành phố không còn một ai nên có thời gọi là thành phố ma. Quân IS sau khi chiếm được thành phố đã nổi lửa đốt cháy toàn bộ các nhà thờ trong vùng. Ngày 19 tháng 10, 2016 thành phố mới được giải phóng.

Đức Thánh Cha sẽ có cuộc gặp gỡ với cộng đoàn địa phương tại nhà thờ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội ở Qaraqosh.

Đức Hồng Y Philippe Barbarin.
Ngôi nhà thờ này có một kỷ niệm đặc biệt với vị Hồng Y người Pháp nguyên Tổng Giám Mục Lyon là Đức Hồng Y Philippe Barbarin.

Ngày 29 tháng 7, 2014 tức là khi bọn khủng bố Hồi Giáo IS đã chiếm được Mosul hơn một tháng, Đức Hồng Y Philippe Barbarin đến thăm vùng này và dâng lễ với họ. Chỉ một tuần sau, dân chúng bỏ chạy về thành Erbil. Ngài ngậm ngùi gặp lại họ ở đó.

Ngay sau khi Mosul vừa được giải phóng, Đức Hồng Y đã quay lại gặp gỡ anh chị em giáo dân ở đây vào ngày 25 tháng 7, 2017.

Giảng trong thánh lễ, Đức Hồng Y ngậm ngùi nói: “Lần chót tôi đến đây là vào ngày 29 tháng 7 năm 2014. Nhà thờ thật huy hoàng, lộng lẫy, có cả một ca đoàn, lúc đó nhà thờ còn chật đầy người. Hôm nay trở lại sau bao nhiêu những bạo lực và cướp bóc, lòng tôi buồn khôn tả. Nhưng đồng thời thấy vùng đất đang được hồi sinh, tôi cũng tràn trề hy vọng.”

Bên ngoài một nhà thờ tại Mosul, ngài đã nhờ những người Iraq công kênh ngài lên để ngài tự tay đặt một tượng Đức Mẹ do ngài mang từ Lyon sang.

Đức Hồng Y nói: “Bức tượng nhỏ này là một biểu tượng đẹp cho tình huynh đệ mạnh mẽ mà tôi hy vọng đã thêm vào một điều gì đó mà trong trường hợp nào cũng có thể chuyển hoá chúng ta. Chúng tôi nhận thức rằng ta không thể sống bằng cách nhìn mọi thứ từ xa và đọc xem người ta đau khổ như thế nào trên báo chí. Chúng ta phải sống với họ.”