Ngày 04-02-2023
 
Phụng Vụ - Mục Vụ
Chúa Nhật Thứ Năm Mùa Thường Niên 05/02/2023 dành cho những người không thể đến nhà thờ
Giáo Hội Năm Châu
01:07 04/02/2023

BÀI ĐỌC 1 Is 58:7 10

Bài trích sách ngôn sứ I sai a.

Đây là lời Đức Chúa phán:

“Ngươi hãy chia cơm cho người đói,

rước vào nhà những người nghèo không nơi trú ngụ;

thấy ai mình trần thì cho áo che thân,

không ngoảnh mặt làm ngơ trước người anh em cốt nhục.

Bấy giờ ánh sáng ngươi sẽ bừng lên như rạng đông,

vết thương ngươi sẽ mau lành.

Đức công chính ngươi sẽ mở đường phía trước,

vinh quang Đức Chúa bao bọc phía sau ngươi.

Bấy giờ, ngươi kêu lên, Đức Chúa sẽ nhận lời,

ngươi cầu cứu, Người liền đáp lại: ‘Có Ta đây!’

Nếu ngươi loại khỏi nơi ngươi ở

gông cùm, cử chỉ đe doạ và lời nói hại người,

nếu ngươi nhường miếng ăn cho kẻ đói,

làm thoả lòng người bị hạ nhục,

thì ánh sáng ngươi sẽ chiếu toả trong bóng tối,

và tối tăm của ngươi chẳng khác nào chính ngọ.”

Đó là Lời Chúa.

BÀI ĐỌC 2 1Cr 2:1 5

Bài trích thư thứ nhất của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Cô-rin-tô.

Thưa anh em, khi tôi đến với anh em, tôi đã không dùng lời lẽ hùng hồn hoặc triết lý cao siêu mà loan báo mầu nhiệm của Thiên Chúa. Vì hồi còn ở giữa anh em, tôi đã không muốn biết đến chuyện gì khác ngoài Đức Giê su Ki tô, mà là Đức Giê su Ki tô chịu đóng đinh vào thập giá. Vì thế, khi đến với anh em, tôi thấy mình yếu kém, sợ sệt và run rẩy. Tôi nói, tôi giảng mà chẳng có dùng lời lẽ khôn khéo hấp dẫn, nhưng chỉ dựa vào bằng chứng xác thực của Thần Khí và quyền năng Thiên Chúa. Có vậy, đức tin của anh em mới không dựa vào lẽ khôn ngoan người phàm, nhưng dựa vào quyền năng Thiên Chúa.

Đó là Lời Chúa.

TUNG HÔ TIN MỪNG Ga 8:12

Alleluia. Alleluia.

Chúa nói: Tôi là ánh sáng thế gian. Ai theo tôi sẽ nhận được ánh sáng đem lại sự sống.

Alleluia.

TIN MỪNG Mt 5:13 16

Tin mừng Chúa Giê su Ki tô theo thánh Mát thêu.

Khi ấy, Đức Giê su nói với các môn đệ rằng: “Chính anh em là muối cho đời. Nhưng muối mà nhạt đi, thì lấy gì muối nó cho mặn lại? Nó đã thành vô dụng, thì chỉ còn việc quăng ra ngoài cho người ta chà đạp thôi.

“Chính anh em là ánh sáng cho trần gian. Một thành xây trên núi không tài nào che giấu được. Cũng chẳng có ai thắp đèn rồi lại để dưới cái thùng, nhưng đặt trên đế, và đèn soi chiếu cho mọi người trong nhà.

“Cũng vậy, ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời.”

Đó là Lời Chúa.
 
Đi Ra ...
Lm JB Nguyễn Minh Hùng
05:13 04/02/2023

"ĐI RA..."
CHÚA NHẬT V MÙA THƯỜNG NIÊN NĂM A

Muối, ánh sáng có mặt trên đời không vì chính nó nhưng luôn vì cái gì khác bên ngoài nó. Cả hai đều vừa có sức đánh bật điều tồi tệ, vừa phát huy cái tốt.

Một khi dùng bảo quản, nêm nếm, ngay cả làm phân bón, muối đẩy xa sự hư hao, thối rữa, mang lại sự toàn vẹn, tốt tươi cho cái mà nó bảo quản.

Cũng vậy, ánh sáng không chỉ xóa tan bóng tối mà còn soi rọi, còn làm cho ấm áp, làm cho mọi thứ nên tỏ tường và sáng tỏ...

Tiếp theo Chúa nhật vừa qua, vẫn là bài giảng trên núi, Chúa Giêsu muốn những người vừa học biết các mối phúc thật cũng phải biết rành mạch và xác thực: họ "là muối cho đời… là ánh sáng thế gian".

1. Đã là muối:

Tín hữu phải ý thức bổn phận "ướp mặn" môi trường mà mình hiện diện, phải gieo vào cư dân sống chung quanh cảm tình tôn giáo mà mình đang mang.

Nói cách khác, bằng:

- Gương sáng của đức ái, của tình yêu đồng loại, của việc sống chữ "nhân";
- Những quan tâm thiết thực để không chỉ không ngừng mà còn sẵn sàng và tích cực giúp đỡ những người lân cận;
- Luôn ý thức diễn tả đức tin, đức cậy, đức mến qua đời sống thường nhật, qua mọi tiếp xúc, gặp gỡ, trao đổi... nhằm nêu gương chính tình yêu của Thiên Chúa và của Chúa Kitô cho mọi người, mọi nơi.

2. Đã là ánh sáng:

Người tín hữu phải biết, họ được Chúa nâng cao quá sức. Bởi chỉ một mình Thiên Chúa mới là Ánh Sáng (1Ga1, 5); chỉ một mình Chúa Giêsu mới dám tuyên bố: "Ta là Ánh Sáng trần gian" (Ga 8,12).

Vì thế, họ phải luôn đặt mình gần với Chúa qua đời sống cầu nguyện, suy niệm Lời Chúa, sống Lời Chúa, biết nhìn lại mình, khám phá lại bản thân để luôn tự điều chỉnh mình sao cho ngày càng "sáng" và thật "sáng".

"Gần đèn thì sáng". Con người muốn giống ai thì phải theo sát người đó, cố gắng bắt chước người đó, cố gắng học theo từng cách thức, từng lối suy tư mà người đó thể hiện và nêu gương.

Không thể có một Kitô hữu khác Chúa Kitô. Chúng ta không có con đường nào khác ngoài con đường mà Chúa đã dạy và thể hiện bằng cả đời sống nơi trần gian của Ngài.

Thành ánh sáng còn là lời mời gọi truyền giáo. Kitô hữu có bổn phận, bằng chính đời sống, lời nói và mọi cách thế thể hiện của mình, mang đến anh chị em quanh mình hy vọng sống và ơn cứu độ mà Chúa Kitô thực hiện và trao ban.

Kitô hữu phải luôn mang lại cho những ai gần gũi với họ sự an tâm, an ủi và đỡ nâng. Nhất là người nghèo, người đau khổ, người phải sống trong tăm tối và tuyệt vọng, để họ nhận ra ánh sáng của Tin Mừng, của tình yêu Chúa.

Biết mình là ánh sáng, nhưng không phải tự mình mà chỉ có thể nhận lãnh từ Thiên Chúa và từ Chúa Kitô, người tín hữu phải luôn khiêm tốn, luôn thấy mình bất toàn, giới hạn, nhất là phải biết rằng, bản thân cũng chỉ là một người anh em với tất cả mọi người bên cạnh, để họ luôn khiêm tốn, luôn biết hạ mình phục vụ ơn phần rỗi của anh chị em.

Chúng ta hãy cùng lắng nghe lời Cha chung, Đức Thánh Cha Phanxicô, khuyên dạy để có thể giúp bản thân sống Lời Chúa hầu trở thành muối và ánh sáng ngày càng tốt hơn:

"Chúa Giêsu mời gọi chúng ta đừng sợ hãi khi sống trong thế giới, ngay cả khi chúng ta sống trong những bối cảnh xung đột và tội lỗi. Trước bạo lực, bất công, áp bức, người Kitô hữu không thể rút lui vào chính mình hoặc ẩn mình vào vỏ bọc an toàn của bản than. Giáo Hội cũng không thể khép mình lại, không thể từ bỏ sứ mạng loan báo Tin Mừng và phục vụ. Trong Bữa Tiệc Ly, Chúa Giêsu đã xin Chúa Cha đừng cất các môn đệ khỏi thế gian và để họ ở trong thế gian, nhưng Người xin Chúa Cha gìn giữ họ khỏi tinh thần của thế gian. Giáo Hội trao dâng chính mình với lòng quảng đại và dịu dàng cho những người nhỏ bé và người nghèo. Đây không phải là tinh thần của thế gian, nhưng đây là ánh sáng cho thế gian, là muối cho thế gian" (Trích bài giảng trong buổi đọc kinh Truyền tin ngày 9.2.2020).

 
Tin Giáo Hội Hoàn Vũ
Chuyến tông du tại Nam Sudan: Diễn từ của Đức Giáo Hoàng Phanxicô với các nhà cầm quyền, các đại diện xã hội dân sự và ngoại giao đoàn
Vu Van An
00:00 04/02/2023

Theo tin Tòa Thánh, sau khi đặt chân lên Nam Sudan để thực hiện phần 2 chuyến thăm hai nước Phi Châu của ngài, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã ngỏ lời với các nhà cầm quyền, các đại diện xã hội dân sự và ngoại giao đoàn tại Dinh Tổng Thống ở Juba. Sau đây là nguyên văn Bài Diễn từ của ngài, theo bản tiếng Anh do Tòa Thánh cung cấp:



Thưa Tổng thống
Thưa các Phó Tổng thống
Thưa các Thành viên Chính phủ và Ngoại giao đoàn,
Thưa các thẩm quyền tôn giáo và dân sự ưu tú,
Thưa quý vị Đại diện Xã hội Dân sự và Thế giới Văn hóa,
Thưa quý bà và quý ông
,

Thưa Tổng thống, tôi cảm ơn ngài vì những lời lẽ tốt đẹp của ngài. Tôi rất vui khi được đến đất nước này, nơi có một vị trí đặc biệt trong trái tim tôi. Tôi biết ơn ngài, thưa Tổng thống, vì sự chào đón của ngài, và tôi gửi lời chào thân ái tới từng qúy ngài, và thông qua qúy ngài, tới tất cả những người đàn ông và đàn bà đang sống trên đất nước trẻ trung và thân yêu này. Tôi đến đây như một người hành hương hòa giải, với hy vọng được đồng hành với qúy vị trên con đường hòa bình. Đó là một hành trình quanh co, nhưng là một hành trình không thể trì hoãn được nữa. Tôi cũng không ở đây một mình, vì trong hòa bình cũng như trong cuộc sống, tất cả chúng ta đều đồng hành cùng với nhau. Vì vậy, tôi đã đến với hai người anh em, Tổng Giám mục Canterbury và vị điều hành Đại hội đồng Giáo hội Scotland, những người mà tôi cảm ơn vì tất cả những gì họ sẽ nói với chúng ta. Cùng nhau, dang rộng đôi tay, chúng tôi tự trình diện với qúy vị và với dân tộc này nhân danh Chúa Giêsu Kitô, Hoàng tử Hòa bình.

Chúng tôi đã thực hiện cuộc hành hương đại kết vì hòa bình này sau khi nghe lời cầu xin của toàn thể một dân tộc khóc thương, một cách rất có nhân phẩm, cho tình trạng bạo lực mà họ phải chịu đựng, tình trạng thiếu an ninh kéo dài, tình trạng nghèo đói và những thảm họa thiên nhiên mà họ đã trải qua. Nhiều năm chiến tranh và xung đột dường như không bao giờ kết thúc và gần đây, thậm chí ngày hôm qua, đã có những cuộc đụng độ gay gắt. Đồng thời, quá trình hòa giải dường như bị đình trệ và lời hứa hòa bình chưa được thực hiện. Cầu mong sự đau khổ kéo dài này không vô ích; cầu mong sự kiên nhẫn và hy sinh của người Nam Sudan, dân tộc trẻ trung, khiêm tốn và can đảm này, thách thức tất cả mọi người và giống như những hạt giống gieo vào đất mang lại sự sống cho cây cối, giúp hòa bình đơm hoa kết trái. Thưa các anh chị em, đây là thời gian cho hòa bình!

Trái cây và thảm thực vật phong phú ở đây, nhờ có con sông lớn chảy qua đất nước. Điều mà nhà sử học cổ đại Herodotus đã nói về Ai Cập, tức là, nó có thể được gọi là “hồng phúc của sông Nile” cũng áp dụng cho Nam Sudan. Thực vậy, như qúy vị thường nói, đây là một “vùng đất trù phú”. Tôi muốn dùng hình ảnh của dòng sông vĩ đại này chảy ngang qua đất nước, một quốc gia non trẻ nhưng có một lịch sử lâu đời. Trong nhiều thế kỷ, các nhà thám hiểm đã mạo hiểm đến khu vực này để đi ngược dòng sông Nile Trắng nhằm tìm kiếm nguồn gốc của con sông dài nhất thế giới. Chính từ việc tìm kiếm cội nguồn cuộc sống chung của chúng ta mà tôi muốn bắt đầu cuộc hành trình của tôi với qúy vị. Mảnh đất này, vốn dư dật trong rất nhiều của cải, thổ nhưỡng nhưng trên hết là ở tấm lòng và khối óc của người dân, ngày nay cần được tưới mát trở lại bằng những nguồn suối trong lành và mang lại sự sống.

Qúy vị, những nhà lãnh đạo ưu tú, chính là những dòng suối này: những dòng suối tưới mát cuộc sống của cộng đồng, những người cha, người mẹ của non nước trẻ trung này. Qúy vị được mời gọi đổi mới đời sống xã hội như những nguồn thịnh vượng và hòa bình thuần túy, rất cần thiết cho những người con trai và con gái của Nam Sudan. Họ cần những người cha, không phải lãnh chúa; họ cần những bước phát triển vững chắc chứ không phải những sự sụp đổ triền miên. Cầu mong thời gian tiếp sau sự ra đời của đất nước, tuổi thơ đau thương của nó, dẫn đến một sự trưởng thành hòa bình: đã đến lúc (phải làm như thế). Các nhà cầm quyền thân mến, những “con trai và con gái” đó, và chính lịch sử, sẽ nhớ đến qúy vị nếu qúy vị làm việc vì lợi ích của dân tộc mà qúy vị được kêu gọi phục vụ này. Các thế hệ tương lai hoặc sẽ tôn kính tên của qúy vị hoặc triệt tiêu ký ức của họ, dựa trên những gì qúy vị làm bây giờ. Vì giống như sông Nile rời nguồn để bắt đầu dòng chảy của nó, thì dòng lịch sử cũng sẽ bỏ lại phía sau những kẻ thù của hòa bình và mang lại danh tiếng cho những người kiến tạo hòa bình thực sự. Thật vậy, như Kinh Thánh cho chúng ta biết, “người có hòa bình sẽ có hậu duệ” (x. Tv 37:37).

Ngược lại, bạo lực quay ngược dòng lịch sử. Chính Herodotus đã nói về sự gián đoạn giữa các thế hệ do chiến tranh gây ra, khi con cái không còn chôn cất cha mẹ chúng, mà cha mẹ chôn cất con cái của họ (x. Histories, I, 87). Để mảnh đất này không biến thành nghĩa địa, mà trở thành một khu vườn sum suê một lần nữa, tôi hết lòng nài xin qúy vị chấp nhận bốn hạn từ đơn giản: không phải lời của tôi, mà là lời của Chúa Kitô. Chính Người đã nói chúng trong một khu vườn, vườn Diệtsimani, khi nói với một môn đệ của Người, môn đệ đã rút gươm, Người kêu lớn: “Thôi, ngừng lại!” (Lc 22:51). Thưa Tổng thống và các Phó tổng thống, nhân danh Thiên Chúa, Thiên Chúa mà chúng ta đã cùng nhau cầu nguyện ở Rôma, Thiên Chúa, Đấng hiền lành và khiêm nhường trong lòng (x. Mt 11:29), Thiên Chúa mà rất nhiều người của đất nước thân yêu này tin vào, bây giờ là lúc để nói “Thôi, hãy ngừng lại”, không có “nếu” hay “nhưng”. Không còn đổ máu, không còn xung đột, không còn bạo lực và buộc tội lẫn nhau về việc ai phải chịu trách nhiệm về việc đó, không còn để cho người dân của qúy vị khao khát hòa bình. Không còn phá hủy nữa: đã đến lúc xây dựng! Hãy bỏ thời gian chiến tranh lại phía sau và để thời gian hòa bình ló rạng ở bình minh! Và về vấn đề này, thưa Tổng thống, tôi nhớ cuộc trò chuyện buổi tối mà chúng ta đã có nhiều năm trước ở Uganda: ước mong hòa bình của ngài đã ở đó... Chúng ta hãy tiến tới vấn đề này!

Chúng ta hãy nghĩ lại về các cội nguồn của dòng sông, đến những dòng nước tượng trưng cho sự sống. Nguồn gốc của đất nước này, và đường chẩy do người dân Nam Sudan thực hiện vào ngày 9 tháng 7 năm 2011, gợi nhớ đến một hạn từ khác: Cộng hòa. Tuy nhiên, trở thành một nền Cộng hòa, một res publica có nghĩa là gì? Nó có nghĩa là xem mình thực sự là “công cộng”, “của dân”; nó tuyên bố rằng nhà nước thuộc về tất cả mọi người; và do đó, những người được giao phó những trách nhiệm lớn hơn, chủ trì và điều hành nó, có nhiệm vụ phục vụ công ích. Đó là mục đích của quyền lực: phục vụ cộng đồng. Tuy nhiên, luôn có sự cám dỗ sử dụng quyền lực vì lợi ích của chúng ta. Vì vậy, chỉ đơn giản được gọi là Cộng hòa là không đủ; nó cần phải là một nền cộng hòa thực sự, bắt đầu từ của cải đệ nhất hạng. Các nguồn tài nguyên dồi dào mà Thiên Chúa đã ban phước cho vùng đất này không nên chỉ giới hạn cho một số ít, mà được công nhận là di sản của tất cả mọi người, và các kế hoạch phục hồi kinh tế phải trùng khớp với các đề xuất phân phối của cải một cách công bằng.

Sự phát triển của một nền dân chủ lành mạnh là điều cần thiết cho cuộc sống của một nền Cộng hòa. Nó duy trì sự phân biệt lành mạnh về quyền hạn một cách mà, chẳng hạn, những người thực thi công lý có thể làm như vậy mà không có sự can thiệp từ những người lập pháp hoặc cai trị. Ngoài ra, dân chủ giả định việc tôn trọng các quyền con người, được duy trì bởi luật pháp và việc áp dụng luật pháp, đặc biệt là quyền tự do tự phát biểu. Cần ghi nhớ rằng không có hòa bình nếu không có công lý (x. Thánh Gioan Phaolô II, Sứ điệp cử hành Ngày Hòa bình Thế giới, 1 tháng 1, 2002), nhưng cũng không có công lý nếu không có tự do. Do đó, mọi công dân nên được tạo điều kiện để tận dụng tối đa hồng phúc độc đáo và không thể lặp lại của cuộc đời mình, đồng thời được cung cấp những phương tiện phù hợp để làm điều đó. Theo lời của Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII: “Mọi người đều có quyền sống, quyền toàn vẹn về thân thể và quyền có những phương tiện cần thiết để phát triển đúng đắn cuộc sống” (Pacem in Terris, 11).

Sông Nile, rời nguồn và đi qua một số địa hình không bằng phẳng tạo ra thác nước và ghềnh, đi vào đồng bằng Nam Sudan và gần Juba, trở nên có thể điều hướng được, trước khi đi vào các khu vực lầy lội hơn. Tương tự như vậy, tôi tin tưởng rằng con đường dẫn đến hòa bình của nền Cộng hòa sẽ không diễn ra gập ghềnh, nhưng, bắt đầu từ thủ đô này, sẽ đi theo một lộ trình có thể điều hướng và không bị sa lầy bởi quán tính. Các bạn thân mến, đã đến lúc chuyển từ lời nói sang hành động. Đã đến lúc lật sang trang mới: đây là lúc cam kết thực hiện một sự biến đổi khẩn cấp và rất cần thiết. Tiến trình hòa bình và hòa giải đòi hỏi một khởi đầu mới. Mong sao đạt được sự hiểu biết và đạt được tiến bộ trong việc tiến lên phía trước với Hiệp định Hòa bình và Bản đồ Lộ trình! Trong một thế giới đầy rẫy chia rẽ và xung đột, đất nước này đang tổ chức một cuộc hành hương đại kết vì hòa bình, một điều hiếm thấy; nó đại diện cho một sự thay đổi hướng đi, một cơ hội để Nam Sudan tiếp tục chèo thuyền trong vùng nước lặng, tiến hành đối thoại, không có sự hai lòng và chủ nghĩa cơ hội. Cầu mong cho mọi người có dịp làm sống lại niềm hy vọng, không chỉ cho chính phủ, mà cho tất cả mọi người. Hãy để mỗi người dân hiểu rằng đã đến lúc không còn bị cuốn theo dòng nước ô nhiễm của hận thù, chủ nghĩa bộ lạc, chủ nghĩa khu vực và sự khác biệt sắc tộc. Anh chị em thân mến, đã đến lúc cùng nhau chèo thuyền hướng tới tương lai! Cùng nhau. Chúng ta không được quên từ này: cùng nhau.

Dòng chảy của dòng sông lớn cũng có thể gợi ý một cách để tiến về phía trước. Trên đường đi, sông Nile hợp lưu với một con sông khác ở Hồ No, tạo thành cái gọi là sông Nile Trắng. Lúc đó, nó là vùng nước trong suốt, phát sinh từ một cuộc gặp gỡ. Anh chị em thân mến, đây là con đường phải đi: tôn trọng nhau, tìm hiểu nhau và tham gia đối thoại. Đằng sau mọi hình thức bạo lực, đều có sự tức giận và oán giận, và đằng sau mọi hình thức giận dữ và oán giận, là ký ức không lành về những vết thương, sự sỉ nhục và sai trái. Theo đó, cách duy nhất để thoát khỏi những điều này là gặp gỡ, văn hóa gặp gỡ: bằng cách chấp nhận người khác như anh chị em của chúng ta và nhường chỗ cho họ, ngay cả khi điều đó có nghĩa là lùi một bước. Thái độ này, vốn cần thiết cho bất cứ tiến trình hòa bình nào, cũng không thể thiếu hữu ích cho sự phát triển gắn kết của xã hội. Trong quá trình quá độ từ sự đối đầu man rợ sang một nền văn hóa gặp gỡ sống còn, những người trẻ tuổi đóng một vai trò quyết định. Do đó, họ nên được cung cấp những không gian gặp gỡ cởi mở để gặp nhau và thảo luận. Cầu mong họ không sợ hãi nắm giữ tương lai vốn là của họ! Sau đó, những người phụ nữ, những người mẹ hiểu rõ sự sống được tạo ra và bảo vệ như thế nào, cần phải ngày càng được tham gia nhiều hơn vào đời sống chính trị và các quá trình ra quyết định. Phụ nữ cần được tôn trọng, vì bất cứ ai có hành vi bạo lực đối với phụ nữ là phạm tội đó với Thiên Chúa, Đấng đã lấy xác thịt từ một người phụ nữ.

Chúa Kitô, Ngôi Lời nhập thể, đã dạy chúng ta rằng chúng ta càng trở nên nhỏ bé, bằng cách nhường chỗ cho người khác và đón nhận mọi người lân cận như anh chị em, thì chúng ta càng trở nên cao cả hơn trước mắt Chúa. Lịch sử non trẻ của đất nước này, bị xâu xé bởi các xung đột sắc tộc, cần khám phá ra sự huyền bí của cuộc gặp gỡ, ân sủng của toàn thể. Cần phải nhìn xa hơn các nhóm và các khác biệt để hành trình như một dân tộc, giống như ở sông Nile, được làm giàu nhờ sự đóng góp của các nhánh khác nhau của nó. Hơn một thế kỷ trước, chính nhờ dòng sông mà những nhà truyền giáo đầu tiên đã đến những bờ biển này, tiếp theo, với thời gian, là nhiều nhân viên nhân đạo. Tôi muốn cảm ơn họ tất cả vì những công việc có giá trị mà họ đã làm. Đồng thời, tôi nghĩ đến những nhà truyền giáo, phải nói là rất buồn, đã gặp phải cái chết trong khi gieo rắc sự sống. Chúng ta đừng quên họ và đừng quên bảo đảm cho họ và cho những người làm công tác nhân đạo sự an toàn và hỗ trợ cần thiết cho các công việc bác ái của họ, để dòng sông thiện hảo có thể tiếp tục chảy.

Tuy nhiên, một dòng sông lớn đôi khi có thể tràn bờ và gây ra thảm họa. Đáng thương thay, đây là kinh nghiệm của nhiều nạn nhân lũ lụt ở đất nước này. Tôi bày tỏ sự gần gũi của mình với họ và kêu gọi để họ đừng thiếu sự giúp đỡ cần thiết. Các thiên tai kể cho chúng ta nghe câu chuyện về một thiên nhiên bị vùi dập và tổn thương, từ chỗ là nguồn sống có thể biến thành mối đe dọa chết người. Chúng ta cần có tầm nhìn xa để quan tâm đến sáng thế, vì lợi ích của các thế hệ tương lai. Tôi đặc biệt nghĩ đến sự cần thiết phải chống nạn phá rừng do trục lợi.

Để ngăn chặn một dòng sông bị lũ lụt, lòng sông phải được giữ sạch sẽ. Bỏ lại đằng sau những ẩn dụ, sự làm sạch cần thiết của dòng chảy cuộc sống trong xã hội được thể hiện bằng cuộc chiến chống tham nhũng. Sự phân phối các quỹ không công bằng, những kế hoạch bí mật để làm giàu, những thỏa thuận bảo trợ, sự thiếu minh bạch: tất cả những điều này làm ô nhiễm lòng sông của xã hội loài người; chúng chuyển hướng nguồn lực khỏi những điều cần thiết nhất. Trước hết, cần phải chống lại sự nghèo đói, là mảnh đất màu mỡ trong đó hận thù, chia rẽ và bạo lực bén rễ. Nhu cầu cấp thiết của bất cứ quốc gia văn minh nào là quan tâm đến công dân của mình, đặc biệt là những người dễ bị tổn thương và thiệt thòi nhất. Ở đây tôi đặc biệt nghĩ đến hàng triệu người tản cư đang sống ở đây: biết bao nhiêu người đã phải rời bỏ nhà cửa của họ, và giờ đây thấy mình bị đẩy ra bên lề cuộc sống do hậu quả của các cuộc xung đột và buộc phải di tản!

Để các vùng nước mang lại sự sống không biến thành nguồn nguy hiểm chết người, điều cần thiết là dòng chảy của sông phải được kiểm soát bằng các bờ kè phù hợp. Điều này cũng đúng đối với sự chung sống của con người. Trên hết, cần phải kiểm soát dòng vũ khí, bất chấp lệnh cấm, vẫn tiếp tục đến nhiều quốc gia trong khu vực, bao gồm cả Nam Sudan: nhiều thứ cần thiết ở đây, nhưng chắc chắn không phải là có nhiều vũ khí tử thần hơn! Các hình thức xây kè khác là cần thiết để kiểm soát dòng chảy lành mạnh của đời sống xã hội. Ở đây, tôi muốn đề cập đến việc xây dựng các chính sách chăm sóc sức khỏe phù hợp, nhu cầu về cơ sở hạ tầng quan trọng và đặc biệt mục tiêu hàng đầu là thúc đẩy xóa mù chữ và giáo dục, cách duy nhất để trẻ em của vùng đất này có thể tự nắm lấy tương lai của mình. Giống như tất cả trẻ em của lục địa này và trên thế giới, chúng có quyền lớn lên được cầm trên tay những cuốn vở và đồ chơi, chứ không phải vũ khí và công cụ lao động.

Cuối cùng, sông Nile Trắng rời khỏi Nam Sudan, đi qua các quốc gia khác, nhập vào sông Nile Xanh rồi đổ ra biển. Những dòng sông không có biên giới; chúng kết nối các lãnh thổ khác nhau. Tương tự như vậy, để đạt được sự phát triển phù hợp, hơn bao giờ hết, điều cần thiết là phải thúc đẩy các mối quan hệ tích cực với các quốc gia khác, bắt đầu từ những quốc gia trong khu vực. Ở đây, tôi cũng nghĩ đến sự đóng góp quý báu của cộng đồng quốc tế đối với đất nước này, và tôi bày tỏ lòng biết ơn đối với những nỗ lực nhằm thúc đẩy hòa giải và phát triển. Tôi tin rằng, để những đóng góp đó có kết quả, thì sự hiểu biết thực sự về các quá trình và vấn đề xã hội là điều cần thiết. Phân tích và báo cáo về chúng từ xa là không đủ; cần phải tham gia trực tiếp, với sự kiên nhẫn và quyết tâm, và nói chung, để chống lại sự cám dỗ áp đặt các mô hình được thiết lập sẵn xa lạ với thực tại địa phương. Như Thánh Gioan Phaolô II đã nói ba mươi năm trước ở Sudan: “Các giải pháp của châu Phi phải được tìm ra cho các vấn đề của châu Phi” (Diễn văn tại Lễ chào mừng, 10 tháng 2 năm 1993).

Thưa Tổng thống, thưa các nhà chức trách đáng kính, khi lần theo dòng chảy của sông Nile, tôi muốn mạo hiểm đi dọc theo con đường của đất nước này, ngay khi nó còn trẻ. Tôi nhận ra rằng một số điều tôi nói có vẻ thẳng thừng và trực tiếp, nhưng xin vui lòng biết rằng điều này xuất phát từ tình cảm và mối quan tâm mà tôi dành cho cuộc sống của đất nước qúy vị, cùng với những người anh em của tôi, những người mà tôi đã cùng đến đây với tư cách là những người hành hương của hòa bình. Chúng tôi muốn gửi đến qúy vị những lời cầu nguyện chân thành và sự hỗ trợ của chúng tôi để Nam Sudan có thể trải nghiệm sự hòa giải và thay đổi hướng đi. Ước gì con đường sống còn của nó không còn bị tràn ngập bởi bạo lực, bị sa lầy trong đầm lầy tham nhũng và bị ngăn chặn bởi sự tràn ngập của nghèo đói. Xin Chúa trên trời, Đấng yêu thương mảnh đất này, ban cho nó một mùa mới bình an và thịnh vượng. Xin Chúa phù hộ Cộng hòa Nam Sudan! Cảm ơn qúy vị.
 
Các nhà lãnh đạo đại kết ngỏ lời với các nhà cai trị Nam Sudan: Hòa bình nằm trong tay qúy vị
Vu Van An
05:06 04/02/2023

Theo VaticanNews, Tổng Giám mục Canterbury và Vị Điều hành Đại hội đồng của Giáo hội Scotland đang ở Nam Sudan cùng với Đức Giáo Hoàng Phanxicô trong một “Chuyến hành hương vì Hòa bình” đã được lên kế hoạch từ lâu. Các vị đã có những lời trực tiếp dành cho các nhà lãnh đạo đất nước tại Cuộc họp với Chính quyền, Xã hội Dân sự và Ngoại giao đoàn ở Juba.



Đức Tổng Giám Mục Justin Welby và Tiến sĩ Iain Greenshields bày tỏ sự thất vọng về cách các chính trị gia Nam Sudan đã cổ vũ và thực hiện các cam kết vì hòa bình của họ và cho biết đất nước cần những nhà lãnh đạo quan tâm đến các giá trị và điều kiện mà người dân của họ đang sống.

Đức Tổng Giám Mục Welby và Tiến sĩ Greenshields đã nói chuyện với các nhà lãnh đạo chính trị của Nam Sudan vào chiều thứ Sáu, tại một cuộc họp khởi đầu chuyến hành hương đại kết diễn ra tại Dinh Tổng thống Nam Sudan.

Như đã loan tin, Đức Giáo Hoàng kêu gọi các nhà lãnh đạo Nam Sudan ngăn chặn đổ máu. Sau bài diễn văn mạnh mẽ của Đức Giáo Hoàng, Đức Tổng Giám Mục Canterbury nhắc lại đã chứng kiến sự tàn phá của chiến tranh ở đất nước này và những đau khổ và đau buồn mà nó gây ra khi ngài đến thăm quốc gia này 9 năm trước.

Đức Tổng Giám Mục Welby nhắc nhở những người hiện diện rằng, cùng với một cựu Điều hành viên của Giáo hội Scotland, Đức Thánh Cha Phanxicô đã tổ chức một cuộc tĩnh tâm tại Vatican vào năm 2019 cho các nhà lãnh đạo của Nam Sudan.

“Chúng tôi đã cầu nguyện cho có một không gian để Chúa Thánh Thần hoạt động, và trong cuộc gặp gỡ đó, chúng tôi đã nhìn thấy khả thể hy vọng. Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã quỳ xuống hôn chân từng chính trị gia. Gần năm năm sau, chúng tôi lại đến với qúy vị cùng một cách này: quỳ gối để rửa chân, lắng nghe, phục vụ và cầu nguyện với qúy vị”.

Tuy nhiên, Đức Tổng Giám Mục nói tiếp, khi nhớ lại những cam kết đã thực hiện vào năm 2019, ngài rất buồn trước những gì mắt thấy tai nghe.

“Chúng tôi hy vọng và cầu nguyện nhiều hơn nữa; chúng tôi mong đợi nhiều hơn nữa; qúy vị đã hứa nhiều hơn. Chúng tôi không thể lựa và chọn các phần của Thỏa thuận hòa bình. Mỗi phần phải được thực hiện bởi mọi người, và điều đó rất tốn phí”.

Hòa bình nằm trong tay qúy vị

Đức Tổng Giám Mục Welby tiếp tục nhấn mạnh rằng “câu trả lời cho hòa bình và hòa giải không nằm ở những chuyến viếng thăm như thế này mà nằm trong tay qúy vị”.

“Đối với những người dân Nam Sudan anh hùng, dũng cảm và can đảm, những người đã chiến đấu quá lâu cho tự do của họ và đã giành được nó,” ngài nói, chắc chắn họ là những người “có can đảm đấu tranh cho hòa bình và hòa giải.”

“[Hòa bình] ở trong tầm tay qúy vị, nó ở gần qúy vị, qúy vị có thể nắm lấy nó, với sự giúp đỡ của Chúa.”

Ngài kết luận, “Tôi cầu nguyện để chuyến viếng thăm này là chuyến viếng thăm của hy vọng và sự chữa lành, của thời gian dành cho nhau như một gia đình của Chúa Kitô, theo một Thiên Chúa duy nhất, Đấng mang chúng ta đến gần nhau hơn và đến với Người hơn”.

“Và tôi cầu nguyện nhiều nhất để lời cầu nguyện mà một nhóm học sinh tiểu học đã hát cho tôi nghe chiều nay được đáp ứng: chúng đã hát 'không tham nhũng nữa, chúng tôi muốn hòa bình ở Nam Sudan. Hãy cho chúng tôi hòa bình ở Nam Sudan! '”

Hòa bình nằm trong tầm tay của các nhà lãnh đạo

Trong bài phát biểu của mình, Tiến sĩ Iain Greenshields đã nhấn mạnh sự cần thiết phải có hòa bình của Chúa Kitô.

Ông lớn tiếng, “Hôm nay, chúng ta cần sự bình yên đó. Chúng ta cần các giáo hội và các nhà lãnh đạo có trái tim quảng đại, tình yêu phóng khoáng và dồi dào ân sủng của Chúa. Chúng ta cần những nhà lãnh đạo biết quan tâm tới các giá trị được các quốc gia của chúng ta đem ra sống, những người biết quan tâm tới các điều kiện trong đó người ta sinh sống, và là những người thể hiện niềm tin của họ trong việc làm giữa những người dễ bị tổn thương và bị thiệt thòi nhất.”

“Những điều này tạo nên hòa bình.”

Lưu ý rằng tất cả mọi người đều là những người cùng làm việc thiết yếu trong ước muốn của Thiên Chúa về một thế giới trong đó tất cả mọi người có thể sống một cuộc sống viên mãn, ngài nói rằng “nằm trong tầm tay của Tổng thống, các Phó Tổng thống, các nhà lãnh đạo và người dân Nam Sudan, là việc mở rộng phạm vi để toàn bộ đất nước trẻ trung và lạc quan này, nơi có đầy những người sẵn sàng làm việc vì một tương lai rực rỡ và viên mãn, có thể vươn tới công lý và lòng cảm thương”.

“Mong tất cả các nhà lãnh đạo chính trị, dân sự và quốc tế bắt tay nhau tìm kiếm lời hứa toàn diện của Chúa về cuộc sống viên mãn cho toàn thể dân Chúa.”
 
VietCatholic TV
Bất ngờ: Đức có sẵn hàng trăm tăng Leopard cho Ukraine. Đánh lớn, 840 binh sĩ Nga tử trận, SU-25 rớt
VietCatholic Media
03:06 04/02/2023


1. Giao tranh dữ dội, 840 binh sĩ Nga bị loại khỏi vòng chiến. Quân Ukraine bắn hạ Su-25 của Nga

Trong cuộc họp báo tại trung tâm báo chí Kyiv sáng thứ Bẩy mùng 4 tháng Hai, Thứ trưởng Quốc phòng Ukraine Hanna Maliar cho biết trong ngày qua, giao tranh đã diễn ra dữ dội tại các khu vực khu vực Donetsk và Luhansk.

Tại khu vực Donetsk, một số Lữ Đoàn Dù của Nga được điều động từ thành phố Sormovsky, trong vùng Sormovo của Nga đã bổ sung cho Tập Đoàn Quân xe tăng cận vệ số 1. Từ thành phố Soledar bị tạm chiếm vào ngày 16 Tháng Giêng, nhóm này đã tấn công vào làng Mykolaivka, ở phía Tây Bắc Soledar.

Trong khi đó, Lữ Đoàn Dù 108 của Nga đã quay lại tấn công Klishchiivka. Giao tranh vẫn đang diễn ra. Theo Thứ trưởng Hanna Maliar, hai chiếc máy bay của không quân Nga đã trợ chiến cho lính Dù Nga. Lữ Đoàn Tác Chiến số 3 của Vệ Binh Quốc Gia đã bắn cháy một chiến đấu cơ Su-25 của Nga. Chiếc còn lại bỏ chạy.

Theo quân phòng thủ Ukraine, các đợt tấn công biển người đã ít xảy ra hơn. Có lẽ vì quân Nga chết nhiều, không còn nhiều quân để áp dụng chiến thuật này.

Tại khu vực Luhansk, quân Nga được tăng viện hàng ngàn quân từ các lực lượng dự bị mới hoàn thành việc huấn luyện tại Belarus. Đây là những người được huấn luyện bài bản và được xe tăng T-90 yểm trợ. Chính vì thế, họ đẩy lùi được quân Ukraine đang áp sát thành phố Kreminna. Giao tranh vẫn còn đang diễn ra ác liệt.

Thống Đốc Luhansk là ông Serhiy Haidai cho biết trước đó, quân Ukraine đã tiến sát đến cửa ngõ thành phố và hầu hết các lực lượng dân sự của Nga đã bỏ chạy về Rubizhne. Tuy nhiên, quân trong thành Kreminna rất đông đảo. Một trở ngại đáng kể nữa là quân Nga gài mìn khắp nơi. Ông cho biết phía Hoa Kỳ đề nghị quân Ukraine chờ cho các xe rà phá mìn đến được trước khi tấn công giải phóng thành phố này. Tướng Mark Milley, Tổng Tham Mưu Trưởng liên quân Hoa Kỳ, đã đưa ra lập trường trên trong cuộc họp báo sau cuộc họp quốc phòng Ukraine tại Căn cứ Không quân Ramstein ở Đức.

Sau khi được tăng viện, quân Nga đang đánh ra để giải tỏa áp lực.

Tổng thống Volodymyr Zelenskiy đã nói rằng Ukraine sẽ tiếp tục chiến đấu vì Bakhmut chừng nào còn có thể, đồng thời thề rằng “không ai sẽ từ bỏ” thành phố “pháo đài” phía đông.

Phát biểu tại một cuộc họp báo với các quan chức hàng đầu của Liên minh Âu Châu, Zelenskiy cho biết:

Không ai sẽ cho đi Bakhmut. Chúng ta sẽ chiến đấu lâu nhất có thể. Chúng ta coi Bakhmut là pháo đài của mình.

Ukraine sẽ có thể giữ Bakhmut và giải phóng Donbas bị xâm lược “nếu nhận được vũ khí tầm xa”, Zelenskiy nói thêm.

Ông nói:

Nếu vũ khí tiếp tế được tăng nhanh, đặc biệt là vũ khí tầm xa, chúng tôi không những không rời Bakhmut mà còn bắt đầu giải phóng Donbas, vốn đã bị xâm lược từ năm 2014.

Thành phố Bakhmut ở vùng Donbas phía đông đã trở thành tâm điểm kháng cự của Ukraine và những nỗ lực mạnh mẽ của Mạc Tư Khoa nhằm giành lại động lực chiến trường.

Các quan chức Nga cho biết lực lượng của họ đang bao vây Bakhmut từ nhiều hướng và chiến đấu để giành quyền kiểm soát các con đường huyết mạch cũng là tuyến đường tiếp tế quan trọng cho lực lượng Ukraine.

Zelenskiy cho biết Nga sẽ tiếp tục đẩy mạnh các cuộc tấn công ở phía đông, nhưng các lực lượng Ukraine sẽ có thể cầm cự cho đến khi có thêm vũ khí phương Tây.

Trong 24 giờ qua, 840 binh sĩ Nga đã bị loại khỏi vòng chiến, cùng với 4 xe tăng, 6 xe thiết giáp, 3 hệ thống pháo, 2 hệ thống hỏa tiễn phóng hàng loạt, một chiến đấu cơ Su-25, và 4 xe chuyển quân và nhiên liệu.

Tính chung từ ngày 24 tháng 2, 2022 đến 4 tháng Hai, Lực lượng Vũ trang Ukraine đã loại khỏi vòng chiến khoảng 129.870 binh sĩ Nga. Tổng thiệt hại chiến đấu của đối phương bao gồm 3.215 xe tăng, 6.388 xe bọc thép, 2.215 hệ thống pháo, 460 hệ thống hỏa tiễn phóng hàng loạt, 222 hệ thống phòng không, 294 máy bay, 284 trực thăng, 1.952 máy bay không người lái, 796 hỏa tiễn hành trình, 18 tàu chiến, 5.068 xe chuyển quân và nhiên liệu,và 202 đơn vị thiết bị đặc biệt.

2. Bất ngờ cho Ukraine: Hàng trăm xe tăng từ Đức được đưa trao cho Kyiv

Chính phủ Đức đã đưa ra quyết định mang tính nguyên tắc cho phép các doanh nghiệp công nghiệp quốc phòng chuyển xe tăng Leopard 1 từ kho của họ sang Ukraine.

Phát ngôn viên chính phủ Đức Steffen Hebestreit cho biết điều này tại một cuộc họp báo ở Berlin hôm thứ Sáu, ngày 3 tháng 2.

“Tôi có thể xác nhận rằng giấy phép xuất khẩu đã được cấp,” Hebestreit nói.

Ông nói rằng đã có một thủ tục phê duyệt và nói thêm rằng các chi tiết sẽ sớm được đưa ra.

Ông nói rõ rằng các đại diện của ngành đã đưa ra một sáng kiến tương ứng với chính phủ: “Họ có những chiếc xe tăng như vậy và họ sẵn sàng bàn giao chúng. Nhưng điều này cần có sự chấp thuận.”

Leopard 1 là xe tăng chiến đấu chủ lực đầu tiên được sản xuất cho Quân đội Đức từ giữa những năm 1960 đến giữa những năm 1980.

Một phát ngôn viên của Bộ Quốc phòng Đức cho biết những chiếc xe tăng như vậy đã không còn phục vụ trong Bundeswehr kể từ năm 2003.

Hà Lan cho biết họ sẵn sàng bỏ tiền ra để mua những xe tăng này cho Ukraine. Leopard 1 được tin là vượt xa khả năng của loại xe tăng T-72 của Nga.

3. Ukraine cho rằng các trận đánh lớn sẽ diễn ra vào tháng 2 và tháng 3

Cường độ giao tranh ở miền đông Ukraine đang tiếp tục gia tăng trong nỗ lực của các lực lượng Nga nhằm thực hiện nhiệm vụ do tổng thống Nga ủy thác cho họ là đánh chiếm các khu vực miền đông Ukraine vào trước cuối tháng Ba.

Andrii Yusov, đại diện của Tổng cục Tình báo Bộ Quốc phòng Ukraine, cho biết điều này trong cuộc họp báo tại trung tâm báo chí Kyiv sáng thứ Bẩy 4 tháng Hai.

“Trong tháng 2 và tháng 3, chúng ta có thể phải chứng kiến các cuộc giao tranh rất tích cực. Nhiệm vụ của Putin là chiếm Donbas vào tháng Ba. Ông ta không được như ý đâu. Thời hạn chót cho việc chiếm Donbas đã bị hoãn lại nhiều lần. Cường độ mà chúng ta hiện đang quan sát ở Donbas là một nỗ lực để thực hiện các kế hoạch này. Không kể tổn thất về quân nhân và thiết bị, đối phương đang cố gắng hoàn thành nhiệm vụ của nhà độc tài. Do đó, vâng, sẽ có những sự kiện tích cực trong tương lai gần,” ông nói.

Ông cũng nói thêm rằng “lực lượng quốc phòng Ukraine không chỉ chờ đợi mà không làm gì cả”.

4. Kẻ phản bội theo Nga thiệt mạng trong vụ nổ xe hơi ở Enerhodar

Yevhenii Kuzmin, một cựu nhân viên thực thi pháp luật Ukraine đã đào thoát sang đối phương, đã chết vì một vụ nổ xe hơi ở Enerhodar. Thị trấn vệ tinh này là nơi sinh sống của hầu hết công nhân của nhà máy điện hạt nhân Zaporizhia, nơi đã bị lực lượng xâm lược Nga xâm lược.

Ủy ban điều hành của Hội đồng thành phố Berdiansk đã thông báo tin này qua Telegram,

“Ở Enerhodar, cộng tác viên Yevhenii Kuzmin đã bị nổ tung. Trước khi bị xâm lược, anh ta là một sĩ quan thực thi pháp luật Ukraine, người sau đó đã chuyển sang phe địch. Hậu quả của vụ nổ là cộng tác viên đã thiệt mạng, một chiếc xe hơi khác bị hư hại và tất cả cửa sổ của một tòa nhà gần đó bị vỡ nát”.

Báo cáo đã được lực lượng xâm lược xác nhận trên mạng xã hội.

Trước đó, có thông tin cho rằng vào khoảng 7h sáng, một chiếc xe đã phát nổ tại thị trấn Enerhodar.

5. Bản tin tình báo của Cục Tình Báo Bộ Quốc Phòng Vương Quốc Anh

Trong bản tin tình báo ngày 3 tháng Hai, Cục Tình Báo Bộ Quốc Phòng Vương Quốc Anh cho biết như sau:

Quy mô chương trình tuyển dụng phạm nhân của Tập đoàn bán quân sự Wagner của Nga có lẽ đã giảm đáng kể so với mức cao nhất vào khoảng giữa mùa hè và mùa thu năm 2022.

Số liệu của Cơ quan Hình sự Liên bang Nga, gọi tắt là FSIN, công bố vào ngày 31 Tháng Giêng cho biết số tù nhân trên toàn quốc là 433.000 người, cho thấy số tù nhân đã giảm 6000 kể từ tháng 11 năm 2022. Trong khi đó, dữ liệu của FSIN cho thấy con số này giảm đến 23.000 người từ tháng 9 đến tháng 11 năm 2022. Việc tuyển dụng của Wagner có thể là một yếu tố đóng góp chính cho sự sụt giảm này.

Trong một diễn biến khác, bằng chứng mang tính giai thoại từ các chiến binh Ukraine trong mười ngày qua cho thấy, trong các khu vực quan trọng, Nga đã giảm bớt sự phụ thuộc vào các cuộc tấn công kiểu biển người của các chiến binh Wagner là các cựu tù nhân. Căng thẳng đáng kể giữa Wagner và Bộ Quốc phòng Nga đang diễn ra trước mắt công chúng; sự cạnh tranh giữa các phe phái trong giới thượng lưu Nga có thể chịu trách nhiệm một phần cho việc giảm nguồn cung tù nhân.

6. Ukraine cho biết Nga gấp rút 'bổ sung' quân đội sau tổn thất lớn

Tờ Newsweek có bài tường trình nhan đề “Russia Rushing to 'Replenish' Troops After Massive Losses: Ukraine”, nghĩa là “Ukraine cho biết Nga gấp rút 'bổ sung' quân đội sau tổn thất lớn.” Xin kính mời quý vị và anh chị em theo dõi bản dịch sang Việt Ngữ.

Theo Ukraine, để “bổ sung” những thiệt hại chiến tranh ước tính khá lớn, Nga đang tiếp tục tìm kiếm sự giúp đỡ từ các tù nhân bị kết án.

Nga hiện đã mất gần 130.000 nhân sự kể từ khi bắt đầu cuộc chiến vào ngày 24 tháng 2 năm 2022, theo ước tính mới nhất từ Bộ Quốc phòng Ukraine. Theo Ukraine, Nga đã vượt mốc 100.000 ngay trước Giáng Sinh năm 2022, mặc dù những con số này không được Nga xác nhận.

Ngoài nhân sự, Ukraine báo cáo rằng Nga đã mất hơn 3.200 xe tăng, hơn 6.300 xe bọc thép chiến đấu và gần 300 máy bay quân sự.

Bộ Tổng tham mưu Lực lượng Vũ trang Ukraine đã viết trong một bản cập nhật hoạt động vào hôm thứ Sáu rằng Nga đang tiến hành một “chiến dịch tuyển mộ tù nhân” để “bổ sung” một số binh sĩ mà họ đã mất. Bộ Tổng tham mưu cho biết chỉ trong tuần trước, Nga đã tuyển dụng tới 1.000 lính đánh thuê từ các cơ sở cải huấn ở vùng Novosibirsk.

Newsweek không thể xác minh độc lập tuyên bố này và đã liên hệ với Bộ Quốc phòng Nga để xác nhận và bình luận.

Các báo cáo khác trước đây đã đánh giá rằng Nga đang quay sang các tù nhân để củng cố lực lượng của mình.

Nhóm lính đánh thuê Wagner của Nga, từng tham gia vào cuộc chiến ở Ukraine, được cho là đã tuyển dụng một số lượng lớn tù nhân nam để chiến đấu trong cuộc chiến. Cơ quan tình báo quân sự của Ukraine cho biết vào tháng 10 năm ngoái rằng Tập đoàn Wagner đang tuyển dụng các tù nhân mắc các bệnh truyền nhiễm như HIV và viêm gan C.

Ngoài ra, người đứng đầu một nhóm bênh vực tù nhân đã nói với một hãng tin Nga vào tháng 10 năm 2022 rằng Tập đoàn Wagner đang tuyển hàng nghìn tù nhân từ các nhà tù hình sự của Nga ở các vùng xa xôi của đất nước. Để đổi lấy sự phục vụ của họ, Tập đoàn Wagner được cho là đã trao cho tù nhân tự do và tiền bồi thường, nhưng họ có thể phải đối mặt với một thực tế khắc nghiệt khi đến chiến trường.

Vào tháng 12, Bộ Quốc phòng Vương quốc Anh đã viết trong một bản cập nhật tình báo rằng trong cuộc chiến giành thị trấn Bakhmut bị bao vây từ lâu ở khu vực Donetsk phía đông Ukraine, Tập đoàn Wagner đã “phát triển các chiến thuật tấn công để sử dụng số lượng lớn tù nhân được đào tạo kém mà họ tuyển dụng được.”

Bộ Quốc Phòng Anh viết: “Ở cấp trung đội trở lên, các chỉ huy có thể vẫn ở trong các căn hầm kiên cố và ra lệnh qua radio, được thông báo bằng nguồn cấp dữ liệu video từ các phương tiện bay không người lái nhỏ”.

Trong khi đó, các đơn vị và đơn vị đặc nhiệm của Wagner được lệnh tiến hành các tuyến tấn công đã được lên kế hoạch trước, “thường có hỏa lực hỗ trợ, nhưng ít thường xuyên hơn cùng với các phương tiện bọc thép”

“Những chiến thuật tàn bạo này nhằm mục đích bảo tồn những tài sản quý hiếm của Wagner gồm các chỉ huy giàu kinh nghiệm và phương tiện bọc thép, với cái giá phải trả là những tân binh bị kết án, mà tổ chức đánh giá là có thể hoang phí”.

7. Mỹ và đồng minh công bố giá trần mới đối với các sản phẩm xăng dầu của Nga

Mỹ và các đồng minh đang cố gắng hạn chế hơn nữa khả năng kiếm tiền và tài trợ cho các nỗ lực chiến tranh của Nga với các giới hạn giá mới đối với các sản phẩm như xăng và dầu nhiên liệu.

Một quan chức cấp cao của Bộ Tài chính đã công bố các biện pháp trừng phạt bổ sung đối với việc bán năng lượng của Nga để đáp trả việc nước này xâm lược Ukraine.

“Ý định của chúng tôi không phải là làm sụp đổ nền kinh tế Nga,” quan chức này nói với các phóng viên vào ngày thứ Sáu. “Ý định của chúng tôi là khiến Điện Cẩm Linh không thể tiếp tục dùng kinh tế để phục vụ chiến tranh và cũng phải trả giá cho cuộc chiến của họ.”

Bộ Tài chính Mỹ thông báo thỏa thuận giữa Mỹ, G7, Liên minh Âu Châu và Australia đặt áp đặt giá đối với “các sản phẩm xăng dầu có nguồn gốc từ Nga vận chuyển bằng đường biển”. Có hai mức giá: một mức áp dụng cho các sản phẩm dầu mỏ “cao cấp so với dầu thô” như dầu diesel, dầu hỏa và xăng, sẽ được giới hạn ở mức 100 USD/thùng, và các sản phẩm dầu mỏ “giảm giá so với dầu thô” như dầu nhiên liệu, sẽ được giới hạn ở mức 45 USD mỗi thùng.

“Điều mà chúng ta tập trung vào là cắt giảm doanh thu,” quan chức này nói. “Chúng ta cũng đang theo đuổi chuỗi cung ứng và tổ hợp công nghiệp hóa quân sự của họ để họ không thể sử dụng số tiền họ có để mua vũ khí họ cần. Đường lối của chúng ta đối với vấn đề này thực sự là theo đuổi những điều cốt yếu đối với nỗ lực chiến tranh của Điện Cẩm Linh và khả năng hỗ trợ nền kinh tế của họ”.

Một số thông tin cơ bản: Vào tháng 12, Hoa Kỳ và Liên Hiệp Âu Châu đã thực hiện việc áp đặt giá đối với dầu thô - điều mà quan chức Bộ Tài chính cho biết đã cản trở khả năng tài trợ cho chiến tranh của Nga. Họ nói thêm rằng Nga đã “công khai thừa nhận” việc áp đặt giá đang gây tổn hại cho nền kinh tế của đất nước. Dữ liệu do Nga công bố cho thấy doanh thu thuế hàng tháng từ việc bán năng lượng đã giảm 46% so với tháng trước.

Các quan chức phớt lờ các báo cáo rằng bất chấp nhiều lệnh trừng phạt, nền kinh tế Nga vẫn được kỳ vọng sẽ phục hồi và thậm chí có thể vượt xa Đức và Anh. Quan chức cấp cao của Bộ Tài chính cho biết về mặt kinh tế, Nga “không còn hoạt động như một nền kinh tế bình thường nữa”.

“Họ đã đóng cửa phần lớn, nghĩa là nếu bạn có tiền của Nga, họ sẽ cho phép bạn tiếp tục gửi tiền vào Nga, nhưng bạn không thể rút tiền ra. Họ không còn cho phép vốn nước ngoài vào Nga nữa”, quan chức này nói. “Họ cần chi nhiều tiền hơn để hỗ trợ nền kinh tế của mình vì họ trở thành một nền kinh tế đóng cửa.”

8. Người đứng đầu Liên Hiệp Âu Châu cho biết vòng trừng phạt thứ 10 sẽ nhắm vào thương mại và công nghệ đằng sau cỗ máy chiến tranh của Nga

Người đứng đầu Liên minh Âu Châu Ursula von der Leyen cho biết đợt trừng phạt thứ 10 của khối đối với Nga sẽ nhắm vào hoạt động thương mại và công nghệ của Nga được Putin dùng để thúc đẩy cuộc chiến ở Ukraine.

“Chín gói trừng phạt của chúng ta đang có hiệu lực, và gói thứ 10 đang được triển khai,” von der Leyen cho biết như trên khi hội nghị thượng đỉnh Liên Hiệp Âu Châu-Ukraine kết thúc tại thủ đô Kyiv của Ukraine vào thứ Sáu.

Chủ tịch Ủy ban Âu Châu nhấn mạnh gói trừng phạt thứ 10 sẽ “đánh vào thương mại và công nghệ hỗ trợ cỗ máy chiến tranh của Nga”.

Phát biểu trong cuộc họp báo ở Kyiv trước đó vào hôm thứ Sáu, von der Leyen cho biết khối đặt mục tiêu công bố gói — sẽ có khối lượng 10,8 tỷ đô la (tương đương khoảng 10 tỷ euro) — vào ngày 24 tháng 2, kỷ niệm một năm Putin gây ra cuộc xâm lược vào Ukraine.

Cũng trong cuộc họp báo đó, Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelenskiy đã yêu cầu Liên Hiệp Âu Châu sử dụng các biện pháp trừng phạt để ngăn Nga xây dựng lại năng lực quân sự.

9. Bộ trưởng Tư Pháp Hoa Kỳ nói rằng các khoản tiền bị tịch thu từ tài phiệt Nga sẽ được chuyển cho viện trợ Ukraine

Bộ trưởng Tư Pháp Hoa Kỳ Merrick Garland đã công bố việc chuyển giao tài sản bị tịch thu đầu tiên từ các biện pháp trừng phạt chống lại một nhà tài phiệt Nga vào hôm thứ Sáu trong một lần xuất hiện với Tổng công tố Ukraine Andriy Kostin tại Bộ Tư pháp. Theo Garland, số tiền này sẽ được dùng để hỗ trợ Ukraine.

Ông Garland nói: “Hôm nay, tôi thông báo rằng tôi đã cho phép lần đầu tiên chuyển giao các tài sản bị tịch thu của Nga để sử dụng ở Ukraine. Những tài sản bị tịch thu này tuân theo thông báo mà tôi đã đưa ra vào tháng 4 năm ngoái về bản cáo trạng liên quan đến nhà tài phiệt Nga Konstantin Malofeyev, với tội danh trốn tránh lệnh trừng phạt.”

Vào tháng 6, hàng triệu đô la đã bị tịch thu từ tài khoản ngân hàng Hoa Kỳ thuộc về Malofeyev, người mà Hoa Kỳ đã tuyên bố trừng phạt vào tháng 4 “vì đã hành động hoặc có ý định hành động thay mặt, trực tiếp hoặc gián tiếp cho chính phủ Nga, Bộ Tài chính cho biết vào thời điểm đó.

“Với sự ủy quyền của tôi ngày hôm nay. Số tiền bị tịch thu tiếp theo sẽ được chuyển đến Bộ Ngoại giao để hỗ trợ người dân Ukraine,” tổng chưởng lý nói thêm. “Tội phạm chiến tranh Nga sẽ không tìm được nơi ẩn náu ở Hoa Kỳ.”

Kostin lặp lại tuyên bố của Garland hôm thứ Sáu, nói thêm rằng hai nước đang gửi một thông điệp rõ ràng: “Sẽ không có sự miễn trừ trong việc trừng phạt đối với các tội phạm quốc tế.”

“Hôm nay, chúng ta đang chứng kiến việc ủy quyền chuyển giao tài sản bị tịch thu trị giá 5,4 triệu đô la Mỹ cho Bộ Ngoại giao nhằm mục đích tái thiết Ukraine bị chiến tranh tàn phá,” ông Kostin nói thêm.

“Chúng tôi rất biết ơn Hoa Kỳ vì những nỗ lực mạnh mẽ. Người Ukraine sẽ không bao giờ quên điều đó”, ông nói.
 
Phóng Sự Tông Du Congo: Đtc Gặp Gỡ Các Linh Mục, Tu Sĩ, Chủng Sinh
VietCatholic Media
05:22 04/02/2023


Thứ Năm 2 tháng 2, Giáo Hội trên toàn thế giới cử hành Lễ Đức Mẹ Dâng Chúa Giêsu vào Đền Thánh Giêrusalem, người Việt Nam thường gọi là lễ Nến, tiếng Anh gọi là Candlemas. Đó cũng là Ngày Đời Sống Thánh Hiến.

Trong bối cảnh này, thật là xứng hợp khi Đức Thánh Cha Phanxicô có cuộc gặp gỡ với các linh mục, tu sĩ và chủng sinh.

Chiều thứ Năm, ngày 02 tháng Hai vừa qua, Đức Thánh Cha đã đến Nhà thờ chính tòa Đức Bà Congo, cách Tòa Sứ thần Tòa Thánh 3,6 cây số để gặp gỡ các linh mục, phó tế, tu sĩ nam nữ và chủng sinh.

Nhà thờ chính tòa của Tổng giáo phận Kinshasa được xây cất hồi năm 1947, khi đất nước này còn là thuộc địa của Vương quốc Bỉ.

Đến nơi vào lúc 4 giờ 30 chiều, Đức Thánh Cha được Đức Hồng Y Fridolin Ambongo và cha sở giáo xứ đón tiếp và cùng tiến vào thánh đường. Ngài dừng lại tại khu mộ của các vị Tổng giám mục trước đây, tại nhà nguyện bên hông nhà thờ, trước khi tiến lên bàn thờ trong khi ca đoàn hát thánh ca.

Hiện diện trong cuộc gặp gỡ, có hàng ngàn đại diện giáo sĩ và tu sĩ toàn quốc Congo, ngồi chật thánh đường, cùng với hàng chục giám mục.

Cuộc gặp gỡ diễn ra dưới hình thức một buổi phụng vụ Lời Chúa, bắt đầu với lời chào phụng vụ và lời chào mừng, giới thiệu của Đức Hồng Y Tổng giám mục sở tại, lời nguyện của Đức Thánh Cha, và lần lượt một linh mục, một nữ tu và một chủng sinh trình bày chứng từ.

Trong diễn từ tại đây, Đức Thánh Cha nói:

Anh em linh mục, phó tế và chủng sinh thân mến,

Các tu sĩ nam nữ thân mến, chào anh chị em buổi tối và chúc anh chị em một ngày lễ vui vẻ!

Cha vui mừng được hiện diện với anh chị em hôm nay, vào ngày lễ Dâng Chúa vào Đền thờ, một ngày mà chúng ta cầu nguyện cách đặc biệt cho đời sống thánh hiến. Giống như Simêon, tất cả chúng ta đều chờ đợi ánh sáng của Chúa để soi sáng bóng tối của cuộc đời chúng ta. Hơn nữa, tất cả chúng ta đều mong muốn có được cùng một cảm nghiệm mà ông Simêon đã có trong Đền Thờ Giêrusalem: ôm Chúa Giêsu trong vòng tay của chúng ta. Để ôm Người trong vòng tay, để chúng ta có thể chiêm ngưỡng Người và ôm Người vào lòng. Khi chúng ta đặt Chúa Giêsu làm trung tâm cuộc đời mình, thì cách nhìn của chúng ta thay đổi, và bất chấp mọi nỗ lực và khó khăn, chúng ta cảm thấy được ánh sáng của Người bao bọc, được Thần Khí của Người an ủi, được khích lệ bởi lời của Người và được nâng đỡ bởi tình yêu của Người.

Khi nói điều này, cha nghĩ đến những lời chào mừng của Đức Hồng Y Ambongo, và cha cảm ơn ngài về điều đó. Ngài chỉ ra “những thách thức to lớn” mà những người sống cam kết với chức linh mục và đời sống thánh hiến ở vùng đất được đánh dấu bởi “những điều kiện khó khăn và thường nguy hiểm” và nhiều đau khổ phải đối đầu này. Tuy nhiên, như ngài lưu ý, cũng có niềm vui lớn lao trong việc phục vụ Tin Mừng, và ơn gọi linh mục và đời sống thánh hiến thì dồi dào. Điều này là do ân sủng dồi dào của Thiên Chúa, hoạt động chính xác trong sự yếu đuối (x. 2 Cr 12:9), và làm cho anh chị em, cùng với giáo dân, có khả năng khơi dậy niềm hy vọng trong những hoàn cảnh thường đau khổ mà dân tộc anh chị em đang sống.

Sự chắc chắn này của chúng ta, ngay cả giữa những khó khăn, là một hồng phúc phát sinh từ lòng trung thành của Thiên Chúa. Qua tiên tri Isaia, Người nói: “Ta sẽ làm một xa lộ trong hoang địa và làm những dòng sông trong sa mạc” (43:19). Cha nghĩ cha sẽ cống hiến cho các con một số suy tư bắt đầu từ chính những lời của ngôn sứ Isaia: Thiên Chúa mở ra những con đường mới giữa sa mạc của chúng ta, và chúng ta, với tư cách là những thừa tác viên được thụ phong và những người được thánh hiến, được kêu gọi trở thành dấu chỉ của lời hứa này và giúp đem nó đến chỗ nên trọn vẹn trong lịch sử của Dân thánh Thiên Chúa. Tuy nhiên, một cách cụ thể, chúng ta được mời gọi để làm gì, nếu không phải là phục vụ giáo dân với tư cách là chứng nhân của tình yêu Thiên Chúa? Isaia giúp chúng ta hiểu phải làm ra sao.

Qua những lời của vị ngôn sứ, Chúa nói với dân Người vào thời điểm đầy bi kịch, vì dân Israel đã bị lưu đày sang Babylon và bị biến thành nô lệ. Động lòng cảm thương, Chúa tìm cách an ủi họ. Thật vậy, đoạn này của ngôn sứ Isaia được gọi là “Sách An Ủi”, bởi vì Chúa nói với dân Người những lời hy vọng và những lời hứa cứu độ. Đầu tiên, Người nhắc lại mối dây yêu thương ràng buộc Người với dân tộc của Người: “Đừng sợ, vì Ta đã cứu chuộc các ngươi; Ta đã gọi các ngươi bằng tên, các ngươi là của Ta. Khi các ngươi vượt qua vùng nước, ta sẽ ở bên các ngươi; và qua các con sông, chúng sẽ không tràn ngập các ngươi; khi các ngươi bước qua lửa, các ngươi sẽ không bị thiêu đốt, và ngọn lửa sẽ không thiêu đốt các ngươi” (43:1-2). Chúa tỏ mình ra là Thiên Chúa của lòng cảm thương, và Người bảo đảm với chúng ta rằng Người sẽ không bao giờ bỏ rơi chúng ta. Người sẽ luôn ở bên chúng ta, là nơi nương tựa, là sức mạnh trong khó khăn. Chúa giàu lòng thương xót. Ba danh xưng của Thiên Chúa, ba nét đặc trưng của Người là lòng thương xót, cảm thương và dịu dàng, vì chúng cho thấy sự gần gũi của Thiên Chúa: một Thiên Chúa gần gũi, cảm thương và dịu dàng.

Các linh mục và phó tế, các tu sĩ nam nữ, các chủng sinh thân mến: qua các con, Chúa cũng muốn xức dầu cho dân Người hôm nay bằng dầu an ủi và hy vọng. Các con được mời gọi để lặp lại lời hứa này của Thiên Chúa, để nhắc nhở người khác rằng Người đã tạo dựng chúng ta và chúng ta thuộc về Người, đồng thời khuyến khích và đồng hành với hành trình đức tin của cộng đoàn hướng về Đấng luôn đồng hành với chúng ta. Thiên Chúa không để nước tràn ngập chúng ta, Lửa cũng không thiêu đốt chúng ta. Chúng ta hãy nhận ra rằng chúng ta đã được mời gọi để loan báo sứ điệp này giữa những đau khổ của con người. Đó là ý nghĩa của việc trở thành tôi tớ của dân chúng: trở thành linh mục, nữ tu và nhà truyền giáo, những người đã biết niềm vui của cuộc gặp gỡ giải thoát với Chúa Giêsu và bây giờ mang lại niềm vui đó cho người khác. Chúng ta đừng bao giờ quên rằng chức linh mục và đời sống thánh hiến trở nên khô khan nếu chúng ta bắt đầu nghĩ rằng người ta ở đó để phục vụ chúng ta, hơn là chúng ta ở đây để phục vụ họ. Mục tiêu của chúng ta không phải là một nghề nghiệp, một địa vị xã hội, hay một phương tiện chu cấp cho gia đình chúng ta ở quê nhà. Thay vào đó, đó là một sứ mệnh hành động như những dấu chỉ của sự hiện diện của Chúa Kitô, tình yêu vô điều kiện, sự hòa giải và tha thứ của Người, và mối quan tâm đầy cảm thương của Người đối với nhu cầu của người nghèo. Chúng ta đã được kêu gọi hiến mạng sống mình cho anh chị em mình, và mang đến cho họ Chúa Giêsu, Đấng duy nhất chữa lành vết thương của mọi trái tim.

Nếu chúng ta cảm nghiệm ơn gọi của mình theo cách này, chúng ta sẽ luôn có những thách thức phải đối đầu và những cám dỗ phải vượt qua. Cha muốn tập trung ngắn gọn vào ba trong số này: sự tầm thường tâm linh, sự thoải mái của thế gian và sự hời hợt.

Trước hết, chúng ta cần vượt qua sự tầm thường tâm linh. Bằng cách nào? Việc Dâng Chúa vào Đền thờ, mà Kitô giáo Đông phương gọi là “lễ gặp gỡ”, nhắc nhở chúng ta rằng ưu tiên trong cuộc sống của chúng ta phải là cuộc gặp gỡ của chúng ta với Chúa, đặc biệt là trong lời cầu nguyện bản thân, bởi vì mối quan hệ của chúng ta với Người là nền tảng của mọi sự chúng ta làm. Đừng bao giờ quên rằng bí quyết của mọi sự là cầu nguyện, vì thừa tác vụ và hoạt động tông đồ chủ yếu không phải là công việc của chúng ta và không chỉ phụ thuộc vào các phương tiện của con người. Các con sẽ nói với cha: vâng, đúng như vậy, nhưng những cam kết, ưu tiên mục vụ, lao động tông đồ, mệt mỏi, v.v. có nguy cơ khiến chúng con không còn nhiều thời gian và sức lực để cầu nguyện. Đó là lý do tại sao cha muốn chia sẻ một vài lời khuyên. Trước hết, chúng ta hãy trung thành với một số nhịp cầu nguyện phụng vụ đánh dấu ngày này, từ Thánh lễ đến kinh nhật tụng. Việc cử hành Thánh Thể hàng ngày là nhịp đập của đời sống linh mục và tu sĩ. Các Giờ Kinh Phụng Vụ cho phép chúng ta cầu nguyện với Giáo Hội và đều đặn: Ước mong sao chúng ta đừng bao giờ lơ là việc này! Vì vậy, chúng ta cũng đừng bỏ bê việc Xưng tội. Chúng ta luôn cần được tha thứ, để sau đó ban tặng lòng thương xót cho người khác.

Bây giờ, lời khuyên thứ hai. Như tất cả chúng ta đều biết, chúng ta không thể giới hạn mình trong việc đọc thuộc lòng những lời cầu nguyện, nhưng phải dành ra một thời gian để cầu nguyện sốt sắng mỗi ngày, để luôn “tâm đầu ý hợp” với Chúa. Đó có thể là một thời gian dài để thờ lạy, suy niệm Lời Chúa, hoặc lần hạt Mân Côi, nhưng là thời gian gần gũi với Đấng mà chúng ta yêu mến hơn hết mọi sự. Ngoài ra, ngay cả khi đang hoạt động, chúng ta luôn có thể nhờ đến lời cầu nguyện của trái tim, những “ước nguyện” ngắn gọn – vốn là một kho tàng thực sự – những lời chúc tụng, tạ ơn và khẩn cầu, để lặp lại với Chúa ở bất cứ nơi nào chúng ta sống. Cầu nguyện giúp chúng ta không còn tập trung vào bản thân, nó mở lòng chúng ta với Thiên Chúa, và nó giúp chúng ta đứng vững vì nó đặt chúng ta trong tay Người. Nó tạo ra trong chúng ta không gian để có thể cảm nghiệm được sự gần gũi của Thiên Chúa, để lời của Người trở nên quen thuộc với chúng ta và qua chúng ta, với tất cả những người chúng ta gặp gỡ. Không cầu nguyện, chúng ta sẽ không tiến xa được. Cuối cùng, để vượt qua sự tầm thường tâm linh, chúng ta đừng bao giờ mệt mỏi kêu cầu Đức Mẹ, Mẹ của chúng ta, học nơi Mẹ để chiêm ngắm và bước theo Chúa Giêsu.

Thách thức thứ hai là vượt qua cám dỗ của tiện nghi trần tục, của cuộc sống dễ dãi, trong đó chúng ta ít nhiều sắp xếp mọi thứ và lùi lại, tìm kiếm sự thoải mái cho riêng mình, bị lôi cuốn không chút nhiệt tình. Theo cách này, chúng ta đánh mất trọng tâm sứ mệnh của mình, đó là bỏ cái tôi của mình lại phía sau và hướng về anh chị em mình, thực hành “nghệ thuật của sự gần gũi” nhân danh Chúa. Thông thường, trong những hoàn cảnh nghèo khó và đau khổ, có nguy cơ lớn về tính thế gian: mong muốn lợi dụng địa vị của mình để thỏa mãn những nhu cầu và tiện nghi của chính mình. Thật đáng buồn khi chúng ta thu mình lại và trở thành những quan chức lạnh lùng trong tinh thần. Thay vì phục vụ Tin Mừng, chúng ta lại quan tâm đến việc quản lý tài chính và theo đuổi một số công việc kinh doanh sinh lời cho chính mình. Thưa anh chị em, thật tai tiếng khi điều này xảy ra trong đời sống của một linh mục hay tu sĩ, vì thay vào đó, họ nên là những mẫu mực về sự điều độ và tự do nội tâm. Mặt khác, thật đẹp biết bao khi minh bạch trong các ý định của chúng ta và không thỏa hiệp với tiền bạc, vui vẻ đón nhận sự khó nghèo của Tin Mừng và sát cánh với người nghèo! Và thật đẹp biết bao khi được rạng ngời trong cuộc sống độc thân như một dấu hiệu của sự sẵn sàng hoàn toàn cho vương quốc của Thiên Chúa! Xin đừng để chính những tật xấu mà chúng ta muốn nhổ bỏ nơi người khác, và trong toàn thể xã hội, cuối cùng lại bén rễ trong chúng ta. Làm ơn, chúng ta hãy coi chừng những tiện nghi trần tục.

Cuối cùng, thử thách thứ ba là vượt qua cám dỗ hời hợt. dân Chúa đang chờ đợi để được nghe và tìm thấy niềm an ủi nơi lời Chúa. Do đó, họ cần các linh mục và tu sĩ được giáo dục, đào tạo đàng hoàng và đam mê Tin Mừng. Một hồng phúc đã được trao vào tay chúng ta, và chúng ta sẽ tự phụ khi nghĩ rằng mình có thể thực hiện sứ mệnh mà Thiên Chúa đã kêu gọi chúng ta mà không cần phải tự rèn luyện bản thân mỗi ngày và không được đào tạo thần học và thiêng liêng đầy đủ. Người ta không cần những “thánh chức”, có học vị nhưng tách biệt với những người nam nữ bình thường. Chắc chắn, chúng ta buộc phải đi vào trung tâm của mầu nhiệm Kitô giáo, đào sâu sự hiểu biết của chúng ta về giáo huấn của Giáo hội, nghiên cứu và suy niệm lời Chúa. Tuy nhiên, đồng thời, chúng ta phải tiếp tục cởi mở với những vấn đề của thời đại chúng ta và những câu hỏi ngày càng phức tạp của thời đại chúng ta, để hiểu cuộc sống và nhu cầu của mọi người, đồng thời nhận ra cách tốt nhất để nắm lấy tay họ và đồng hành với họ. Hệ luận là, việc đào tạo hàng giáo sĩ không phải là một sự bổ sung tuỳ ý. Tôi nói điều này với các chủng sinh, nhưng nó áp dụng cho tất cả mọi người. Việc đào tạo phải được tiếp tục; nó phải tiếp tục trong suốt cuộc đời của chúng ta. Nó được gọi là sự đào tạo liên tục: một sự đào tạo liên tục, suốt đời.

Chúng ta phải đương đầu với những thách thức này nếu chúng ta muốn phục vụ người ta trong tư cách nhân chứng của tình yêu Thiên Chúa, vì việc phục vụ chỉ có hiệu quả nếu nó đến qua nhân chứng. Đừng bao giờ quên hạn từ này: nhân chứng. Sau khi công bố những lời an ủi, Chúa nói qua ngôn sứ Isaia: “Ai trong họ đã tuyên bố điều này và báo trước cho chúng ta những điều trước đây? Các ngươi là nhân chứng của Ta” (43:9, 10). Nhân chứng. Để trở thành những linh mục, phó tế và những người thánh hiến tốt lành, lời nói và ý định là chưa đủ: chính cuộc sống của các con phải nói lớn hơn lời nói của các con. Anh chị em thân mến, khi nhìn anh chị em, tôi tạ ơn Chúa, vì anh chị em là dấu chỉ sự hiện diện của Chúa Giêsu, Đấng đi trên đường phố của đất nước này, Đấng chạm đến cuộc sống của mọi người và băng bó những vết thương của họ. Tuy nhiên, cần có thêm những người trẻ có thể thưa “xin vâng” với Chúa, cần thêm nhiều linh mục và tu sĩ có thể chiếu tỏa vẻ đẹp của Người bằng cuộc sống của họ.

Trong các chứng từ của mình, các con đã nhắc nhở cha rằng thật khó khăn biết bao khi thi hành sứ mệnh của mình ở một vùng đất giàu vẻ đẹp thiên nhiên và tài nguyên, nhưng lại bị tổn thương bởi nạn bóc lột, tham nhũng, bạo lực và bất công. Tuy nhiên, các con cũng đã nói về dụ ngôn Người Samari nhân hậu, và cách Chúa Giêsu đi trên đường phố của chúng ta và, đặc biệt là qua Giáo hội của Người, dừng lại và chăm sóc vết thương của những người bị áp bức. Thưa anh chị em, mục vụ mà anh chị em được kêu gọi chính là điều này: mang đến sự gần gũi và an ủi, giống như ánh sáng không ngừng chiếu sáng giữa bóng tối bao trùm. Chúng ta hãy học nơi Chúa, Đấng luôn gần gũi. Và trở thành anh chị em với mọi người, đặc biệt với nhau: chứng nhân của tình huynh đệ, không bao giờ có chiến tranh; nhân chứng của hòa bình, học cách chung sống với sự khác biệt giữa các nền văn hóa và sắc tộc khác nhau. Vì, như Đức Bênêđictô XVI đã lưu ý, khi nói chuyện với các linh mục ở Châu Phi, “chứng tá của anh chị em về việc chung sống hòa bình, bất chấp sắc tộc và chủng tộc, có thể đánh động các trái tim” (Africae Munus, 108).

Như một câu ngạn ngữ cổ đã nói: “Gió không làm gãy bất cứ thứ gì có thể uốn cong được.” Đáng buồn thay, lịch sử của nhiều dân tộc trên lục địa này đã phải uốn cong trước sức mạnh của đau khổ và bạo lực. Nếu trong lòng mỗi người đều có một ước muốn, thì đó là không bao giờ phải làm như vậy nữa, không bao giờ phải cúi mình trước sự kiêu ngạo của kẻ quyền thế, không bao giờ phải khuất phục trước ách bất công. Tuy nhiên, chúng ta có thể hiểu câu tục ngữ chủ yếu theo nghĩa tích cực: có một kiểu uốn cong không đồng nghĩa với yếu đuối hay hèn nhát mà đồng nghĩa với sức mạnh. Do đó, uốn cong có thể là dấu hiệu của khả năng mềm dẻo, vượt qua sự cứng ngắc, và vun trồng một tinh thần ngoan ngoãn không khuất phục trước cay đắng và oán giận. Đó là dấu hiệu của khả năng thay đổi và không cố thủ trong ý tưởng và chủ trương của chính mình. Nếu chúng ta cúi đầu khiêm nhường trước Thiên Chúa, Người sẽ khiến chúng ta trở nên giống như Người, là những tác nhân của lòng thương xót. Nếu chúng ta mãi ngoan ngoãn trong tay Thiên Chúa, thì Người uốn nắn chúng ta trở thành một dân tộc hòa giải, có khả năng cởi mở và đối thoại, chấp nhận và tha thứ, những người làm cho những dòng sông hòa bình chảy qua những vùng đồng bằng khô cằn đầy bạo lực. Do đó, khi những cơn gió bão của sự xung đột và chia rẽ thổi qua, chúng ta không bị tan vỡ, vì chúng ta tràn đầy tình yêu thương của Thiên Chúa. Mong sao các con luôn ngoan ngoãn với Thiên Chúa giàu lòng thương xót, không bao giờ bị sóng gió chia rẽ làm tan vỡ.

Thưa anh chị em, tôi chân thành cảm ơn anh chị em về con người của anh chị em và những gì anh chị em làm; Tôi cảm ơn anh chị em vì chứng tá của anh chị em cho Giáo hội và thế giới. Đừng nản lòng, vì chúng tôi cần anh chị em! Anh chị em là quý giá và quan trọng. Tôi nói điều này nhân danh toàn thể Giáo hội. Xin cho anh chị em luôn là những máng chuyển sự hiện diện đầy an ủi của Chúa, những chứng nhân vui tươi của Tin Mừng, những ngôn sứ của hòa bình giữa những cơn bão bạo lực, những môn đệ của tình yêu, luôn sẵn sàng chăm sóc những vết thương của người nghèo và người đau khổ. Tôi xin cám ơn anh chị một lần nữa; cảm ơn anh chị em vì sự phục vụ và lòng nhiệt thành mục vụ của anh chị em. Tôi ban phước cho anh chị em và mang anh chị em trong trái tim của tôi. Và tôi xin anh chị em đừng quên cầu nguyện cho tôi! Cảm ơn anh chị em!

Bài có liên quan