Ngày 14-04-2024
 
Phụng Vụ - Mục Vụ
Ngày 15/04: Vượt lên trên những điều tầm thường – Lm. Anthony Nguyễn Hữu Quảng, SDB
Giáo Hội Năm Châu
04:04 14/04/2024

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.

Sau khi Đức Giê-su cho năm ngàn người ăn no nê, các môn đệ thấy Người đi trên mặt Biển Hồ. Hôm sau, đám đông dân chúng còn đứng ở bờ bên kia Biển Hồ, thấy rằng ở đó chỉ có một chiếc thuyền và Đức Giê-su lại không cùng xuống thuyền đó với các môn đệ, nhưng chỉ có các ông đi mà thôi. Tuy nhiên, có những thuyền khác từ Ti-bê-ri-a đến gần nơi dân chúng đã được ăn bánh sau khi Chúa dâng lời tạ ơn. Vậy khi dân chúng thấy Đức Giê-su cũng như các môn đệ đều không có ở đó, thì họ xuống thuyền đi Ca-phác-na-um tìm Người. Khi gặp thấy Người ở bên kia Biển Hồ, họ nói: “Thưa Thầy, Thầy đến đây bao giờ vậy?” Đức Giê-su đáp: “Thật, tôi bảo thật các ông, các ông đi tìm tôi không phải vì các ông đã thấy dấu lạ, nhưng vì các ông đã được ăn bánh no nê. Các ông hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực thường tồn đem lại phúc trường sinh, là thứ lương thực Con Người sẽ ban cho các ông, bởi vì chính Con Người là Đấng Thiên Chúa Cha đã ghi dấu xác nhận.” Họ liền hỏi Người: “Chúng tôi phải làm gì để thực hiện những việc Thiên Chúa muốn?” Đức Giê-su trả lời: “Việc Thiên Chúa muốn cho các ông làm, là tin vào Đấng Người đã sai đến.”

Đó là lời Chúa
 
Cơn đói của linh hồn
Lm. Minh Anh
14:45 14/04/2024
CƠN ĐÓI CỦA LINH HỒN
“Hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực thường tồn đem lại phúc trường sinh!”.

Allen Gardiner trải qua nhiều gian khổ khi truyền giáo tại Picton, cực nam Nam Mỹ. Năm 1851, ở tuổi 57, ông qua đời. Thi thể ông được tìm thấy với cuốn nhật ký ghi lại những trải nghiệm về đói, khát và cô đơn. Dòng cuối cùng cho thấy sự vật lộn của bàn tay run rẩy khi ông cố sức để viết cho dễ đọc, “Tôi choáng ngợp với cảm giác về sự tốt lành của Thiên Chúa, và đó là điều duy nhất thoả mãn cơn đói của linh hồn!”.

Kính thưa Anh Chị em,

‘Cơn đói của linh hồn’ Gardiner được Chúa Giêsu chỉ ra trong Tin Mừng hôm nay, đó là “đói chính Ngài, sự tốt lành của Thiên Chúa!”. Ngài là “Lương thực thường tồn đem lại phúc trường sinh!”. Vậy bạn đang nỗ lực làm việc cho lương thực nào? Loại “mau hư nát?”, hay loại “thường tồn?”.

Nhìn chung quanh, chúng ta nhận ra rằng, có rất nhiều nguồn cung cấp ‘lương thực’ không đến từ Thiên Chúa và xem ra, chúng có vẻ hấp dẫn. Một số người nuôi dưỡng bản thân bằng tiền bạc; số khác, bằng thành công và danh tiếng; số khác nữa, bằng quyền lực và kiêu hãnh. Vậy mà, ‘lương thực’ đích thực thoả mãn ‘cơn đói của linh hồn’ chỉ có thể là Giêsu, ‘Lương Thực’ đến từ trời!

Chúa Giêsu coi trọng “lương thực hay hư nát” cho nhu cầu thể chất; Ngài không chịu được cảnh hàng ngàn người phải đói giữa đồng vắng. Ngài cho họ ăn, chữa lành bệnh tật; Ngài kêu gọi người giàu chia sẻ cho người nghèo. Tuy thế, Ngài cũng tiết lộ cho chúng ta một chân trời không thuộc thế giới này; Ngài muốn chúng ta đi đến tận cuối chân trời đó, ở đúng vị trí của Ngài, để có thể nhìn thấy vinh quang “Con Một của Chúa Cha”, cũng là “lương thực thường tồn đem lại phúc trường sinh”, chính Ngài! Ngài kêu gọi những kẻ kiếm tìm Ngài hãy để cho mình đói một cơn đói sâu xa hơn, cơn đói tinh thần, ‘cơn đói của linh hồn’ mà chỉ mình Ngài có thể thoả mãn. Đó là tin vào Ngài.

Têphanô, người đã được Thánh Thần dẫn đến tận cuối chân trời đó. Kìa! Ông ngước mắt lên và nhìn thấy “vinh quang Thiên Chúa và Đức Giêsu đứng bên hữu”. Ở đó, ‘cơn đói của linh hồn’ vị phó tế được no thoả; người ta thấy “mặt ông như mặt thiên sứ” - bài đọc một.

Anh Chị em,

“Hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát!”. Khi chúng ta ra công làm việc, phép lạ ‘bánh hoá ra nhiều’ vẫn tiếp tục xảy ra. Nhưng như những người đương thời với Chúa Giêsu, bạn và tôi hãy không ngừng hỏi, “Chúng tôi phải làm gì để thực hiện những việc Thiên Chúa muốn?” và chúng ta hãy nghe cho được câu trả lời của Chúa Giêsu, “Hãy tin vào Đấng Người đã sai đến!”; nói cách khác, “Hãy đói khát Giêsu!”. Thú vị thay, chính Chúa Giêsu cũng đang thực sự đói khát chúng ta; Ngài mong chờ tình yêu của của chúng ta. Ước gì, chúng ta không ngừng tìm đến với Chúa Giêsu, chuyên cần rước lấy Thánh Thể Ngài; vì chỉ nơi Ngài, ‘cơn đói của linh hồn’ mới được thoả mãn; cũng chỉ nơi Ngài, ‘cơn đói của Ngài, của Thiên Chúa và của con người’ được no thoả!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con biết đói khát Chúa vì biết rằng, Chúa cũng đang đói khát linh hồn con!”, Amen.

(Tgp. Huế)
 
Tin Giáo Hội Hoàn Vũ
Bất chấp nhiều điều tích cực, Dignitas Infinita vẫn có thể bị những kẻ phản đối sử dụng để tạo ra nhiều điều nhảm nhí hơn
Vũ Văn An
13:53 14/04/2024

Dualta Roughneen, trên Catholic Herald, ngày 10 tháng 4 năm 2024 viết như sau: Dignitas Infinita, tiếng Latinh có nghĩa là “Phẩm giá vô hạn”. Tuyên bố mới về Nhân phẩm của Bộ Giáo lý Đức tin xuất hiện vào một thời điểm trong lịch sử mà ý tưởng về nhân quyền đang bắt đầu ăn mòn chính nó.



Một trong những thông điệp cốt lõi của Tuyên bố là Giáo hội nhận thấy nhân quyền đang bị chiếm hữu bởi các thế lực chống đối sự hiểu biết đầy đủ về phẩm giá con người và đặc biệt là những gì nó mô tả như “phẩm giá hữu thể học”.

Bộ Giáo lý Đức tin nhấn mạnh việc cái hiểu cắt xén về phẩm giá con người – thường được coi là phẩm giá bản thân – đang bị sử dụng ra sao để phủ nhận nhân quyền đối với những người ở ngoại vi và bên lề xã hội và cuộc sống. Nó cũng nhấn mạnh việc không đánh giá cao phẩm giá con người được tạo ra bởi Thiên Chúa, theo hình ảnh và họa ảnh Người, đã dẫn đến một sự hiểu biết sai lầm trong việc “gia tăng tùy tiện các quyền mới, nhiều quyền trong số đó mâu thuẫn với những quyền đã được định nghĩa lúc ban đầu và thường được đặt ra để đối lập với quyền căn bản là quyền sống”.

Giáo hội nhìn thấy điều đó và muốn những người theo mình nhìn thấy điều đó – và vì vậy Vatican đã lên tiếng với Dignitas Infinita.

Nhưng còn điều gì khác quan trọng trong Tuyên bố? Nó đưa ra một cái nhìn sâu sắc và chân thực hơn về phẩm giá con người so với phiên bản duy giản lược được đưa ra bởi một nghị trình nhân quyền thế tục, khác xa với mục đích ban đầu của Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền năm 1948, mà dịp kỷ niệm 75 năm vào năm ngoái được Tuyên bố này nhắc đến nhiều lần.

Bộ Giáo lý Đức tin hiểu phẩm giá con người bao gồm bốn loại khác nhau: phẩm giá hữu thể học, phẩm giá đạo đức, phẩm giá xã hội và phẩm giá hiện sinh, trong đó quan trọng nhất là phẩm giá hữu thể học thuộc về con người đơn giản vì họ hiện hữu và được mong muốn, được Thiên Chúa tạo dựng và yêu thương.

Mỗi con người đều có phẩm giá, bất kể khả năng lý trí của họ, bao gồm tất cả những con người ở bên lề của chu kỳ sống và xã hội.

Phẩm giá đạo đức đề cập đến cách con người thực thi quyền tự do do Thiên Chúa ban cho, hành động ủng hộ hoặc chống lại lương tâm đã được đào tạo đúng đắn. Khi hành động chống lại phẩm giá đạo đức, điều này có thể bị coi là “không xứng đáng”, theo đó một người mất đi phẩm giá đạo đức, nhưng, bất kể tội ác đã thực hiện, cá nhân đó không bao giờ có thể đánh mất phẩm giá hữu thể học của mình.

Phẩm giá xã hội đề cập đến phẩm chất của điều kiện sống của một người, thường là do những hoàn cảnh ép buộc trái ngược với phẩm giá bất khả nhượng của họ - chẳng hạn như tình trạng nghèo cùng cực. Phẩm giá hiện sinh cung cấp sự khác biệt cho các tình huống thường được trích dẫn dưới tiêu đề về một cuộc sống “có phẩm giá” - thường được sử dụng để lên khuôn các cuộc thảo luận tìm cách làm xói mòn hoặc làm suy yếu phẩm giá hữu thể học ở mọi người - chẳng hạn như các cuộc thảo luận về quyền được hỗ trợ tự tử.

Tuyên bố hiểu rằng phẩm giá con người, cả trong phiên bản mở rộng của nó, đều phụ thuộc vào phẩm giá hữu thể học. Chúng ta đánh mất phẩm giá đạo đức khi không hành động như chúng ta phải hành động dựa trên việc được hình thành bởi Thiên Chúa, chúng ta xứng đáng có phẩm giá hiện sinh và xã hội vì chúng ta có phẩm giá hữu thể học - được tạo dựng theo hình ảnh và họa ảnh Thiên Chúa.

Tuyên bố nói lên điều đó - nhưng nó thực hiện điều đó một cách mặc nhiên hơn là minh nhiên. Vì vậy, nguy cơ là nó sẽ bị xuyên tạc bởi những kẻ đối lập đang tìm cách tạo ấn tượng rằng mọi phẩm giá đều bình đẳng, hoặc tìm cách phớt lờ bản chất cơ bản của phẩm giá hữu thể học của chúng ta.

Phần sau của tài liệu đề cập đến những vi phạm nghiêm trọng về phẩm giá đang gây đau khổ cho thế giới hiện đại, đưa ra một câu chuyện dài đáng buồn: bi kịch về nghèo đói, chiến tranh, nỗi khổ cực của người di cư, nạn buôn người, lạm dụng tình dục, bạo lực đối với phụ nữ, phá thai, mang thai hộ, an tử hoặc hỗ trợ tự tử, gạt ra ngoài lề xã hội người khuyết tật, bạo lực kỹ thuật số và các lĩnh vực phân rẽ văn hóa gần đây nhất, chẳng hạn như lý thuyết phái tính và chuyển đổi giới tính. Và đây chính là lúc mà những ý định tốt đẹp và cao quý của tuyên bố có thể dẫn đến một số hậu quả không lường trước được.

Chắc chắn, trước những cuộc chiến văn hóa đang tấn công các giá trị cơ bản của đức tin, một số trong số này sẽ được chú ý nhiều hơn những giá trị khác. Nghèo đói, chiến tranh, buôn người, lạm dụng tình dục, bạo lực đối với phụ nữ - không có cuộc chiến văn hóa nào về những vấn đề này. Có thể có những bất đồng nhưng cả thủ phạm của những vi phạm này cũng như những người bảo vệ chúng đều không có khả tín tính cũng như không có chỗ đứng trong các cuộc thảo luận về nhân quyền. Không có người có tư tưởng đúng đắn nào ủng hộ những điều này mặc dù họ có thể khác nhau về cách loại bỏ chúng.

Nhưng phá thai, mang thai hộ, hỗ trợ tự tử, lý thuyết phái tính và chuyển đổi giới tính - đây là những chỗ mà ranh giới được vạch ra giữa Tả và Hữu, giữa Cấp tiến và Bảo thủ. Việc bãi bỏ án tử hình cũng nằm ở đâu đó trong số đó. Vấn đề di dân lật quân cờ trên chiến tuyến.

Bộ Giáo lý Đức tin đặt phẩm giá con người vào trung tâm của các cuộc tranh luận này – đặt phẩm giá hữu thể học chống lại phẩm giá bản thân và việc trăm hoa đua nở của các nhân quyền hiện đại. Giống như nhiều cách giải thích thế tục về nhân quyền, các quyền chống mang thai hộ, phá thai, quyền tự tử được hỗ trợ là tuyệt đối, chúng nêu rõ những gì có thể và không thể làm được. Chúng bị cấm. Phẩm giá hữu thể học đòi hỏi người ta không thực hiện việc thay đổi giới tính.

Người ta chưa rõ Tuyên bố yêu cầu gì liên quan đến lý thuyết phái tính ngoại trừ việc này, như nó thường được hiểu – hãy tưởng nghĩ về một xã hội không có sự khác biệt về giới tính – nó phải bị bác bỏ.

Một vi phạm nghiêm trọng khác được đề cập đến là sự khổ cực của những người di cư - mang đến một số nhầm lẫn – nhiều sức nóng hơn ánh sáng - vì nó không đưa ra yêu cầu rõ ràng nào đối với tín hữu hoặc bất cứ con người nào ngoài lời khuyến khích chung là đối xử với họ như bất cứ con người nào. Trong một đoạn ngắn, Bộ Giáo lý Đức tin không thừa nhận rằng những người di cư có đủ mọi hình dạng và kích cỡ - nhưng chỉ suy diễn rằng người di cư là những người nghèo đặc biệt, dễ bị tổn thương, muốn thoát khỏi khó khăn hoặc chạy trốn sự đàn áp. Quan điểm hạn hẹp này kéo dài sự nhầm lẫn giữa những người tầm trú và người tị nạn, làm lu mờ một cuộc thảo luận rõ ràng trong khi bỏ qua sự kiện nhiều người di cư chỉ muốn tối ưu hóa các cơ hội việc làm. Sẽ chẳng ích lợi chi khi giảm bớt sức nóng của một cuộc tranh luận phân cực nhằm tránh giải quyết bối cảnh và sự khác biệt.

Các hệ luận chính sách của việc cấm những điều tuyệt đối là rõ ràng. Những quyền đó là những con bài chủ [trumps] (nói theo lý thuyết về quyền). Để trả lời các vấn đề xã hội, có nguy cơ là Bộ Giáo lý Đức tin đặt các phẩm giá ngẫu nhiên ngang hàng với phẩm giá hữu thể học, mặc dù bối cảnh có liên quan đến phẩm giá trước, trong khi không liên quan đến phẩm giá sau.

Khi hình thành chính sách xã hội, những cảnh báo thường được lồng vào các hiệp ước và công ước về nhân quyền để phù hợp với bối cảnh và các tình huống bất ngờ. Các quyền xã hội phụ thuộc vào lợi ích chung, các nguồn lực sẵn có, sự ổn định xã hội và một loạt các vấn đề cạnh tranh khác quyết định đâu là phản ứng thích đáng để bảo vệ các quyền hiện sinh và xã hội của tất cả mọi người, kể cả những người di cư.

Rủi ro trong Dignitas Infinita là các phẩm giá và quyền lợi ngẫu nhiên bắt nguồn từ chúng được coi là ngang bằng với các quyền (và những điều cấm) bắt nguồn từ phẩm giá hữu thể học. Những người Công Giáo phản đối và bác bỏ chính sách và luật pháp tấn công phẩm giá hữu thể học sẽ phải đối đầu với lời buộc tội nhàm chán cho rằng họ không dành năng lực ngang bằng cho chính sách được khẳng định là làm suy yếu phẩm giá ngẫu nhiên. Một ví dụ về điều này là dòng chữ đưa ra chống lại những người vận động ủng hộ sự sống rằng “bạn chỉ quan tâm đến trẻ sơ sinh trước khi chúng được sinh ra”.

Bất chấp sự không trung thực của lời cáo buộc này, Dignitas Infinita có thể làm mờ đi sự khác biệt giữa các hành vi vi phạm rõ ràng và sai về bản chất với các quan điểm chính sách xã hội có thể gây tranh cãi và phụ thuộc vào bối cảnh. Tuyên bố kêu gọi tất cả mọi người hãy chào đón và tôn trọng phẩm giá của cả người lân cận và người lạ, nhưng nó không phân biệt rõ ràng giữa hành động cá nhân và chính sách xã hội hay vai trò của Nhà nước.

Tuy thế, tuyên bố này xuất hiện vào thời điểm khi Giáo hội nên chấn chỉnh lại nhiều quan niệm sai lầm đang thống trị diễn ngôn hiện đại. Người ta thường xuyên và cố tình bỏ qua điều này là các tín hữu dấn thân quảng đại hơn những người không có đức tin khi nói đến việc từ thiện, và các cơ quan Công Giáo và các tổ chức dựa trên đức tin khác đã và đang là những nhà cung cấp hàng đầu về y tế, giáo dục và các dịch vụ xã hội khác trên khắp thế giới ở những nơi mà chính phủ yếu hoặc vắng mặt.

Khi nói đến việc thực hiện hành động cụ thể để bảo vệ phẩm giá con người, Giáo hội thường không bị coi là thiếu sót, dù hiếm khi nhận được bất cứ sự công nhận nào. Giờ đây, với Dignitas Infinita, Vatican đã bắt đầu đề cập đến lĩnh vực lý thuyết và sự hiểu biết mở rộng về phẩm giá con người vốn đã xuất hiện kể từ bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền, và là nền tảng cho diễn ngôn nhân quyền thế tục vốn thường đi ngược lại giáo huấn của Giáo hội và thực sự làm tổn hại đến những người dễ bị tổn thương và yếu đuối nhất trong xã hội.
 
Sự trỗi dậy của những người theo chủ nghĩa bảo giáo hoàng thái quá
Vũ Văn An
14:51 14/04/2024

Cha Jeffrey Kirby (*), trên The Catholic Thing, ngày 14 tháng 4, 2024, nhận định rằng, quả là một thời đại kỳ lạ khi chứng kiến việc xuất hiện của chủ nghĩa bảo (giáo) hoàng quá khích (ultramontanism).

Thần học đúng đắn đã nhiều lần trấn át tà giáo đó nhưng nó vẫn tiếp tục xuất hiện. Đáng tiếc thay, sẽ luôn có những giáo hoàng hoan nghênh chủ nghĩa cực đoan và sự tuân thủ vô điều kiện đi kèm với nó, cũng như sẽ luôn có những tâm hồn háo hức quỳ lạy người sắp trở thành giáo hoàng.

Chủ nghĩa Ultramontanism là niềm tin sai lầm rằng mọi điều giáo hoàng nói đều không có sai sót. Mọi điều một giáo hoàng quyết định đều phải đúng đắn. Mọi điều một giáo hoàng nói hoặc làm đều là điều quan trọng nhất và không thể bị nghi ngờ. Lời hùng biện gây sốc của những người theo chủ nghĩa cực đoan được tìm thấy trong những khẩu hiệu như “Nếu bạn không tin mọi điều giáo hoàng dạy, thì bạn không phải là người Công Giáo”.

Chủ nghĩa Ultramontanism đã đồng hành với Giáo hội kể từ khi thành lập. Người theo chủ nghĩa cực đoan đầu tiên là người dự tòng, Cornelius. Thánh Phêrô, vị giáo hoàng đầu tiên của chúng ta, được mời đến Caesarea. Khi ngài đến, chúng ta được cho biết:

Khi Phêrô bước vào nhà, Cornelius ra đón và sấp mình xuống dưới chân ngài một cách tôn kính. Nhưng Phêrô đã đỡ ông dậy. “Đứng lên,” ngài nói, “Bản thân tôi cũng chỉ là một con người.” (Công vụ 10:25-26)

Hành động của Cornelius vượt xa lòng tôn kính hiếu thảo của các tín hữu (x. Cv 5:15-16), những người coi vị tông đồ trưởng là phản ảnh sự hiện diện của Thiên Chúa và nhìn thấy quyền năng thần linh hoạt động qua ngài. Trong trường hợp của Cornelius, ông ta đã tìm cách bỏ qua Thiên Chúa và coi chính Thánh Phêrô như một loại á thần nào đó. Vị tông đồ nhìn thấy sự lạm dụng và đã đúng khi sửa dạy ông. Là một người có đức hạnh, Thánh Phêrô sẽ không cho phép chủ nghĩa cực đoan có chỗ cựa quạy.

Tuy nhiên, trong trường hợp Cornelius, chúng ta có thể hiểu hành động của ông vì ông vẫn còn là một người ngoại giáo và chưa được dạy dỗ về đường lối của Chúa Giêsu. Tuy nhiên, kể từ thời Giáo hội sơ khai, chúng ta đã thấy nhiều người không có lý do chống đỡ đó, những người Công Giáo cực đoan lẽ ra phải biết rõ hơn.

Các Nghị phụ của Công đồng Vatican I đã phải hạ nhục những người theo chủ nghĩa cực đoan của thế kỷ 19. Ngược lại với niềm tin phổ biến, Pastor Aeternus, sắc lệnh về tính không thể sai lầm của Đức Giáo Hoàng, không nâng cao quyền lực của Đức Giáo Hoàng mà thực sự đã tiết chế và hạn chế nó.

Phêrô làm lễ rửa tội cho Bác quân đội trưởng Cornelius, tranh của Francesco Trevisani, 1709 [bộ sưu tập tư nhân]


Trước sắc lệnh đó, người ta chưa bao giờ xác định rõ những lời dạy và suy nghĩ của một giáo hoàng đứng ở đâu về mặt thẩm quyền của ngài. Ví dụ, khi Đức Giáo Hoàng Gregory XVI lần đầu tiên nhìn thấy một đầu máy hơi nước, ngài đã nguyền rủa nó và gọi nó là “con đường dẫn tới địa ngục” (một vở kịch về chemins de fer [đường sắt] của Pháp). Sau đó, một số người tự hỏi chính xác thì đoàn tàu đứng ở đâu trong giáo lý Công Giáo. Tuy nhiên, với Vatican I, các công thức rõ ràng đã xuất hiện; các tín hữu có thể biết khi nào giáo hoàng đang nói một cách không thể sai lầm. Và khi nào không.

Những người theo chủ nghĩa bảo (giáo) hoàng thái quá, đặc biệt là nhãn hiệu tân thời hiện tại, làm mờ đi các bình diện thẩm quyền và đặt niềm tin tối cao vào mọi điều mà một vị giáo hoàng có thể thốt ra.

Họ phóng đại thẩm quyền và quyền lực của giáo hoàng đến nỗi họ trở nên bối rối về Nhiệm Thể Chúa Giêsu Kitô ngay cả khi họ sống và làm việc trong đó. Họ trở thành những người theo chủ nghĩa duy tín giáo hoàng, khẳng định lòng trung thành đạo đức đặc biệt với vị giáo hoàng, thậm chí biến người nắm giữ chức vụ giáo hoàng thành một người có uy quyền lớn lao nào đó, vượt ra ngoài sự mặc khải thần linh và truyền thống thánh thiêng.

Những người theo chủ nghĩa bảo giáo hoàng thái quá cho rằng họ chỉ thể hiện sự tôn kính đối với người nắm giữ chức vụ giáo hoàng. Họ từ chối xắn tay áo lên và bước vào lĩnh vực suy tư và làm việc thần học thực sự.

Những người theo chủ nghĩa cực đoan tập hợp - theo kiểu chính trị gần như đảng phái - xung quanh một người tuyên bố rằng mọi điều ngài nói đều đúng và mọi điều ngài thậm chí chỉ thì thầm cũng đều là sự thật. Đáng buồn thay, họ trở thành người phục vụ trông coi cho một con người độc thân, dọn dẹp mớ hỗn độn của ngài, che giấu sự phóng đại của ngài, giải thích những sai lầm của ngài, đồng thời tham gia vào việc nêu tên và buộc tội những người con trai và con gái trung thành của Giáo hội, những người đặt ra câu hỏi, đặt ra thách thức và chỉ ra khả năng có thể xảy ra sai lỗi.

Trong Hiến chế Tín lý về Mặc khải của Thiên Chúa, Dei Verbum, các Nghị phụ Công đồng đã nói rõ:

Nhưng nhiệm vụ giải thích chính xác lời Chúa, dù được viết ra hay được truyền lại, đều được ủy thác riêng cho chức vụ giảng dạy sống động của Giáo Hội, mà quyền bính được thi hành nhân danh Chúa Giêsu Kitô. Văn phòng giảng dạy này không đứng trên lời Chúa, nhưng phục vụ lời Chúa, chỉ giảng dạy những gì đã được truyền lại, sốt sắng lắng nghe, bảo vệ cẩn thận và giải thích một cách trung thực theo sứ mệnh thiêng liêng và với sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần, nó rút ra từ kho tàng đức tin này mọi thứ mà nó trình bày cho niềm tin như được Thiên Chúa mạc khải. (#10)

Giáo hoàng là tôi tớ của Lời Chúa. Ngài là thông dịch viên của Kho tàng Đức tin, đồng thời đóng vai trò là người giám hộ và phục vụ nó. Sự mặc khải của Thiên Chúa kiểm soát huấn quyền, ngay cả khi huấn quyền giải thích và giảng dạy.

Vì vậy, khi một vị giáo hoàng làm lu mờ khả năng phán xét và hướng dẫn của Giáo hội trong các lĩnh vực chân lý đạo đức, làm tổn hại đến tính toàn vẹn về mặt tín lý, cố gắng ràng buộc lương tâm của các tín hữu về các vấn đề vượt quá khả năng của ngài như biến đổi khí hậu và khoa học thực nghiệm, kêu gọi chúc phúc cho các cặp vợ chồng đang trong tình trạng tội lỗi, hoặc mang một thần tượng ngoại giáo đến bàn thờ Kitô giáo trong khi thờ phượng, thì mặc khải Thiên Chúa đã buộc tội ngài từ rất lâu trước khi bất cứ tín hữu nào làm như vậy.

Ngược lại với những người theo chủ nghĩa cực đoan, những tín đồ thực sự yêu mến vị giáo hoàng - cả người lẫn chức vụ - sẽ nói những lời khuyên răn và cải cách. Họ sẽ cầu nguyện cho sự hoán cải và tìm cách sống theo những lời đáng sợ của Thánh Phaolô:

Nhưng, sống theo sự thật và trong tình bác ái, chúng ta sẽ lớn lên về mọi phương diện, vươn tới Đức Kitô vì Người là Đầu. Chính Người làm cho các bộ phận ăn khớp với nhau và toàn thân được kết cấu chặt chẽ, nhờ mọi thứ gân mạch nuôi dưỡng và mỗi chi thể hoạt động theo chức năng của mình. Như thế Người làm cho toàn thân lớn lên và được xây dựng trong tình bác ái. (Êphêsô 4:15-16).

Chủ nghĩa Ultramontanism không mang lại sức mạnh hay sinh lực cho Giáo hội. Nó gần như là một sự xu nịnh không mang lại lợi ích gì và gây ra tác hại lớn. Giáo Hội luôn được củng cố nhờ sự liêm chính và sức mạnh đạo đức. Hội Thánh được đổi mới nhiều lần bằng sự thánh thiện, điều này đạt được nhờ ân sủng của Thiên Chúa qua “sự vâng phục của đức tin” đối với Tin Mừng.
_________

(*) Cha Jeffrey Kirby, STD, là một nhà thần học luân lý và là Mục tử của Giáo xứ Đức Mẹ Ân Sủng ở Indian Land, Nam Carolina. Ngài là người chủ trì buổi tĩnh nguyện hàng ngày, Lễ dâng buổi sáng với Cha Kirby. Cha Kirby đã viết nhiều cuốn sách, trong đó có cuốn Kingdom of Happiness: Living the Beatitudes in Everyday Life [Vương quốc Hạnh phúc: Sống các Mối phúc trong Cuộc sống Hằng ngày].
 
Văn Hóa
Truyền thống Trí thức Công Giáo trong Thế kỷ Hai mươi, Chương Ba 5
Vũ Văn An
17:59 14/04/2024

Chương ba: thần học và những thống khổ của thời hiện đại, tiếp theo và hết



Ơn Cứu Rỗi: Bản Thân và Cộng Đồng

Mặc dù Congar và Chenu là những người thực hành có ảnh hưởng nhất của thần học mới trong tiền bán thế kỷ XX, nhưng nhân vật thường được coi nổi bật nhất là tu sĩ Dòng Tên Henri de Lubac (1896–1991). De Lubac xuất thân từ một gia đình quý tộc người Pháp, nhưng chủ yếu học ở Anh—nơi một số chủng viện Pháp đã trốn chạy sau sự đàn áp của chính phủ xã hội chủ nghĩa Combes ở Pháp. Vì nhiều lý do khác nhau, điều này có nghĩa là ngài chủ yếu tự học, và do đó, ngài trở thành một nhà thần học đổi mới và có hiệu năng cao, người đã có những đóng góp quan trọng cho thần học Công Giáo trên nhiều phương diện, nhưng đặc biệt là về bản chất của Giáo hội và về vấn đề nhức nhối tự nhiên và ân sủng. Mặc dù ngài là một người ngưỡng mộ Thánh Tôma, nhưng suy nghĩ của ngài trong suốt sự nghiệp lâu dài của mình bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi những nghiên cứu mà ngài đã tự mình thực hiện về các Giáo phụ. Do tất cả những yếu tố này, ngài đã gặp không ít sự phản kháng và thái độ thù địch hoàn toàn của giới lãnh đạo Kinh viện từ khá sớm, mặc dù ngài chưa bao giờ được yêu cầu biện minh cho mình ở Rôma. Thật vậy, bất chấp những nghi ngờ về ngài trong một số thời điểm trước Công đồng Vatican II, tư tưởng của ngài đã đóng một vai trò quan trọng trong các diễn biến tại biên cố then chốt đó, và ngài đã được Đức Gioan Phaolô II tấn phong Hồng Y vào năm 1983.

Như đã lưu ý trước đây, cuốn sách thực sự quan trọng đầu tiên của de Lubac, Catholicism [Công Giáo], được nhiều nhà tư tưởng Công Giáo chủ chốt của thế kỷ 20—Wojtyła, Ratzinger, von Balthasar—coi là “một bản văn không thể thiếu”. Và với lý do chính đáng. (48) Sau Thế chiến thứ hai, nó đã cách mạng hóa suy nghĩ về Giáo hội đối với nhiều người vừa chính thống vừa có ý thức sống động về sự cần thiết của một hình thức hiện hữu mới của Giáo hội. Luận đề tổ chức của cuốn Catholicism [Công Giáo] của de Lubac là Giáo hội sơ khai, các nguồn giáo phụ và những nhân vật vĩ đại như Thánh Augustinô và Thánh Tôma đều nói về ơn cứu rỗi, không phải bằng những thuật ngữ tuyệt đối cá nhân vốn đôi khi đánh dấu lòng mộ đạo Công Giáo trong tiền bán thế kỷ XX, nhưng về mặt xã hội đã công nhận Giáo hội là Nhiệm thể của Chúa Kitô đang trên đường hướng tới cùng đích đã hứa. Thật vậy, ngài mô tả niềm tin của các Giáo phụ là bao gồm tất cả: “Thực vậy, đối với các ngài, theo một nghĩa nào đó, Giáo hội không là gì khác ngoài chính loài người, trong tất cả các giai đoạn lịch sử của nó, bao lâu nó dẫn đến Chúa Kitô và được Thánh Thần của Người thúc đẩy.” (49) Và ngài bình luận trong một ngữ cảnh khác rằng “Thánh Thần của Chúa Kitô đã từng ngự xuống trên Các Tông Đồ không phải để liên kết họ lại với nhau thành một nhóm kín mà để thắp sáng trong họ ngọn lửa của đức ái phổ quát” (tr.110). Những đoạn này và nhiều đoạn khác trình bày một tầm nhìn rõ ràng và dứt khoát về một Giáo hội vừa có tính xã hội vừa có tính phổ quát—và tự bản chất là truyền giảng Tin Mừng.

Đọc kỹ de Lubac cho thấy ngài không hề cố gắng phủ nhận khía cạnh cá nhân đúng đắn của đời sống thiêng liêng, mà chỉ đặt nó vào vị trí và thêm vào đó - như chúng ta xem ra phải làm - trong đời sống rộng lớn hơn của Giáo hội và lịch sử cứu rỗi. Pascal đã nói trong một bức thư của mình rằng “bất cứ điều gì xảy ra với Giáo hội cũng sẽ xảy ra với mỗi linh hồn cá nhân” (206). Và mutatis mutandis [với những sửa đổi thích đáng về chi tiết], điều ngược lại cũng đúng. De Lubac quảng diễn:

“Những suy đoán phổ biến của cổ thời về chủ đề thế giới vi mô và thế giới vĩ mô [thế giới vi mô là trật tự của thế giới vĩ mô được phản ảnh trong mỗi con người], bằng một sự hoán vị kép, trở thành một học thuyết về ơn cứu rỗi cả xã hội (lịch sử) lẫn cá nhân. Có một sự tương ứng giữa sự phát triển tâm linh của thế giới và sự phát triển của linh hồn cá nhân, vì cả hai đều được tạo ra bởi cùng một ánh sáng thần linh. Linh hồn là thế giới vi mô của vũ trụ vĩ đại đó, tức Giáo hội, và tất cả các giai đoạn mà Giáo hội trải qua trong cuộc hành trình dài của mình đều được tìm thấy trong những thăng trầm của đời sống tâm linh”. (209)

Bất kể việc định phẩm nào mà người đọc có thể muốn có đối với một số ý tưởng của de Lubac, điều chắc chắn là việc chú ý cẩn thận đến bản văn của ngài sẽ ngăn cản họ xếp ngài vào loại hoàn toàn thờ ơ với nền linh đạo truyền thống.

Nhưng trong Công Giáo, de Lubac không chỉ quan tâm đến việc sửa chữa hồ sơ lịch sử. Ngay từ những trang đầu tiên, ngài đã nói rõ rằng việc chỉ tập trung vào lòng đạo đức cá nhân đã cản trở Giáo hội theo hai cách chính. Cách đầu tiên, những người bên ngoài Giáo hội không nhìn thấy giá trị của Giáo hội đối với họ trong những hoàn cảnh đặc thù của họ hoặc trong tương lai của nhân loại: “'Làm thế nào', họ đặc biệt hỏi, 'một tôn giáo dường như không quan tâm đến tương lai trần thế và mối tương giao nhân bản của chúng ta lại có thể cung cấp một lý tưởng mà vẫn có thể thu hút những con người của ngày hôm nay'?” (13-14). Đó là mối nguy hiểm đặc biệt ở châu Âu, nơi mà ngay cả vào đầu thế kỷ 21 và sau hơn một trăm năm giáo huấn xã hội Công Giáo rất phong phú, dường như vẫn tin rằng Công Giáo không có gì để thêm vào những sắp xếp thế tục hiện có của Liên minh châu âu.

Đối với de Lubac, vấn đề thứ hai bắt nguồn từ vấn đề thứ nhất, trong đó có hai loại người đang bước vào hiện hữu: những người vốn rút lui khỏi sự tương tác nhân bản và hoàn toàn tập chú vào mối tương quan bản thân của họ với Thiên Chúa và những người đã hoàn toàn chấp nhận khuôn khổ hiện đại của thế giới và các quy luật khoa học của nó mà không còn quan tâm đến các vấn đề tôn giáo. Rõ ràng, de Lubac coi hai lập trường này có liên quan với nhau, và ở những chỗ khác, ngài qui lỗi cho sự xuất hiện của một chủ nghĩa thế tục thuần túy dưới chân một quan điểm đức tin đã một chiều nhấn mạnh đến lòng mộ đạo cá nhân. Đối với de Lubac, chính Công Giáo phải chịu một số trách nhiệm đối với những phát triển này bởi vì, trong các cuộc tranh cãi với những người theo phái Luther và những người theo thuyết Calvin về tự nhiên và ân sủng, nó đã nhấn mạnh quá mức tới ý tưởng về một “bản nhiên thuần túy” tự hiện hữu để tránh việc họ nhấn mạnh quá mức tới ân sủng như một việc bãi bỏ tự nhiên trong yếu tính của nó. Ở một thái cực ngược lại, khi các nhân vật Công Giáo thời Phục hưng tìm kiếm một bản nhiên con người tách rời khỏi Thiên Chúa, thì Công Giáo đã không giao tiếp đầy đủ với con người đúng nghĩa mà chạy trốn vào “tính tâm linh”. Thật vậy, de Lubac giới thiệu với độc giả của mình những giải thích khéo léo về khía cạnh đó của sự vật trong những cuốn sách như The Spirit of Catholicism [Tinh thần Công Giáo] của Karl Adam. (51) Ngài coi nhiệm vụ của mình là khôi phục lại ý thức đầy đủ hơn về truyền thống với mục đích làm cho Công Giáo một lần nữa trở thành một năng lực tinh thần, một điều sẽ hồi sinh thế giới trong khi vẫn trung thực với tinh thần của chính nó.

Ngài tập hợp một đám đông nhân chứng—một trong những phần thú vị nhất của cuốn sách là phần phụ lục, trong đó có nhiều trích dẫn từ các Giáo phụ và các tác giả hiện đại hơn như Hồng Y Newman và Hồng Y Faulhaber (một nhà lãnh đạo anh hùng của Giáo hội ở Đức trong phe đối lập chống Hitler), cũng như nhà thơ Paul Claudel và Teilhard de Chardin, một người bạn từ những ngày còn ở chủng viện Dòng Tên. Mục đích chính của tài liệu này là để làm rõ những gì Thiên Chúa đã làm khi trở thành con người:

“Đối với Thánh Irênê, cũng như đối với Origen, Grêgôriô thành Nazianze, Grêgôriô thành Nyssa, Cyrilô thànhAlexandria, Maximô, Hilariô và những người khác, con chiên lạc trong Tin Mừng mà Vị Mục Tử Nhân Lành mang về đàn không gì khác hơn là toàn thể bản nhiên con người; tình trạng đáng thương của nó khiến Ngôi Lời Thiên Chúa cảm động đến nỗi Người đã rời bỏ đàn thiên thần vĩ đại, như thể để mặc họ tự lo liệu lấy, để đến giúp đỡ nó. Các Giáo phụ đã chỉ định bản nhiên này bằng một loạt các cách diễn đạt tương đương, tất cả đều có bản nhiên cụ thể, do đó chứng tỏ rằng theo quan điểm của các ngài, đó là một thực tại chân chính” (các trang 25-26).

Theo quan điểm này, chính tội lỗi cũng có khía cạnh bản thân của nó, nhưng con người, tự bản chất, được đặt trong một mạng lưới xã hội cho thấy, khi tách mình ra khỏi Thiên Chúa— họ cũng tự tách mình ra khỏi nhau. De Lubac trích dẫn một đoạn văn của Claudel kể lại việc Thiên Chúa làm lộn xộn ngôn ngữ tại Babel trong Cựu Ước được sửa chữa như thế nào bằng việc tuôn đổ Chúa Thánh Thần vào ngày Lễ Ngũ Tuần trong Tân Ước. Theo nghĩa đó, Nhập thể không chỉ là một sứ mệnh cho các dân tộc sa ngã trên khắp thế giới; nó đã tạo ra một dân tộc mới (56).

Giáo hội, dân tộc mới này, theo một nghĩa nào đó, cũng là sự tiếp nối giao ước Thiên Chúa từng lập với dân Do Thái, nhưng được hiển dung trong khi vẫn còn là một thực tại cụ thể và sống động. Sai lầm của phong trào Thệ Phản là bác bỏ hoàn toàn thực tại đó một phần vì một số thất bại đã xảy ra. Điều này không những có nghĩa một chia rẽ xã hội; nó còn có nghĩa bác bỏ việc hiện thân đời này, cụ thể, của hành động cứu độ của Thiên Chúa để ủng hộ cả lý thuyết lẫn thực hành tự hủy hoại nhanh chóng: “Kinh nghiệm của phong trào Thệ Phản nên giúp ích cho chúng ta như một cảnh cáo đầy đủ. Sau khi tước bỏ tất cả các thuộc tính huyền nhiệm của nó, nó chỉ thừa nhận nơi Giáo hội hữu hình một định chế thế tục; như một điều tất nhiên, nó để mặc định chế này cho sự bảo trợ của nhà nước và tìm kiếm một nơi trú ẩn cho đời sống thiêng liêng trong một Giáo hội vô hình, các khái niệm về Giáo Hội này đã bốc hơi thành một lý tưởng trừu tượng” (các trang 75-76).

Dưới con mắt của de Lubac, đó là một sai lầm của phong trào Thệ Phản vốn không nằm trong suy nghĩ của những nhân vật vĩ đại như Thánh Phaolô và Thánh Augustinô khi tin rằng Kitô giáo chân chính, đức tin thuần túy, phải hoàn toàn khác biệt với mọi điều nhân bản đã đến trước hoặc sẽ đến sau:

“ Khi những 'nhà cải cách', không hài lòng với việc tấn công những lạm dụng quá thực tế, đã tự mình vạch trần từ mọi phía điều mà họ gọi là những cuộc xâm nhập của ngoại giáo vào Giáo hội Rôma, họ buộc phải chỉ ra nguồn gốc của chúng càng ngày càng phải quay trở lại xa hơn đến tận những ngày đầu tiên của Kitô giáo. Chính Kinh thánh xem ra cũng bị ô nhiễm.... Kitô giáo đã biến đổi thế giới cũ bằng cách thẩm hóa nó. Có thể nào hình dung tư tưởng của Thánh Phaolô bị cắt đứt khỏi vô số gốc rễ ràng buộc nó với Tarsô và Giêrusalem, với nền văn minh Hy Lạp, thuyết huyền nhiệm phương Đông và Đế quốc La Mã được không? Những ràng buộc này là cần thiết đối với nó, càng cần thiết vì tính siêu việt sâu sắc của nó” (các tr.284-85).

Mong muốn duy trì đức tin Công Giáo như một loại khái niệm thuần túy tách biệt với hành trình xuyên thời gian của dân Chúa Kitô sẽ kết cục bằng cách đi vào con đường tự hủy hoại giống như con đường mà các nhà Cải cách Thệ Phản đã đi theo. Chính để tránh những nguy hiểm thuộc loại này mà nhiều người trong truyền thống đã cảnh cáo rằng nếu chúng ta muốn có Thiên Chúa như Cha của chúng ta, chúng ta phải có Giáo Hội như Mẹ của chúng ta.

Cách mà Giáo Hội nối kết chúng ta với gia đình này là bằng dòng ân sủng sống động, trong đó chúng ta tham dự cách cụ thể vào các bí tích, những bí tích cũng trở thành những phương tiện hiệp nhất nhân loại, đặc biệt là bí tích Thánh Thể, Sacramentum unitatis ecclesiasticae [bí tích hiệp nhất Giáo Hội]. Nhiều người coi đây là một loại lợi ích phụ bổ sung, nhưng như tên gọi của nó, sự hiệp nhất với Thiên Chúa và với nhau chính là định nghĩa của việc Rước Lễ. Ở một nơi khác, de Lubac đã phát hiện ra trong truyền thống cách thức mà ý nghĩa nguyên thủy của corpus mysticum [nhiệm thể]- nghĩa là Bí tích Thánh Thể - sau đó được chuyển sang cho những người cụ thể đã lãnh nhận bí tích và do đó cấu thành nên Giáo hội. Theo viễn tượng này, Giáo hội hiện hữu nơi Thánh Thể hiện hữu. Như Thánh Tôma Aquinô đã nói: “Bí tích Thánh Thể là bí tích hiệp nhất toàn thể Giáo hội: và do đó, trong bí tích này, hơn các bí tích khác, phải đề cập đến tất cả những gì thuộc về phần rỗi của toàn thể Giáo hội” ( III, q. 83, a. 4 ad 3; 3:2519) (89).

De Lubac nói, cảm thức liên đới giữa các Giáo phụ đầu tiên mạnh mẽ đến mức nảy sinh cuộc tranh cãi thần học về việc liệu những người được cứu rỗi đã chết có thể bước vào cuộc sống vĩnh cửu trước khi những tín hữu còn lại cũng sẽ đến hay không. Đó là một sự chuyển vị sai lầm một khái niệm trần thế sang thế giới bên kia, nhưng nó cho thấy ý nghĩa về sự liên đới hoàn toàn của Giáo hội lớn lao xiết bao. Điều này có ích như một khúc dạo đầu dẫn tới một số cân nhắc về tầm quan trọng của lịch sử trong Kitô giáo và trong Do Thái giáo trước đó. Tất cả các tôn giáo khác trên thế giới (ngoại trừ một phần phá Mazdak [*]) đều là những hệ thống thoát đời. Chủ nghĩa Platông của Hy Lạp cổ thời cũng như các đạo Hindu và đạo Phật nhận ra nỗi đau và ảo ảnh của cuộc sống trong thế giới này và tìm kiếm sự giải thoát khỏi những điều ác đó trong sự giải thoát khỏi chính thế giới. Ngược lại, Kitô giáo không tìm kiếm sự giải thoát khỏi thế giới, mà tìm kiếm sự phục hồi sự tốt lành nguyên thủy của nó và sự cứu chuộc loài người khỏi ách nô lệ của tội lỗi. Hơn nữa, tiến trình này chắc chắn mang lại giá trị đích thực cho lịch sử—lịch sử Israel hướng về sự Nhập thể của Chúa Kitô—bởi vì “nếu sự cứu rỗi do Thiên Chúa ban cho thực sự là sự cứu rỗi của loài người, vì loài người này sống và phát triển theo thời gian, bất cứ giải trình nào về ơn cứu độ này đương nhiên sẽ mang một hình thức lịch sử – đó sẽ là lịch sử về sự thâm nhập vào nhân tính bởi Chúa Kitô” (tr.141). Các nguyên tắc phổ quát và vĩnh cửu, như các nguyên tắc được khai triển trong các trường phái của học thuyết Tôma và Tân Kinh viện, vẫn giữ được tầm quan trọng đúng đắn của chúng, nhưng ơn cứu rỗi Kitô giáo là công việc của Thiên Chúa trong lịch sử.

Theo viễn ảnh này, chính Kinh thánh cũng phải được coi như một bản ghi chép của diễn trình cứu độ lịch sử đó. Về bình diện hiểu biết, Kinh Thánh vừa thuật lại các biến cố lịch sử cụ thể, vừa chứa đựng những điều mà Thánh Phaolô và các Giáo phụ gọi là lý thuyết và ẩn dụ. Tuy nhiên, Thánh Kinh cho chúng ta một cuộc gặp gỡ với “một mầu nhiệm phải được ứng nghiệm, phải được hoàn thành về mặt lịch sử và xã hội, mặc dù luôn luôn theo cách thiêng liêng: mầu nhiệm Chúa Kitô và Giáo hội của Người” (tr.170). Do đó, đây không phải là một số “kế hoạch trí thức” do các nhà thần học tài năng phát minh ra hay thậm chí là tầm nhìn sáng tạo của các nhà huyền nhiệm chân chính. Đúng hơn, nó là một bản tường thuật về cách Thiên Chúa đã chọn để đối xử và cứu chuộc dân Người, bắt đầu với giao ước với người Do Thái, qua việc Thiên Chúa đi vào thế giới một cách dứt khoát với Chúa Giêsu, và tiếp tục đi vào thời đại của chúng ta và tương lai trong Giáo Hội. Giáo hội ấy cũng là một cơ thể xã hội cụ thể bao gồm các thánh và những người tội lỗi, và ân sủng có tiềm năng mở rộng một cách gián tiếp ra toàn thể nhân loại.

De Lubac dự đoán rằng một số người sẽ coi ơn gọi phổ quát này, một cách nào đó, như loại bỏ nhu cầu phải có Giáo hội, vì mọi người đều đã được bao bọc trong sự tha thứ và tình yêu của Thiên Chúa. Như thế, chỉ thị riêng của Chúa Kitô cho các tông đồ ở cuối Tin Mừng Mátthêu phải rao giảng Tin Mừng cho mọi quốc gia dường như không cần thiết. Vào thời của Pascal, những người theo trường phái Jansenist đã cảnh cáo rằng các tu sĩ Dòng Tên đang dạy một Kitô giáo mặc nhiên tương tự, dẫn đến sự vô tín vì nó gợi ý rằng sự cứu rỗi có thể xảy ra bên ngoài Giáo hội. (“Kitô hữu ẩn danh” của nhà thần học Dòng Tên có ảnh hưởng Karl Rahner, một quan niệm bị chỉ trích nhiều, được phân tích ở đây trước sự việc xảy ra.) Như có thể thấy trong sơ đồ tổng thể của de Lubac, bản thân ngài không đề xuất bất cứ điều gì như vậy. Giáo hội là phương tiện theo ý muốn của Thiên Chúa để ơn cứu độ đến với chúng ta từ lịch sử nhân loại. Nhưng một trong những phần kém thỏa đáng nhất của cuốn Catholicism [Công Giáo] là nỗ lực của ngài để đối phó với khó khăn này. De Lubac kiên quyết coi Giáo hội - ít nhất một cách mặc nhiên - như con đường cứu rỗi duy nhất cho loài người. Nhưng đồng thời, thật khó để không cảm thấy rằng ngay cả ngài cũng sợ rằng nhiệt tình truyền giáo sẽ giảm đi phần nào nếu mọi người tin rằng dù sao thì sự cứu rỗi của Thiên Chúa cũng dành cho tất cả mọi người. Đây là một khó khăn sẽ trở nên rõ rệt một khi Công đồng Vatican hai thực hiện bước ngoặt nổi tiếng của nó trong việc công nhận một phần sự thật trong các bộ phận Kitô giáo khác và các năng lực cứu rỗi cũng đang hoạt động ngay trong các tôn giáo ngoài Kitô giáo. De Lubac muốn bảo tồn sự thật chứa đựng trong câu nói cũ extra Ecclesiam nulla salus [bên ngoài Giáo Hội không hề có ơn cứu rỗi], nhưng không diễn giải nó theo lối hạn hẹp, hiếu thắng và cuối cùng là thiếu bác ái. Tất cả những gì ngài có thể nói về khó khăn hiển nhiên mà sự thật này đưa ra đối với việc thực hành truyền giáo là Thiên Chúa, “muốn rằng mọi người được cứu rỗi, nhưng trên thực tế không để cho mọi người đều hiện diện hữu hình trong Giáo hội, tuy nhiên vẫn muốn rằng tất cả những ai đáp ứng ơn gọi của Người cuối cùng sẽ được cứu rỗi thông qua Giáo hội của Người. Sola Ecclesia gratia qua redimur [Giáo Hội là ơn thánh duy nhất nhờ đó chúng ta được cứu rỗi] ” (tr.234).

De Lubac đặc biệt đề cập đến hai vấn đề chính nảy sinh trong thời Trung Cổ: cách sử dụng sai lệch luận lý học của Aristốt và luật La Mã. Điều thứ hai đôi khi dẫn đến một quan điểm duy pháp lý trong việc giải thích các yếu tố của Giáo hội vốn rõ ràng là những mầu nhiệm đức tin. Điều trước, trong một số trường hợp, đã lập ra các phạm trù triết học chặt chẽ để xử lý các khái niệm, vốn cực kỳ hữu ích cho một số mục đích nào đó nhưng lại thiết lập gần như một loại triết học tương đương với khoa học duy vật hiện đại tập trung vào các khía cạnh riêng biệt của hiện hữu và loại bỏ loại cách tiếp cận hữu cơ cần thiết khi chúng ta giải quyết mối quan hệ vĩ đại không thể hệ thống hóa giữa Thiên Chúa và con người. Kết hợp lại với nhau, những chiều kích này của truyền thống Công Giáo, như de Lubac gợi ý ở đây và ở những nơi khác, đã để rộng cửa cho việc tách biệt một “bản nhiên” trừu tượng với các quy luật riêng của nó khỏi quan điểm phổ quát hơn về bản nhiên khi sáng thế thấm nhập qua lại ở mọi điểm với mầu nhiệm và ân sủng. Trong một chương về “Tình hình hiện tại”, ngài nói thêm rằng không chỉ những gì có tính thế tục triệt để mới xuất hiện từ những sự mất cân bằng này trong truyền thống Kitô giáo, mà việc thiếu chiều kích cộng đồng đã gây ra những hậu quả tai hại. Ngài trích lời Philippe de Régis, một nhà văn linh đạo mà ngài rõ ràng đồng ý với: “Có lẽ chủ nghĩa Mác và Lênin đã không ra đời và được truyền bá với những kết quả khủng khiếp như vậy nếu vị trí vốn thuộc về tính tập thể trong trật tự tự nhiên cũng như siêu nhiên luôn luôn đã được dánh cho nó” (tr.309).

De Lubac tin rằng một số biến dạng này đã nảy sinh trong cuộc đối đầu với phong trào Thệ Phản. Nếu Luther nhấn mạnh quyền tự do của Kitô hữu, thì người Công Giáo từ lâu đã phủ nhận điều đó. Những sai lầm của những người Cải cách là có thật, nhưng một Giáo hội quá nhấn mạnh tới vai trò, ở những khía cạnh khác là đúng đắn, trong tư cách người sửa chữa các sai lầm có hại đến các chức năng tích cực, truyền cảm hứng hơn của mình, sẽ đánh mất rất nhiều bản chất thiết yếu của Giáo hội. Dưới ánh sáng này, việc tránh sai lầm chỉ là một khởi điểm cho đời sống thiêng liêng. Thật không may, ngài ngụ ý một cách gián tiếp, một Giáo hội dàn trận đã trở thành một “phong trào Thệ Phản từ trong ra ngoài” và rút lui khỏi nhiều không gian xã hội để đi vào điều Giáo Hội tin tưởng một cách đúng đắn là giáo huấn đúng đắn nhưng cũng là một sự cô lập khỏi những nhiệm vụ lớn hơn mà Giáo hội phải luôn đổi mới từ thời này sang thời nọ để thực hiện đầy đủ sứ mệnh của mình. Khi rút lui khỏi một số tranh luận nào đó, Giáo hội đã để ngỏ lĩnh vực này cho “những người theo chủ nghĩa thế tục cương định”.

Đối với de Lubac, biện pháp khắc phục là “trở về nguồn”, việc “ressourcement” sẽ được biết rộng rãi hơn nhiều sau Công đồng Vatican II. Những nguồn đó không chỉ bao gồm Thánh Tôma (mặc dù cũng bao gồm cả ngài, trong giáo huấn đầy đủ và thích đáng của ngài), mà cả các Giáo phụ và nhiều người khác kể từ thời trăm hoa đua nở của tư tưởng Kitô giáo trung cổ. De Lubac lập luận rằng việc quay trở lại cội nguồn “sẽ hoàn toàn trái ngược với việc chạy trốn vào quá khứ đã chết” (tr.322). Bằng cách đánh giá cao trọn vẹn cách Giáo hội thống trị thế giới cổ thời và tự bảo tồn bằng cách thích nghi thích đáng với hoàn cảnh trong hai thiên niên kỷ hiện hữu của mình, chúng ta sẽ tìm thấy một dòng truyền thống sống động luôn trung thành, hữu hiệu và không ngừng tươi mát. Ngay cả thần học cũng phải tham gia vào truyền thống năng động này: “Vì mặc dù tín điều không thay đổi trong yếu tính, nhưng công việc của nhà thần học không bao giờ kết thúc” (tr.325). Và ngài nói thêm theo một cách gợi nhớ đến sự phân biệt của Đức Hồng Y Newman giữa sự đồng ý chiểu danh và sự đồng ý thực sự, “Ý tưởng hiệp nhất không phải là chính sự hiệp nhất” (tr. 342).

Thật không may, sau Công đồng Vatican II, nhiều người theo đạo đã hiểu sai sự nhấn mạnh mới về chiều kích xã hội trong sứ mệnh của Giáo hội. Họ chấp nhận nó—và thường quên mất rằng đó là sứ mệnh của Giáo hội. Hơn nữa, một số người bắt đầu khinh miệt các thực hành tôn giáo cũ, đặc biệt là việc họ thấy cần phải rút một số chức năng tôn giáo khỏi tầm nhìn của công chúng. Trong Giáo Hội Công Giáo, việc các đan sĩ đi vào sa mạc Ai Cập và việc các anh chị em thời hiện đại của họ đi vào các đan viện cũng cần thiết như việc cần có các nhà hoạt động xã hội. Giáo hội là tổng hợp mọi sự của con người. De Lubac đưa ra quan điểm khi trích dẫn cuốn sách của Joseph Maréchal về tâm lý học của các nhà huyền nhiệm (52) để chỉ ra rằng phong trào huyền nhiệm khi được hiểu một cách đúng đắn tự nó là một sự tham gia vào những niềm vui và nỗi buồn của Giáo hội trong thế giới và ngay cả cuộc sống ẩn dật của những người trong đan viện vẫn là một phần của cộng đồng. Thế giới cần sự tổng nhập này giữa sự sống trong Thiên Chúa và sự sống nơi trần thế, bởi vì nếu không thì nó phải lệ thuộc vào “chủ nghĩa nhân bản xã hội đó, vốn là giai đoạn hiện tại của nỗ lực vô vọng của con người nhằm tự cứu mình bằng những nỗ lực của chính mình” (tr.355). De Lubac không quan tâm đến việc điều này sẽ xuất hiện như thế nào đối với những người bị đánh lừa bởi các giải pháp sai lầm: “Khi xem xét khái niệm xã hội hoàn toàn thế tục hóa này, hiện tại đang thống trị tâm trí con người ở khắp mọi nơi và chỉ làm suy giảm những gì nó thừa hưởng từ đặc điểm lịch sử và xã hội của Đức tin chúng ta, chúng ta phải có can đảm để tỏ ra kiên quyết chống lại” (tr.357), theo nghĩa một số yếu tố trong quan điểm Kitô giáo không thể bị loại bỏ chỉ trừ bởi bởi các chế độ bạo ngược và bùng phát toàn trị một đàng, và đàng khác bởi chủ nghĩa cá nhân triệt để và các quyền tự do trống rỗng. Ở đây, De Lubac đề cập đến tầm nhìn sâu sắc hơn nằm sau tác phẩm tuyệt vời của ngài, cuốn The Drama of Atheist Humanism [Bi kịch của Thuyết Nhân Bản Vô Thần]. (53) Trái với suy nghĩ của nhiều người sau Công đồng, Giáo hội không có câu trả lời chính trị hoặc chính sách cho mọi vấn đề chúng ta gặp phải trong thế giới hiện đại. Giáo Hội không đưa ra, giống như các nhà ý thức hệ hiện đại thuộc mọi sắc thái, những điều không tưởng lừa dối và nô lệ hóa, nhưng Giáo Hội cung cấp hậu cảnh không thể thiếu trong đó các quyết định có thể được đưa ra nhằm nâng cao phẩm giá hơn là hạ thấp nhân loại.

Khía cạnh gây tranh cãi nhất trong tư tưởng của de Lubac đối với nhiều nhà thần học liên quan đến mối quan hệ của ngài với tư tưởng của Thánh Tôma và đặc biệt hơn là quan điểm của ngài về tự nhiên và ân sủng. De Lubac có tình bạn thân thiết với Étienne Gilson trong nhiều thập niên. Mặc dù có những điểm khác biệt, nhưng họ đã thống nhất với nhau trong mong muốn sửa chữa điều mà cả hai đều cho là sự xuyên tạc về Công Giáo cũng như về học thuyết Tôma. Trong một bức thư được công bố gửi cho de Lubac năm 1956, nhà triết học này phàn nàn: “Người ta gợi lên một học thuyết Tôma theo cách thức của các Trường phái, một loại chủ nghĩa duy lý buồn tẻ chiều theo kiểu duy thần [deism] mà hầu hết họ, tự thẳm sâu thâm tâm, thực sự thích giảng dạy hơn.” (54) De Lubac cũng phản đối tương tự trong một bức thư gửi cho một người buộc tội ngài chống lại Thánh Tôma rằng “các phân tích của tôi hầu như không làm được gì hơn là đưa Thánh Tôma vào tiếng Pháp.” (55) Điều này đúng ngay cả khi de Lubac cho rằng thừa nhận bản chất con người hoàn toàn tách rời khỏi Thiên Chúa và ân sủng của Người là một giải thích sai lầm về Thánh Tôma và về quan điểm của Công Giáo. Cả ngài lẫn Gilson đều trích dẫn Thánh Tôma về điểm này: “Omnis Intellectus naturaliter desiderat divinae subsantiae visionem [mọi trí hiểu tự nhiên muốn được chiêm ngưỡng bản thể Thiên Chúa]” (Summa Contra Gentiles I, 3, 57, 4). Rõ ràng, điều này cho thấy trí hiểu con người, không tự khép kín vào chính nó theo cách tự nhiên chủ nghĩa, như trong triết học duy lý thuần túy, mà đúng hơn, trong tư cách một tạo vật của Thiên Chúa, luôn sẵn sàng đón nhận khả thể ân sủng. Và sự thật thứ hai phải được phối hợp với sự thật này “quid vero sit (Deus), penitus manet incognitum [việc Người (Thiên Chúa) là gì vẫn mãi không được biết đến]”, (Contra Gentiles, I, 3, 49, 7), nghĩa là chúng ta bất lực trong việc biết bất cứ điều gì về Thiên Chúa là ai, nếu không có sự trợ giúp của ân sủng thần linh.

Cuộc tranh luận giữa một bên là de Lubac và những người theo ngài, và bên kia là những người theo chủ nghĩa Tân Tôma thuộc nhiều khuynh hướng khác nhau, về ân sủng và tự nhiên, là một trong những cuộc đối thoại thần học đáng lưu ý và sâu sắc nhất của thế kỷ XX. Và nó tiếp tục vào thế kỷ 21. Bất chấp hơn nửa thế kỷ tranh cãi (cuốn Surnaturel: Études historiques [Siêu nhiên: Các Nghiên cứu Lịch sử] của de Lubac xuất bản năm 1946), hai phe vẫn chưa giải quyết được sự khác biệt của họ, nhưng chính sự can dự của nhau đã làm xuất hiện một số vấn đề quan trọng mà ngay cả khi không đạt được thỏa thuận, đã đơm hoa kết trái.

Mối quan hệ giữa tự nhiên và ân sủng từ lâu đã là một trong những câu hỏi gây tranh cãi nhất trong thần học, nhất là vì nó không phải là một vấn đề mà là một mầu nhiệm. Tuy nhiên, có một số khởi điểm chung trong thần học Kitô giáo chính thống. Tất cả các tín hữu chính thống đều chấp nhận rằng tự nhiên được Thiên Chúa tạo dựng và do đó giữ lại một số mối quan hệ thiết yếu với Người. Đồng thời, tự nhiên - hay sáng thế - có quyền tự chủ tương đối do Thiên Chúa muốn trong chính hành động Sáng tạo, và sự vật trong bản chất cá nhân của chúng và trật tự của vũ trụ nói chung có thể được khoa học nghiên cứu và hiểu theo một viễn ảnh nào đó khác với các xem xét thần học, trong quá khứ đôi khi đã cản trở việc đánh giá đúng đắn thế giới mà Thiên Chúa thực sự tạo ra như trái ngược với thế giới mà một số nhà thần học tin rằng Người đã tạo ra. Hơn nữa, trong trường hợp con người, vì được tạo dựng như những tạo vật có lý trí, chúng ta có cùng đích tự nhiên giống như các tạo vật khác và cùng đích siêu nhiên chỉ có thể đạt được nhờ ân sủng, nghĩa là, một hồng phúc do Thiên Chúa ban nhưng không. Chính trong cuộc hội tụ nơi con người này giữa tự nhiên và siêu nhiên đã nảy sinh những khó khăn lớn về mặt thần học.

Cuộc tranh luận giữa de Lubac và những người theo chủ nghĩa Tân Tôma chủ yếu xoay quanh điều mà chính Thánh Tôma gọi là desiderium naturale visionis Dei - khao khát tự nhiên được nhìn thấy Chúa. Nói một cách đơn giản, (56) dường như chúng ta có một ước muốn tự nhiên đối với một điều gì đó siêu nhiên. Theo một cách đọc Thánh Tôma - truyền thống bắt đầu từ khoảng thế kỷ 16 trong "Chủ nghĩa kinh viện thứ hai" - ý tưởng về "bản chất thuần túy" được đưa ra theo cách giả định, sau đó được phát triển xa hơn, ít nhất là đối với de Lubac và những người theo ngài, quan điểm thực sự của học thuyết Tôma đã mất đi. Quan điểm của phái Tân Tôma là ước muốn tự nhiên phải có khả năng tìm thấy sự thỏa mãn của nó trong những gì “tương xứng” với nó trong bản nhiên, như Thánh Tôma thường diễn đạt điều đó. Vượt quá sự không mạch lạc trí thức mà quan điểm của de Lubac dường như đã tạo ra, nỗi sợ hãi của họ dường như là nếu có một “ước muốn tự nhiên” được hưởng Phúc Kiến [beatific Vision] vốn cố hữu trong bản chất con người, thì hồng ân hạnh phúc siêu nhiên nhưng không nhờ ân sủng sẽ bị phá hủy và thậm chí con người có thể được cho là có một số loại “quyền” tự nhiên đối với hạnh phúc đời đời. Ngoài ra, quan điểm như vậy có thể làm suy yếu hoặc thậm chí làm lu mờ các nguyên tắc luật tự nhiên cần thiết cho một trật tự đạo đức khách quan và cho việc tổ chức đúng đắn xã hội loài người.

Theo de Lubac, đây là một cách đọc bị cắt xén của Thánh Tôma, một cách đọc đã góp phần tạo ra phái Tân Tôma khô khan của thời gian gần đây và tạo điều kiện thuận lợi cho khái niệm về một lĩnh vực thế tục thuần túy, mà trong năm trăm năm qua đã thoái hóa thành một chủ nghĩa nhân bản thế tục tai hại và thậm chí còn khiến Giáo hội xa rời mầu nhiệm Nhập thể: “Điều mà tôi đã hơn một lần tiếc nuối nơi các nhà thần học được đánh giá cao, những người bảo vệ đầy kinh nghiệm, không hẳn, như những người khác đã chỉ ra, vì họ thiếu cởi mở với các vấn đề và các trào lưu tư tưởng đương thời cho bằng vì họ thiếu một đầu óc truyền thống thực sự (hơn nữa, hai điều này có liên hệ với nhau).” (57) Như đã đề cập, quan niệm về truyền thống của ngài có nghĩa là đọc Thánh Tôma theo sự liên tục với các Giáo phụ đầu tiên và những người khác đi trước ngài; các nhà phê bình của de Lubac có xu hướng đọc Thánh Tôma dưới ánh sáng của truyền thống bình luận mà tác phẩm của ngài thường làm phát sinh. (58) De Lubac chỉ ra một số chỗ trong tác phẩm của Thánh Tôma khi ngài nói rằng bản chất con người, được tạo ra theo hình ảnh Thiên Chúa, có một khao khát tự nhiên về Thiên Chúa, ngay cả khi nó không thể tự thỏa mãn khao khát đó. Thí dụ, “Ngay từ buổi đầu của sự sáng tạo, bản chất con người đã được xếp đặt để hưởng phước hạnh [beatitude], không phải như một cùng đích dành riêng cho con người theo bản nhiên của họ, mà chỉ được ban cho họ bởi lòng hảo tâm của Thiên Chúa. Do đó, các nguyên tắc của tự nhiên không cần phải có đủ sức mạnh để đạt được mục đích đó mà không có sự trợ giúp của những hồng phúc đặc biệt mà Thiên Chúa đã quảng đại bổ sung cho chúng” (De Veritate q. 14, a. 10 ad 2).

Đối với de Lubac, điều này có nghĩa là Thiên Chúa đã tạo nên một bản chất như vậy, không phải một sức mạnh siêu nhiên, mà là một tiềm năng tiếp nhận nào đó, nghĩa là khả năng nhận ra rằng điều thực sự khiến chúng ta hạnh phúc là điều chúng ta không thể tự đạt được hoặc tự biết được hoặc thậm chí tự hoàn toàn dự đoán được. Từ quan điểm của phái Tân Tôma, điều này có vẻ khá gần với việc nói rằng chúng ta có một sức mạnh siêu nhiên “tự nhiên” (mặc dù một số đại diện của truyền thống này đã thừa nhận rằng có một xung đột trong các bản văn của học thuyết Tôma không dễ gì hòa giải được.) (59) Một điều chắc chắn tốt là ý tứ khi ám chỉ bất cứ điều gì thuộc loại này; nói chung, de Lubac đã nhận thức được và bác bỏ cách giải thích tác phẩm của mình như thế. Tuy nhiên, toàn bộ truyền thống Kitô giáo cũng chứa đựng những lời khẳng định như thế trong Sách Giáo lý hiện đại của Giáo Hội Công Giáo: “Lòng khao khát Thiên Chúa được khắc ghi trong lòng con người, bởi vì con người được tạo dựng bởi Thiên Chúa và cho Thiên Chúa; và Thiên Chúa không ngừng lôi kéo con người đến với Người” (Sách Giáo lý của Giáo Hội Công Giáo, số 27). Một số nhà bình luận đã đúng khi nói thêm rằng, ít nhất là về bản chất con người, điều này có nghĩa là khi Thiên Chúa, cuối cùng, tự mạc khải Người trong Chúa Kitô, thì Người cũng mạc khải bản chất của bản nhiên. Để bản chất con người thuần khiết trong chính nó, dù chỉ là giả thuyết, cũng sẽ khó hiểu như việc phần nào đó mở nó ra đón nhận những gì vượt quá nó.

Tác phẩm của De Lubac dường như chỉ ra sự thật này là có hai ân ban trong bản chất con người: ân ban thứ nhất là chính hữu thể, và là loại hữu thể giúp tiếp nhận ân ban thứ hai, ân sủng của cuộc sống vĩnh cửu, như một điều gì đó theo cách “tự nhiên”, một điều gì đó bất ngờ nhưng cũng được mong đợi một cách nghịch lý, chứ không chỉ là một tia chớp bất chợt. Chưa hết: “Sự kiện bản chất của hữu thể thiêng liêng, như nó thực sự hiện hữu, không được quan niệm như một trật tự định sẵn để cuối cùng tự khép lại vào chính nó, nhưng phần nào mở ra cho một mục đích nào đó có tính siêu nhiên, không có nghĩa là nó đã có trong chính nó yếu tố siêu nhiên tích cực nhỏ nhoi nhất, hoặc như một phần trong căn bản của nó.” (60) Vì vậy, ngay cả khi có hai mục đích trong bản chất con người, một tự nhiên và một siêu nhiên, cả hai đều có thể tìm thấy tiềm năng trong chính bản chất con người trước việc xuất hiện thực sự của ân sủng Thiên Chúa cần thiết để nâng bản chất kia lên mức phước hạnh mà nếu không nó không thể đạt được.

Từ giữa thế kỷ 20, đôi khi người ta tin rằng thông điệp Humani Generis [Nhân loại] năm 1950 của Đức Piô XII đã ngầm chỉ trích toàn bộ dự án của de Lubac. (61) Và có bằng chứng cho thấy điều này là như vậy, theo nghĩa, sau khi thông điệp xuất hiện, việc giảng dạy của de Lubac đã bị cắt giảm và những cuốn sách của ngài đã bị Dòng Tên loại bỏ khỏi thư viện. Trong cuốn sách nhỏ về de Lubac của ngài, Hans Urs von Balthasar thuật lại rằng, vào cuối đời, de Lubac bày tỏ hy vọng viết một tác phẩm thần học toàn diện “sẽ ít có tính hệ thống hơn các sách giáo khoa nhưng thấm đẫm truyền thống hơn, tích hợp các yếu tố giá trị trong kết quả của khoa chú giải hiện đại, của giáo phụ học, phụng vụ, lịch sử, suy tư triết học.... Tiếng sét từ của Humani generis đã giết chết dự án.” (62) Nhưng chính de Lubac sau đó đã chỉ ra rằng trong thông điệp đó, Đức Piô XII đã chỉ trích những người “phá hủy tính nhưng không của ân sủng” và đặt lên Thiên Chúa việc tất yếu phải ra lệnh và kêu gọi mọi tạo vật có trí hiểu đến Phúc Kiến. Bản thân ngài không có quan điểm như vậy và mô tả thông điệp là “rất khác so với những gì một số người đã dự kiến: nó thậm chí còn gây ra một số thất vọng cho họ.... Không phải ngẫu nhiên mà nó tránh bất cứ việc nhắc đến ‘bản chất thuần khiết’ nổi tiếng nào mà một số nhà thần học có vị thế cao đang buộc tội tôi là hiểu sai và là điều họ muốn phong thánh cho.” (63) Trong viễn ảnh lâu dài hơn, ngài xem ra đúng; chắc chắn những nhân vật thống trị trong nền thần học Công Giáo sau này và vị thế cao của de Lubac đối với một số vị giáo hoàng sau đó cho thấy ngài không thiếu những người ủng hộ (Đức Gioan Phaolô II phong ngài làm Hồng Y năm 1983). Nhưng trong hàng chục năm giữa Humani Generis và phiên họp đầu tiên của Công đồng Vatican II, tương lai còn nhiều bất định.

______________________________________________________________________________________________________

[*]Mazdakism [đạo Mazdak] là một tôn giáo Ba Tư, con đẻ của đạo Zoroaster, có người coi là tiền thân của chủ nghĩa cộng sản.

Ghi Chú

1 Trích dẫn trong Raymond Kerrison, Bishop Walsh of Maryknoll: A Biography [Raymond Kerrison, Giám Mục Maryknoll: Tiểu sử] (New York: Putnam, 1962), 13.

2 Đã có một số tranh cãi về những từ ngữ chính xác mà Đức Phaolô VI đã sử dụng trong dịp này vì bài giảng cho đến nay chỉ được công bố trên trang web của Vatican dưới hình thức một báo cáo của một người có mặt, người vừa tóm tắt vừa trích dẫn Đức Giáo Hoàng. Nhưng bất kể sự không chắc chắn hoặc thiếu chính xác có thể hiện hữu, không ai ở vị trí hiểu biết được phủ nhận tường thuật căn bản.

3 Lúc đó, Joseph Ratzinger trẻ tuổi đã nhận xét rằng “nhiệm vụ thực sự đầu tiên của Công đồng là vượt qua cảm giác biếng nhác, hưng phấn cho rằng mọi việc đều tốt đẹp với Giáo hội” và xử lý với một loại “chứng loạn thần kinh chống chủ nghĩa hiện đại”: Joseph Ratzinger, Theological Highlights of Vatican II [Những điểm nổi bật về thần học của Vatican II], bản dịch của Henry Traub, S.J., Gerard C. Thormann, và Werner Barzel (New York: Paulist Press, 1966), 83 và 11. Cuốn sách này là sự tổng hợp bốn báo cáo ngắn mà Ratzinger viết vào cuối mỗi phiên trong số bốn phiên họp (1962 đến 1965) của Công đồng.

4 Được trích dẫn trong Philip J. Rosato, S.J., “Ad Limina Apostolorum in Retrospect” [Nhìn Trở lui chuyến Viếng Mộ Các Tông Đồ], trong Stephen Sykes, chủ biên, Karl Barth: Centenary Essays [Karl Barth: Các Tiểu luận kỷ niệm một trăm năm] (Cambridge và New York: Nhà xuất bản Đại học Cambridge, 1989), 91.

5 Được trích dẫn trong Fergus Kerr, O.P., “French Theology: Yves Congar and Henri de Lubac” [Thần học Pháp: Yves Congar và Henri de Lubac], trong David Ford, chủ biên, The Modern Theologians: An Discussion to Christian Theology in the Twentieth Century [Các Thần học gia Hiện đại: Một cuộc Thảo luận về Thần học Kitô giáo trong Thế kỷ Hai mươi](Cambridge, Mass.: Blackwell, 1997), 116.

6 Henri de Lubac, S.J., The Drama of Atheist Humanism [Thảm kịch của chủ nghĩa nhân bản vô thần] bản dịch của. Edith M. Riley, Anne Englund Nash, và Mark Sebanc (San Francisco: Ignatius Press, 1995), từ ấn bản thứ 7 tiếng Pháp, 1944.

7 Lần đầu tiên ngài sử dụng cụm từ này trong thông điệp Evangelium Vitae năm 1995.

8 Cuốn Surnaturel: Études historiques [Siêu nhiên: Các Nghiên cứu Lịch sử] xuất bản năm 1946 của ngài là nền tảng cho sự phê bình này, điều mà ngài và những người khác tiếp tục trong các tác phẩm khác. Những người theo chủ nghĩa Tôma theo phong cách truyền thống hơn đã tranh luận rất nhiều về quan điểm của ngài. Để có mẫu đại diện, xem Serge-Thomas Bonino, O.P., chủ biên, Surnaturel: A Controversy at the Heart of Twentieth-Century Thomistic Thought [Siêu nhiên: Cuộc Tranh cãi ở Tâm điểm Tưu tưởng của phái Tôma Thế kỷ 20] (Naples, Fla.: Sapientia Press of Ave Maria University, 2009).

9 Xem Robin Darling Young, “An Imagined Unity: Henri de Lubac the Ironies of Res-sourcement” [Sự Hiệp nhất tưởng tượng: Henri de Lubac Các Nghịch lý của Về Nguồn], Commonweal, ngày 4 tháng 9 năm 2012.

10 Xem Hans Urs von Balthasar, Truth Is Symphonic: Aspects of Christian Pluralism, [Sự thật có tính giao hưởng] bản dịch của Graham Harrison (San Francisco: Ignatius Press, 1987).

11 Thí dụ, xem Gertrude Himmelfarb, Marriage and Morals among the Victorians: Essays [Hôn nhân và đạo đức của người thời Victoria: Các tiểu luận (Chicago: I. R. Dee, 2001).

12 Gioan Phaolô II, Man and Woman He Created Them: A Theology of the Body [Đàn Ông và Đàn Bà Người đã Tạo dựng Họ: Thần học về Thân xác], bản dịch của Michael M. Waldstein (Boston: Pauline Books & Media, 2006).

13 Reginald Garrigou-Lagrange, “La nouvelle théologie, où va-t-elle?” [Tân thần học đi về đâu?], Angelicum 23 (1946): 126-45.

14 Về mặt lý thuyết, những điều này được đề xuất chứ không áp đặt, nhưng trên thực tế, chúng đòi hỏi phải tuân theo một triết lý có tính sơ đồ cao, được đúc kết một cách tuyệt đối khác xa với cuộc điều tra bỏ ngỏ của chính Tôma.

15 “Đức Piô X đã thực hiện các biện pháp quyết liệt để ngăn chặn những sự phát triển tương tự [tức là Tin Lành tự do] trong thần học Công Giáo nhằm ngăn chặn tình trạng làm nghèo tương tự bản chất đức tin, nhưng điều này không giải quyết được vấn đề”: Ratzinger, Theological Highlights [Những điểm nổi bật về thần học], 99.

16 Xem chương 6.

17 Đức Piô IX đã nói trong Danh sách Các Sai Lạc của ngài rằng trong số đó có ý tưởng cho rằng “Giáo hoàng La Mã có thể và phải tự hòa giải và đồng ý với sự tiến bộ, chủ nghĩa tự do và nền văn minh hiện đại”. Trong hoàn cảnh này, có vẻ như sự lên án sâu rộng này không nhằm mục đích phản đối chung mà đúng hơn là một phản ứng trước sự tàn phá của nhà nước mới của Ý.

18 Đáng chú ý là trong bài báo “La nouvelle théologie” [nền thần học mới], 143. Ngài đã trả lời câu hỏi của chính mình: “Nó đang quay trở lại Chủ nghĩa Hiện đại”.

19 Hans Urs von Balthasar, The Glory of the Lord: A Theological Aesthetics, Vol.5: The Realm of Metaphysics in the Modern Age [Vinh quang của Chúa: Thẩm mỹ thần học], tập. 5: Lãnh vực siêu hình học trong thời hiện đại] Bản dịch của Oliver Davies và cộng sự. (San Francisco: Ignatius Press, 1991), 26-27.

20 Bản thân Thánh Tôma không phải là không biết về chiều hướng lịch sử; Fergus Kerr, “French Theology”, [Thần học Pháp], 185, nhấn mạnh ST I-II, q. 106, và những văn bản khác có thể được áp dụng, như một số nhà thần học mới hơn đã làm.

21 Garrigou-Lagrange, “Nouvelle théologie” [Thần học mới], 126-45. Bản dịch tiếng Anh. tại www.traditionalcatholicmass.com/home-m109.html.

22 Aidan Nichols, O.P., Reason with Piety: Garrigou-Lagrange in the Service of Catholic Thought [Lý do với lòng đạo đức: Garrigou-Lagrange phục vụ tư tưởng Công Giáo] (Washington, D.C.: Nhà xuất bản Đại học Công Giáo Hoa Kỳ, 2009), viii.

23 Aidan Nichols, O.P., “Thomism and the Nouvelle Théologie” [Thuyết Tôma và Thần học Mới], The Thomist 64 (2000): 17.

24 Romano Guardini, The Lord [Chúa], bản dịch của Elinor Castendyk Briefs (Washington, D.C.: Regnery, Gateway Editions, 2000).

25 Letter to Sally Fitzgerald [Thư gửi Sally Fitzgerald], ngày 28 tháng 8 năm 1955, trong The Habit of Being: The Letters of Flannery O’Connor [Thói quen của Hữu thể: Những lá thư của Flanne ry O'Connor], chủ biên Sally Fitzgerald (New York: Farrar, Straus & Giroux, 1979), 99.

26 Romano Guardini, The End of the Modern World [Ngày tận cùng của thế giới hiện đại], bản dịch của Joseph Theman và Herbert Burke (Chicago: Regnery, 1968).

27 Cùng nguồn, 24-25.

28 Cùng nguồn, 25.

29 Cùng nguồn, 26.

30 Cùng nguồn, 30.

31 Cùng nguồn, 59.

32 Cùng nguồn, 55.

33 Cùng nguồn, 109.

34 Cùng nguồn, 108.

35 Cùng nguồn, 109.

36 Cùng nguồn,

37 Cùng nguồn, 107.

38 Cùng nguồn, 123-24.

39 Cùng nguồn, 129.

40 Cùng nguồn, 130-31.

41 Cùng nguồn, 131.

42 Để biết thêm thông tin về tình tiết này, xem Fergas Kerr, Twentieth-Century Catholic Theologians [Các nhà thần học Công Giáo thế kỷ 20] (Oxford: Blackwell, 2007), và ấn bản sao của Une école de théologie: Le Saulchoir [Trường thần học: le Saulchoir](Paris: Cerf, 1985)..

43 Chẳng hạn, xem Jean-Pierre Torrell, O.P., Saint Thomas Aquinas, vol. 2: Spiritual Master [Thánh Tôma Aquinô, tập. 2: Thầy tâm linh], Bản dịch của Robert Royal (Washington, D.C.: Nhà xuất bản Đại học Công Giáo Hoa Kỳ, 2003).

44 Nó xuất hiện bằng tiếng Pháp, sau một số vụ xung đột với chính quyền vào năm 1950, và bằng tiếng Anh: Towards Understanding Saint Thomas [Hướng tới sự hiểu biết về Thánh Tôma], Bản dịch của A.-M. Landry và D. Hughes (Chicago: Regnery, 1964).

45 Xem R. R. Reno, “Theology after the Revolution” [Thần học sau cuộc cách mạng], tạp chí First Things, tháng 5 năm 2007.

46 Đặc biệt qua cuốn sách Jalons pour une théologie du laïcat [Những cột mốc quan trọng đối với nền thần học giáo dân] (Paris: Cerf, 1953); bằng tiếng Anh, Lay People in the Church: A Study for the Theology of the Laity [Giáo dân trong Giáo hội: Nghiên cứu Thần học về Giáo dân] bản dịch của Donald Attwater, ấn bản duyệt lại lần thứ 2 (Westminster, Md.: Newman Press, 1965).

47 Nhà thần học người Mỹ Avery Dulles, S.J., đã đưa ra cách diễn đạt đầy ảnh hưởng đối với những ý tưởng bắt đầu được lưu hành sau Công đồng trong cuốn Models of the Church [Các Mô hình Giáo hội] của ngài (Garden City, N.Y.: Doubleday, 1974).

48 Điều tò mò là cuốn sách có phụ đề khác nhau bằng tiếng Pháp và tiếng Anh. Phụ đề của ấn bản tiếng Pháp là Les aspects sociaux du dogme [các khía cạnh xã hội của tín điều] (Paris: Éditions du Cerf, 1947), trong khi phụ đề tiếng Anh gợi ý một điều gì đó hoàn toàn khác: Christ and the Common Destiny of Man [Chúa Kitô và Số phận chung của con người], bản dịch của Lancelot C. Sheppard và Sơ Elizabeth Englund, O.C.D. (San Francisco: Nhà xuất bản Ignatius, 1988). Ấn bản tiếng Anh đầu tiên xuất hiện vào năm 1950.

49 Cùng nguồn, 191. Các tham chiếu đến các trang trong ấn bản năm 1988 này sau đây sẽ xuất hiện trong văn bản chính.

50 Cuốn sách trễ của Henri de Lubac về nhà nhân bản thời Phục hưng Pico della Mirandola lập luận quan điểm này: Pic de la Mirandole [Đỉnh Mirandola] (Paris: Aubier Montaigne, 1974).

51 Ađam là một linh mục và nhà thần học giảng dạy tại Đại học Tübingen. The Spirit of Catholicism [Tinh thần đạo Công Giáo] xuất hiện lần đầu tiên bằng tiếng Đức vào năm 1924 và đã được dịch sang nhiều ngôn ngữ, trong đó có hơn mười ấn bản tiếng Anh.

52 Joseph Maréchal, The Psychology of the Mystics [Tâm lý học của các nhà huyền nhiệm], Bản dịch của Algar Thorold, Dover Books on Western Philosophy (Mineola, N.Y.: Dover Books, 2004), là một ấn bản tiện lợi gần đây.

53 De Lubac, Drama of Atheist Humanism [Bi kịch của chủ nghĩa nhân bản vô thần].

54 Letters of Étienne Gilson to Henri de Lubac [Các bức thư của Étienne Gilson gửi Henri de Lubac], Bản dịch của Mary Emily Hamilton (San Francisco: Ignatius Press, 1988), 23.

55 Cùng nguồn, 35 ghi chú 7.

56 Cuộc tranh luận rất phức tạp và tế nhị này không thể được mô tả lại đầy đủ ở đây. Một bản tóm tắt hay của người bảo vệ de Lubac là Nicholas J. Healy, “Henri de Lubac on Nature and Grace: A Note on Some Recent Contributions to the Debate” [Henri de Lubac về Tự nhiên và Ân sủng: Ghi chú về Một số Đóng góp Gần đây cho Cuộc tranh luận], Communio 35 (Mùa đông 2008): 535-64. Trong số những thách thức mạnh mẽ nhất gần đây đối với de Lubac là Lawrence Feingold, The Natural Desire to See God according to St. Thomas Aquinas and His Interpreters [Ước muốn tự nhiên được nhìn thấy Chúa theo Thánh Tôma Aquinô và những người giải thích ngài] (Rome: Apollinare Studi, 2001); Stephen A. Long, “On the Loss, and Recovery, of Nature as a Theonomic Principle: Reflections on the Nature / Grace Controversy” [Về sự mất mát và phục hồi của Tự nhiên như một Nguyên tắc Thần học: Những suy tư về cuộc Tranh cãi Tự nhiên / Ân sủng], Nova et Vetera 5 (2007): 133-83; và của cùng một tác giả, “On the Possibility of a Purely Natural End for Man” [Về khả thể một Cùng đích hoàn toàn tự nhiên đối với con người], The Thomist 64 (2000): 211-37. Một tuyển tập hay các bài tiểu luận có thiện cảm với de Lubac có thể được tìm thấy ở Bonino, Surnaturel [siêu nhiên].

57 Henri de Lubac, At the Service of the Church [Phục vụ Giáo hội], bản dịch của Anne Englund Nash (San Francisco: Ignatius Press, 1993), 145.

58 Healy, “Henri de Lubac”, lưu ý rằng Feingold đặc biệt áp dụng cách tiếp cận này.

59 Xem Long, “On the Loss”, 137, và Henry Donneaud, “Surnaturel through the Fine-Tooth Comb of traditional Thomism” [Siêu nhiên qua Chiếc lược mịn răng của thuyết Tôma truyền thống], trong Bonino, Surnaturel, 41-57.

60 Henri de Lubac, S.J., The Mystery of the Supernatural [Mầu nhiệm Siêu nhiên], bản dịch của Rosemary Sheed, Milestones trong Catholic Theology (New York: Crossroad, 1998), 31.

61 Muốn có tường thuật về các sự kiện trước và sau khi thông điệp xuất hiện, xem Aidan Nichols, O.P., “Thomism and the nouvelle théologie” [thuyết Tôma và Thần học Mới], The Thomist 64 (2000): 1-19.

62 Hans Urs von Balthasar, The Theology of Henri de Lubac: An Overview [Thần học của Henri de Lubac: Một cái nhìn Tổng quan] (San Francisco: Ignatius Press, 1991), 10-11.

63 Henri de Lubac, Theology in History [Thần học trong Lịch sử], bản dịch của Anne Englund Nash (San Francisco: Ignatius Press, 1996), 281.
 
VietCatholic TV
Cứu nguy Kyiv, Anh giao vũ khí lợi hại DragonFire. Johnson thuyết phục Trump. Nga đào ngũ hàng loạt
VietCatholic Media
04:09 14/04/2024


1. Ukraine có thể nhận được tia laser 'DragonFire' công suất cao mới tinh

Tờ Newsweek cho biết như trên trong bài tường trình nhan đề “Ukraine May Get New High-Power 'DragonFire' Laser”. Xin kính mời quý vị và anh chị em theo dõi bản dịch sang Việt Ngữ qua phần trình bày của Kim Thúy.

Ukraine có thể chuẩn bị nhận các nguyên mẫu vũ khí laser công suất cao “DragonFire” của Vương quốc Anh vì nước này vẫn ở thế phòng thủ sau hơn hai năm bị Nga xâm lược.

Vương quốc Anh đã phát triển vũ khí năng lượng định hướng trong hơn bảy năm và tiến hành thử nghiệm thành công lần đầu tiên bắn vào mục tiêu trên không vào tháng Giêng. Bộ Quốc phòng Anh cho biết DragonFire đủ chính xác để tấn công đồng xu 1 bảng Anh, có đường kính tương tự đồng 25 xu Mỹ, từ khoảng cách xấp xỉ 1 km hoặc 0,6 dặm.

Loại vũ khí này dự kiến sẽ không được tung ra thị trường cho đến năm 2027. Dù vậy, áp lực ngày càng gia tăng buộc Vương quốc Anh phải đẩy nhanh tiến độ và cung cấp tia laser cho Ukraine sau khi phát hành một đoạn video cho thấy nó hoạt động vào tháng trước, nghị sĩ Ukraine Oleksiy Goncharenko cho biết như trên và nhấn mạnh với Newsweek rằng Ukraine đã “sẵn sàng thử nghiệm” DragonFire trên chiến trường.

Bộ trưởng Quốc phòng Anh Grant Shapps nói với các phóng viên hôm thứ Năm rằng Vương quốc Anh đang cố gắng “tăng tốc” phát triển DragonFire và có khả năng giao nó cho Kyiv trước khi nó được thử nghiệm đầy đủ, với lý do tác động mà nó có thể gây ra đối với cuộc chiến bằng cách giảm đáng kể chi phí cho Ukraine trong các hoạt động phòng không – DragonFire được đánh giá là phương pháp hiệu quả để tiêu diệt máy bay không người lái của Nga với chi phí thấp nhất, tờ Kyiv Post đưa tin.

Shapps nói: “Điều tôi muốn làm là đẩy nhanh quá trình thường rất dài, có thể lên tới 10 năm, xuống khung thời gian ngắn hơn nhiều và triển khai nó, có thể trên tàu và có thể trên đất liền”. “Những gì chúng tôi đang diễn ra ở đây rất đặc biệt và ở một đẳng cấp mà các quốc gia khác khó có thể bắt chước được…Bản thân sản phẩm này thực sự đã đi trước nhiều năm.”

Ông nói thêm: “Có thể nói rằng nó không cần phải hoàn hảo 100% thì người Ukraine mới có thể chạm tay vào nó. Tính đến thời điểm này, năm 2027 vẫn là thời điểm, nhưng tất nhiên, tôi sẽ xem chúng ta có thể làm gì để tăng tốc nó.”

Nếu DragonFire được gửi tới Ukraine và chứng tỏ là một vũ khí hiệu quả trên chiến trường, nó có thể giảm đáng kể gánh nặng tài chính cho hệ thống phòng không của Kyiv, vì chính phủ Anh ước tính chi phí khoảng 10 bảng Anh (khoảng 12 Mỹ Kim) cho mỗi lần bắn.

Để so sánh, mỗi hỏa tiễn đánh chặn Patriot do Mỹ sản xuất mà Ukraine sử dụng rất nhiều trong cuộc chiến với Nga có chi phí sản xuất khoảng 4 triệu Mỹ Kim. Từ 4 triệu Mỹ Kim giảm xuống còn 12 Mỹ Kim là một bước đại nhảy vọt.

Với điều kiện DragonFire hoạt động như mong đợi, tia laser cũng có thể được chứng minh là có khả năng bắn trúng các mục tiêu chuyển động nhanh hơn hỏa tiễn đánh chặn, vốn có nhược điểm là không thể di chuyển với tốc độ ánh sáng.

Tuy nhiên, việc chuyển giao vũ khí cho Ukraine trước khi nó được phát triển hoàn chỉnh và hy vọng nó sẽ thay đổi cục diện cuộc chiến có thể là một nhiệm vụ khó khăn.

Quân đội Hoa Kỳ đã phát triển vũ khí laser và các loại vũ khí năng lượng định hướng khác trong nhiều thập kỷ, thậm chí đã bắn hạ thành công máy bay không người lái trong các cuộc thử nghiệm, nhưng vẫn chưa thực sự triển khai bất kỳ loại vũ khí nào trong chiến đấu.

2. Hà Lan phân bổ thêm 1,5 tỷ Mỹ Kim viện trợ cho Ukraine

Tổng thống Volodymyr Zelenskiy ngày 12 Tháng Tư cho biết Hà Lan đã phân bổ thêm 1 tỷ euro hay 1,1 tỷ Mỹ Kim viện trợ quân sự và 400 triệu euro hay 425 triệu Mỹ Kim để tái thiết.

Dưới thời Thủ tướng Rutte, Hà Lan đóng vai trò chủ động hỗ trợ Ukraine, dẫn đầu liên minh chiến binh và cam kết cung cấp 24 máy bay F-16 cho Ukraine.

Zelenskiy cho biết, đợt viện trợ mới được cung cấp trong khuôn khổ thỏa thuận an ninh song phương 10 năm giữa các nước, được ký ngày 1 Tháng Ba tại Kharkiv.

“Cảm ơn Mark, cảm ơn người dân Hà Lan! Đây là một trường hợp mẫu mực về việc ủng hộ Ukraine”, tổng thống cho biết của mình.

Trong cuộc gọi, các bên đã thảo luận về sự hợp tác sâu hơn giữa Ukraine và Hà Lan trong việc đẩy nhanh việc cung cấp đạn pháo, đạn dược và phòng không của các đồng minh cho Ukraine, cũng như trong hội nghị thượng đỉnh hòa bình toàn cầu sắp tới, phiên bản tiếp theo mà Thụy Sĩ sẽ đăng cai. Tháng sáu.

Zelenskiy cũng đã mời Hà Lan tham dự hội nghị thượng đỉnh và cảm ơn nước này vì hội nghị Khôi phục Công lý cho Ukraine “hiệu quả” được tổ chức vào ngày 2 tháng 4 tại The Hague.

Đài truyền hình Hà Lan RTL trước đó đưa tin vào ngày 11 Tháng Tư rằng Hà Lan sẽ phân bổ thêm 400 triệu euro hay 425 triệu Mỹ Kim cho Ukraine, nâng tổng cam kết cho năm 2024 lên hơn 2,4 tỷ euro hay 2,5 tỷ Mỹ Kim.

Amsterdam gần đây cũng cam kết 10 triệu euro hay 10,8 triệu Mỹ Kim để giúp Ukraine điều tra tội ác chiến tranh của Nga. Hỗ trợ tài chính mới đã được công bố trong sự kiện Khôi phục Công lý cho Ukraine vào đầu tháng Tư.

3. 'HÃY CHỐNG PUTIN' Boris Johnson cảnh báo Donald Trump rằng ông sẽ không làm nước Mỹ vĩ đại trở lại nếu Ukraine rơi vào tay Putin

Tờ The Sun có trụ sở ở Luân Đôn cho biết như trên trong bài tường trình nhan đề “'FIGHT PUTIN' Boris Johnson warns Donald Trump he won’t make America great again if Ukraine falls to Putin”. Xin kính mời quý vị và anh chị em theo dõi bản dịch sang Việt Ngữ qua phần trình bày của Kim Thúy.

BORIS Johnson cảnh báo Donald Trump rằng ông sẽ không làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại nếu Ukraine rơi vào tay Vladmir Putin.

Cựu Thủ tướng viện dẫn cựu Tổng thống Mỹ Ronald Reagan khi ông phát biểu phản đối kế hoạch được cho là nhằm gây áp lực buộc Kyiv phải nhượng lại Crimea và khu vực biên giới Donbas như một cái giá cho hòa bình.

Ông phát biểu tại một sự kiện bảo thủ ở Canada: “Nếu bạn là đảng của Ronald Reagan, nếu bạn muốn làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại, thì bạn không bắt đầu một nhiệm kỳ tổng thống mới của Đảng Cộng hòa bằng cách nhường chiến thắng cho Vladimir Putin.”

“Đó sẽ là một thảm họa đối với phương Tây và sẽ là một thảm họa đối với nước Mỹ”.

Ông Johnson cũng nhắc lại lời kêu gọi Ukraine gia nhập NATO và bác bỏ lo ngại rằng điều này có thể khiêu khích Putin hơn nữa.

Ông nói: “Ukraine đã chọn trở thành một quốc gia Âu Châu tự do, độc lập, hướng về phương Tây, hướng tới Liên Hiệp Âu Châu, hướng tới NATO.

“Và Ukraine phải gia nhập NATO.”

“Đó là cách hợp lý duy nhất để vượt qua chuyện này.”

Đầu tuần này, ông Trump và David Cameron đã ăn tối tại Mar-a-Lago - có đề cập đến Brexit trong thực đơn.

Cựu Tổng thống Mỹ và là ứng viên Đảng Cộng hòa đã tiếp đón Bộ trưởng Ngoại giao tại khu nghỉ dưỡng sang trọng ở Palm Beach - nhưng cả hai bên đều đồng ý không đăng ảnh.

Với việc ông Trump kêu gọi các cường quốc Âu Châu nỗ lực nhiều hơn để tài trợ cho NATO, họ đã nói về việc tăng chi tiêu quốc phòng và “chấm dứt giết chóc ở Ukraine”.

Phát ngôn nhân của ông Trump cho biết họ “cũng thảo luận về sự ngưỡng mộ lẫn nhau đối với cố Nữ hoàng Elizabeth II”.

Trong khi đó, Bộ Ngoại giao lại kín tiếng hơn nhiều, chỉ nói rằng đây là một “cuộc gặp hiệu quả” làm nổi bật “bề rộng và sức mạnh” của mối quan hệ Anh-Mỹ.

4. Công dân Mỹ phò Nga được báo cáo mất tích ở miền đông Ukraine bị Nga tạm chiếm

Denis Pushilin, chủ tịch của cái gọi là Cộng hòa Nhân Dân Donetsk, viết tắt là DPR, cho biết cảnh sát địa phương đang tìm kiếm Russell Bentley, một công dân Mỹ và là một người ủng hộ Nga đã mất tích ở miền đông Ukraine bị Nga tạm chiếm.

Bentley chuyển đến tỉnh Donetsk vào năm 2014 để chiến đấu cho lực lượng dân quân ly khai Nga chống lại Ukraine. Anh ta được nhiều người biết đến là phóng viên của hãng thông tấn nhà nước Nga Sputnik News và là công dân liên bang Nga.

Cảnh sát không cung cấp thông tin chi tiết về nơi ở cuối cùng của anh ta hoặc hoàn cảnh xung quanh sự mất tích của anh ta.

Hiện nay đang có những báo cáo trái ngược về lý do Bentley mất tích. Trong khi tin tưởng chung, hay ít nhất là các tuyên bố ngoài miệng của các quan chức DPR, cho rằng Bentley đã bị biệt kích Ukraine bắt cóc; một số blogger quân sự Nga có các nguồn thạo tin từ giới an ninh của Nga lại cho rằng Bentley là điệp viên Mỹ trá hàng đã bỏ trốn đến Kyiv và đang trên đường trở về Mỹ.

5. Ngoại trưởng Kuleba cho biết Ukraine đang đàm phán với đối tác để nhận 2 khẩu đội Patriot, và 1 khẩu đội SAMP/T

Ukraine đang tiến hành “đàm phán tích cực” với các đối tác để nhận thêm hai khẩu đội của hệ thống phòng không Patriot và một khẩu đội hỏa tiễn phòng không tầm xa SAMP/T, Ngoại trưởng Dmytro Kuleba cho biết trong đoạn trích từ cuộc phỏng vấn được phát sóng ngày 12 Tháng Tư.

Khi Nga tăng cường các cuộc tấn công vào Ukraine trong mùa xuân, tình trạng thiếu hệ thống phòng không ở các thành phố và làng mạc của Ukraine ngày càng được cảm nhận rõ hơn khi các cuộc tấn công của Nga đã gây ra số thương vong gia tăng.

Theo Tổng thống Volodymyr Zelenskiy, Nga đã phóng hơn 400 hỏa tiễn các loại, 600 máy bay không người lái loại Shahed và 3.000 quả bom dẫn đường vào Ukraine trong tháng 3, gây thiệt hại nghiêm trọng cho cơ sở hạ tầng.

Kyiv đã tăng cường kêu gọi các đồng minh cung cấp cho Ukraine nhiều hệ thống phòng không hơn, đặc biệt là các hệ thống Patriot do Mỹ sản xuất có thể đánh chặn hỏa tiễn đạn đạo.

Theo Zelenskiy, Ukraine cần 25 chiếc Patriot để bao phủ toàn bộ đất nước, nhưng Kuleba cho biết ban đầu ông tập trung vào việc bảo đảm 7 chiếc. Điều này sẽ đủ để bảo vệ các thành phố lớn nhất của Ukraine và để lại ít nhất một khẩu đội ở gần chiến trường hơn.

Theo Bộ trưởng, quyết định cung cấp pin Patriot là tùy thuộc vào Washington vì đây là hệ thống do Mỹ sản xuất.

Kuleba nói: “Nếu các quốc gia nơi đặt chúng sẵn sàng chuyển chúng cho chúng tôi ngay bây giờ thì chỉ mất một tuần và chúng tôi sẽ nhận được chúng”.

Trước đó, ông thậm chí còn đề nghị các nước cho Ukraine mượn Patriot, hứa sẽ trả lại ngay khi họ cần.

Sau khi Kuleba nhấn mạnh sự cần thiết của Ukraine đối với Patriot tại cuộc họp của các bộ trưởng ngoại giao NATO ở Brussels vào ngày 3 và 4 tháng 4, một số đồng minh của Kyiv đã cam kết tìm kiếm các hệ thống phòng không cho Ukraine.

6. Nhóm kháng chiến cho biết Quân đội Nga 'biến mất hàng loạt' ở Kherson

Tờ Newsweek cho biết như trên trong bài tường trình nhan đề “Russian Troops 'Disappearing En Masse' in Kherson: Resistance Group”. Xin kính mời quý vị và anh chị em theo dõi bản dịch sang Việt Ngữ qua phần trình bày của Kim Thúy.

Một phong trào du kích Ukraine hoạt động ở khu vực phía nam bị tạm chiếm của đất nước đã báo cáo về các vụ đào ngũ hàng loạt của lực lượng Nga ở đó, sau khi quân đội Mạc Tư Khoa từ chối thực hiện các nhiệm vụ chiến đấu.

Phong trào Atesh—có nghĩa là “ngọn lửa” trong tiếng Crimea Tartar—đã hoạt động ở vùng Kherson phía nam trong cuộc xâm lược toàn diện của Nga; nó bắt đầu vào tháng 2 năm 2022 và chứng kiến phần lớn phần phía nam của đất nước nhanh chóng bị tạm chiếm.

Atesh thu thập thông tin về các hoạt động địa phương của Nga cho lực lượng tình báo và quân sự Ukraine trong khi tổ chức kháng chiến tại địa phương. Nhóm này cũng tuyên bố đã tiêu diệt nhiều binh sĩ Nga và các đồng minh của Nga ở địa phương.

Hôm thứ Năm, Atesh đã cho biết: “Lính Nga đang biến mất hàng loạt ở vùng Kherson”.

“Theo các báo cáo chính thức mà nhóm Lực lượng vũ trang Nga 'Dnepr' nhận được, chúng tôi được biết rằng lũ Orc từ chối thực hiện các nhiệm vụ chiến đấu và cố tình rời khỏi nơi triển khai tạm thời của chúng”. “Orc” là từ ngữ miệt thị được người Ukraine sử dụng để chỉ lính Nga.

“Đáng chú ý là một số người được xác định chính thức trên giấy tờ là đào binh sau đó được tìm thấy trong lãnh thổ bị tạm chiếm ở vùng Kherson.”

Atesh cho biết: “Các đặc vụ của chúng tôi cũng lưu ý sự xuất hiện của một số lượng lớn binh sĩ của quân đội xâm lược ở Novooleksiivka”. Điều này đề cập đến một khu định cư nông thôn ở miền nam Kherson, gần eo đất Perekop ngăn cách Bán đảo Crimea với đất liền.

Nhóm này cho biết thêm: “Những người lính này nằm trong những ngôi nhà bỏ hoang. Hầu hết họ đều có nhiều hình xăm trên cơ thể. Người dân địa phương tin rằng đây là những người trước đây đã từng ngồi tù.”

Atesh đưa tin rằng quân đội Nga cũng đang tăng cường nỗ lực để bắt các nhóm du kích Ukraine đang cung cấp thông tin cho các lực lượng quân sự của Kyiv.

Atesh viết: “Vệ binh Nga được chỉ thị truy bắt những người kháng chiến Ukraine đang truyền thông tin về vị trí của lực lượng xâm lược Nga”. “Nếu bạn biết quân đội xâm lược của Nga đang đóng quân ở đâu, vui lòng cho chúng tôi biết. Cùng nhau, chúng ta sẽ đẩy quân Nga ra khỏi Ukraine.”

Khu vực Kherson phía nam có rất ít chuyển động trên mặt trận kể từ chiến thắng lớn của Ukraine ở đó vào mùa thu năm 2022. Sau đó, quân của Kyiv tiến về phía nam để giải phóng thành phố Kherson và toàn bộ lãnh thổ ở bờ tây sông Dnipro.

Tuyến đường thủy kể từ đó đã hình thành một rào cản đáng gờm đối với các cuộc tấn công tiếp theo, đặc biệt là sau khi nó bị sưng lên do đập Nova Kakhovka bị phá hủy vào tháng 6 năm 2023.

Tuy nhiên, các đơn vị Ukraine đã thành công trong việc thiết lập các đầu cầu nhỏ nhưng bền bỉ ở bờ đông do Nga nắm giữ trong năm qua. Quân đội Nga đã chứng tỏ không thể đánh bật các vị trí vững chắc của Kyiv, điều mà một ngày nào đó có thể hỗ trợ cho việc tiến tới Crimea.

7. Nga triệu tập đại sứ Pháp đến Bộ Ngoại giao để phản đối

Phát ngôn nhân Bộ Ngoại Giao Nga Maria Zakharova, cho biết Nga đã triệu tập đại sứ Pháp đến Bộ Ngoại giao nước này vào hôm thứ Sáu để phản đối những bình luận của Stephane Sejourne, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao và Âu Châu Sự Vụ của Pháp.

Theo Zakharova, Sejourne cho biết Paris không quan tâm đến việc đối thoại với Mạc Tư Khoa vì tuyên bố của các quan chức Nga chứa đầy những thông tin sai lệch.

Zakharova cho biết: “Chúng tôi coi những tuyên bố này của Ngoại trưởng Pháp là hành động có ý thức và có chủ ý của phía Pháp nhằm làm suy yếu khả năng tiến hành bất kỳ cuộc đối thoại nào giữa hai nước”.

8. Thủ tướng Shmyhal cho biết Ukraine mua hệ thống tác chiến điện tử để bảo vệ cơ sở hạ tầng quan trọng

Thủ tướng Ukraine Denys Shmyhal ngày 12 Tháng Tư cho biết Chính phủ Ukraine sẽ phân bổ kinh phí để mua các hệ thống tác chiến điện tử nhằm bảo vệ cơ sở hạ tầng quan trọng của Ukraine.

Nga gần đây đã tăng cường các cuộc tấn công bằng hỏa tiễn và máy bay không người lái nhằm vào cơ sở hạ tầng quan trọng của Ukraine, phá hủy một số nhà máy nhiệt điện trên khắp đất nước, bao gồm nhà máy Trypillia, nhà cung cấp điện chính cho các tỉnh Kyiv, Zhytomyr và Cherkasy.

Thủ tướng cho biết ưu tiên hàng đầu là nhanh chóng sửa chữa các cơ sở bị hư hỏng và khôi phục cơ sở hạ tầng sản xuất và phân phối. Theo Shmyhal, chính phủ cũng đang nỗ lực phân cấp hệ thống năng lượng và tăng cường phòng không Ukraine.

Thủ tướng Ukraine tuyên bố tại Đại hội chính quyền địa phương và khu vực rằng: “Chính phủ đã thông qua quyết định cho phép tài trợ cho việc mua các thiết bị tác chiến điện tử cho các cơ sở hạ tầng quan trọng”.

Vào tháng 3, các cuộc tấn công của Nga được cho là đã làm hư hại hoặc phá hủy hoàn toàn 80% công suất sản xuất nhiệt của DTEK, là công ty năng lượng tư nhân lớn nhất Ukraine.

Theo Bộ Nội vụ Ukraine, trong ba tháng qua, Nga đã tiến hành khoảng 30.000 cuộc tấn công vào lãnh thổ Ukraine.

Theo công ty năng lượng nhà nước Centrenergo, cuộc tấn công ngày 22 tháng 3 của Nga đã phá hủy Nhà máy Nhiệt điện Zmiiv, một trong những nhà máy lớn nhất ở Kharkiv.

Giám đốc điều hành DTEK, Dmytro Sakharuk, cho biết các cuộc tấn công gần đây cũng làm hư hại tất cả các tổ máy điện của Nhà máy Nhiệt điện Burshtyn ở tỉnh Ivano-Frankivsk và Nhà máy Nhiệt điện Ladyzhyn ở tỉnh Vinnytsia.

Trong số các mục tiêu khác của Mạc Tư Khoa trong tháng 3 có Nhà máy thủy điện Kaniv ở tỉnh Cherkasy, Nhà máy thủy điện Dnister ở tỉnh Chernivtsi và Nhà máy thủy điện Dnipro của Zaporizhzhia.

Bộ trưởng Năng lượng Herman Halushchenko hôm 12 Tháng Tư cho biết hệ thống năng lượng của Ukraine “đang hoạt động ổn định” nhưng kêu gọi người dân chuẩn bị cho tình trạng mất điện có thể xảy ra.

9. Tài sản bí mật của Putin có thể gặp nguy hiểm ở quốc gia 'trung lập nhất' thế giới

Tờ Newsweek cho biết như trên trong bài tường trình nhan đề “Putin's Secret Fortune May Be at Risk in World's 'Most Neutral' Country”. Xin kính mời quý vị và anh chị em theo dõi bản dịch sang Việt Ngữ qua phần trình bày của Kim Thúy.

Nước Nga của Vladimir Putin liên tục yêu cầu tạo ra một cấu trúc an ninh Âu Châu mới trước cuộc xâm lược toàn diện vào Ukraine vào tháng 2 năm 2022.

Mạc Tư Khoa muốn việc mở rộng NATO bị đóng băng, và thậm chí có thể phải đảo ngược. Họ cho rằng Nga phải giành được những bảo đảm an ninh mới từ các đối thủ phương Tây và trở thành trung tâm của sự hiểu biết mới về quyền lực trên lục địa. Các yêu cầu của Điện Cẩm Linh đã bị các nhà lãnh đạo NATO bác bỏ, và Mạc Tư Khoa sau đó đã tung ra đòn tấn công thảm khốc vào Ukraine.

Cuộc chiến kéo dài hai năm chắc chắn đã vẽ lại bản đồ địa chính trị Âu Châu, mặc dù không có lợi cho Điện Cẩm Linh. Thụy Điển và Phần Lan đã gia nhập NATO, các cường quốc phương Tây đã bắt tay vào một cuộc tấn công trừng phạt lớn chống lại Nga, còn Ukraine và Moldova đã bắt tay vào con đường dài để trở thành thành viên Liên minh Âu Châu. Căng thẳng đã xuất hiện, nhưng khối phương Tây đã chứng tỏ khả năng phục hồi tốt hơn những gì Mạc Tư Khoa mong đợi.

Ngay cả ở quốc gia trung lập quyết liệt nhất Âu Châu, tác động của chiến tranh cũng đang được cảm nhận rõ ràng.

Thụy Sĩ đang vượt qua tình trạng không liên kết hàng thế kỷ bằng cách áp dụng các lệnh trừng phạt của Liên Hiệp Âu Châu đối với Nga và chấp thuận tái xuất khẩu một số vũ khí và đạn dược của Thụy Sĩ sang Ukraine thông qua các bên thứ ba - mặc dù Bern đã từ chối cung cấp vũ khí trực tiếp cho Kyiv.

Áp lực thậm chí còn gia tăng tại quốc hội để chính phủ phải ký vào các đề xuất xuyên Đại Tây Dương nhằm tịch thu tài sản bị đóng băng của Nga và giao chúng cho Ukraine, một bước đi tương phản với vai trò truyền thống và sinh lợi của đất nước này là một trung tâm tài chính riêng biệt—và đôi khi là bất hợp pháp.

Một động thái như vậy thậm chí có thể gây nguy hiểm cho tài sản của chính Putin, ít nhất một số tài sản trong số đó được cho là đã được cất giữ hoặc chuyển qua Thụy Sĩ dưới danh nghĩa là tài sản của các đồng minh Putin.

Tháng trước, thượng viện của quốc hội Thụy Sĩ đã bỏ phiếu với tỷ lệ 21-19 ủng hộ một số kiến nghị—được hạ viện thông qua vào cuối năm ngoái—sẽ cho phép chính phủ bắt đầu hình thành cơ sở pháp lý cho việc sử dụng tài sản của nhà nước xâm lược bị đóng băng để trả tiền bồi thường ở các nước bị nạn.

Bộ trưởng Ngoại giao Ignazio Cassis nói với thượng viện: “Sự thật thực sự rất rõ ràng”. “Nga đã vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế. Do đó nó phải sửa chữa những thiệt hại gây ra. Các cuộc thảo luận quốc tế đang được tiến hành liên quan đến cơ chế bồi thường và Thụy Sĩ đang tham gia bằng kiến thức, kỹ năng và lịch sử của mình trong lĩnh vực này.”

Thụy Sĩ vẫn đang hoạt động trong giới hạn của sách trắng liên bang năm 1993 về tính trung lập đặt ra chính sách không liên kết của đất nước, nhà ngoại giao Thụy Sĩ Thomas Greminger, người trước đây từng là tổng thư ký của Tổ chức An ninh và Hợp tác ở Âu Châu—nói với Newsweek.

Greminger, người hiện là giám đốc của Trung tâm nghiên cứu chính sách an ninh Geneva, giải thích.

Ông nói, tính trung lập linh hoạt này đã giúp Bern “nói rõ ngay từ đầu rằng tính trung lập không có nghĩa là thờ ơ trong việc bảo vệ luật pháp quốc tế, trong việc ủng hộ các giá trị của pháp quyền, nhân quyền và dân chủ”.

Quốc gia này từ lâu đã phối hợp với NATO thông qua chương trình Đối tác vì Hòa bình và hiện đang tham gia vào Sáng kiến Lá chắn Bầu trời Âu Châu, một nỗ lực liên quốc gia—ban đầu được Đức đề xuất sau cuộc xâm lược Ukraine của Nga—để xây dựng một mạng lưới Âu Châu tích hợp phòng thủ chống đạn đạo. hỏa tiễn và các mối đe dọa trên không khác.

Một cuộc thăm dò năm 2023 cho thấy 55% số người được hỏi ở Thụy Sĩ—một con số cao kỷ lục—ủng hộ việc hướng tới “mối quan hệ chặt chẽ hơn” với NATO, tăng 3 điểm so với năm 2022 và tăng 10 điểm so với năm 2021 trước cuộc xâm lược của Nga.

Chủ tịch Liên bang Thụy Sĩ và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Viola Amherd cho biết trong tuần này rằng một cuộc tấn công trực tiếp của Nga sẽ đánh dấu sự kết thúc của kỷ nguyên trung lập của đất nước.

Về mặt trừng phạt, Thụy Sĩ có lẽ có thể đóng vai trò lớn nhất. Chính phủ nước này cho biết vào tháng 12 rằng nước này đã đóng băng khoảng 8,81 tỷ Mỹ Kim tài sản thuộc về người Nga kể từ khi bắt đầu chiến tranh. Đó chỉ là một phần nhỏ trong tổng tài sản mà người Nga nắm giữ ở Thụy Sĩ, được Hiệp hội Ngân hàng Thụy Sĩ ước tính trị giá hơn 164 tỷ Mỹ Kim.

Một số người Nga bị cáo buộc đóng vai trò là cái “bóp tiền” cho Putin, cất giữ số lượng tài sản khổng lồ thay mặt cho bạo chúa Nga, người được suy đoán có thể là người giàu nhất thế giới khi tất cả tài sản bí mật của ông ta cộng lại.

Các công tố viên Thụy Sĩ năm ngoái đã khởi tố vụ án sơ suất hình sự chống lại bốn giám đốc điều hành có trụ sở tại Thụy Sĩ tại Gazprombank, những người bị cáo buộc giải quyết sai tiền từ Sergei Roldugin; một nhạc sĩ, cha đỡ đầu của con gái Putin và có tài sản khoảng 50 triệu Mỹ Kim.

Greminger cho biết việc nước này liên kết với các biện pháp của Liên Hiệp Âu Châu chống lại những người Nga có liên hệ với Điện Cẩm Linh có thể khiến Putin và các đồng minh đau đầu, đặc biệt nếu chính phủ chú ý đến áp lực từ công chúng và quốc hội để phải làm nhiều hơn.

Ông nói: “Chính sách chính thức của chính phủ vẫn lập luận rằng Thụy Sĩ, nói một cách tương đối, đã đóng băng nhiều tài sản của Nga và đang hợp tác quốc tế trên một số nền tảng”. Nhưng Bern đã do dự về việc thu giữ các khoản tiền bị đóng băng.

10. Điện Cẩm Linh hôm thứ Sáu cho biết dự thảo thỏa thuận Nga-Ukraine được đàm phán vào năm 2022 có thể đóng vai trò là điểm khởi đầu cho các cuộc đàm phán trong tương lai nhằm chấm dứt cuộc giao tranh đã kéo dài sang năm thứ ba.

Phát ngôn nhân Điện Cẩm Linh Dmitry Peskov cho rằng dự thảo văn bản được thảo luận ở Istanbul vào tháng 3/2022 có thể là “cơ sở để bắt đầu đàm phán”. Đồng thời, ông nói rằng các cuộc đàm phán có thể diễn ra trong tương lai sẽ cần phải tính đến “thực tế mới”.

“Đã có nhiều thay đổi kể từ đó, các thực thể mới đã được đưa vào hiến pháp của chúng tôi,” Peskov nói trong một cuộc gọi hội nghị với các phóng viên.

Vào tháng 9 năm 2022, Nga sáp nhập 4 khu vực của Ukraine trong một động thái mà Kyiv và các đồng minh phương Tây bác bỏ vì coi đó là hành động trái pháp luật.

Tuyên bố của Peskov theo sau bình luận của Putin hôm thứ Năm, trong đó ông chế nhạo các cuộc đàm phán hòa bình tiềm năng với Ukraine mà Thụy Sĩ dự kiến đăng cai vào tháng 6, cảnh báo rằng Mạc Tư Khoa sẽ không chấp nhận bất kỳ kế hoạch hòa bình nào.

11. Các ngân hàng Trung Quốc tấn công nền kinh tế chiến tranh của Nga

Tờ Newsweek cho biết như trên trong bài tường trình nhan đề “China's Banks Hit Russia's War Economy”. Xin kính mời quý vị và anh chị em theo dõi bản dịch sang Việt Ngữ qua phần trình bày của Kim Thúy.

Các ngân hàng Trung Quốc đã bắt đầu từ chối thanh toán từ các nhà nhập khẩu Nga trong một ngành công nghiệp then chốt, một tờ báo Nga đưa tin hôm thứ Năm.

Dòng vốn thương mại và tài chính của Trung Quốc đã giúp vực dậy nền kinh tế bị cô lập của Nga kể từ khi Vladimir Putin xâm chiếm Ukraine hai năm trước, nhưng các ngân hàng của đối tác chiến lược này đang ngày càng gặp khó khăn sau các lệnh trừng phạt thứ cấp của Mỹ nhắm vào các tổ chức được cho là đang giúp đỡ Nga lách các lệnh trừng phạt.

Báo Kommersant của Nga dẫn lời những người trong ngành cho biết các ngân hàng Trung Quốc hiện đang chặn các đơn đặt hàng đối với các phụ tùng dùng để lắp ráp các sản phẩm điện tử như máy tính xách tay, máy chủ và thiết bị lưu trữ.

Rắc rối được cho là bắt đầu vào tháng 12, khi nhiều thương nhân gặp khó khăn trong việc thanh toán.

Sau đó vào cuối tháng trước, các công ty Nga bắt đầu nhận được thư từ các đối tác Trung Quốc nói rằng các khoản thanh toán của họ cũng không được thực hiện cho các đơn đặt hàng phụ tùng điện tử, theo một trong những nguồn tin của Kommersant.

Người này cho biết thêm, các khoản thanh toán đang bị chặn “ngay cả đối với những tổ chức đã ký hợp đồng dài hạn về sản xuất và cung cấp phụ tùng để lắp ráp thiết bị điện tử với khách hàng Nga”.

Trung Quốc là nhà cung cấp phụ tùng điện tử thống trị thế giới. Những người trong ngành đã chỉ ra mối đe dọa từ các lệnh trừng phạt của Mỹ là nguyên nhân có thể xảy ra.

Công ty công nghệ internet Fplus nói với tờ báo: “Chúng tôi, giống như tất cả các công ty hàng đầu trong ngành, đang chịu áp lực từ các lệnh trừng phạt thứ cấp và đang nỗ lực giảm thiểu hậu quả của chúng nhiều nhất có thể”.

Vào tháng 12, Tổng thống Joe Biden đã ký sắc lệnh hành pháp áp đặt các biện pháp trừng phạt mới nhằm giáng một đòn chí tử vào chuỗi cung ứng quân sự của Mạc Tư Khoa.

Một số ngân hàng lớn của Trung Quốc đã ngừng giải quyết các khoản thanh toán của Nga. Một số khác đã chuyển sang giao dịch thông qua bên thứ ba, làm tăng giá giao dịch và gây ra sự chậm trễ. Các ngân hàng khác đang tăng thời gian chờ đợi khi họ thận trọng thực hiện thẩm định để tránh bị xử phạt.

Tháng trước, các thương nhân Nga đã thanh toán cho các nguồn của Trung Quốc phàn nàn về tỷ lệ thanh toán thành công chỉ có 10%.

Pavel Bazhanov, một luật sư người Nga chuyên cung cấp hỗ trợ cho các doanh nghiệp Nga ở Trung Quốc, cho biết dù các biện pháp trừng phạt thứ cấp mới không hạn chế những hoạt động thương mại nào không hề liên quan đến các tổ hợp công nghiệp-quân sự của Nga, nhưng “một số ngân hàng Trung Quốc có thể coi rủi ro của họ là cao đến mức không thể chấp nhận được hoặc việc tuân thủ quá phức tạp hoặc tốn kém”.

Trong chuyến thăm Trung Quốc tuần trước, Bộ trưởng Tài chính Mỹ Janet Yellen đã cảnh báo người đồng cấp Trung Quốc, Phó Thủ tướng He Lifeng, rằng sẽ có “những hậu quả đáng kể” đối với các công ty Trung Quốc hỗ trợ Nga trong cuộc chiến chống Ukraine.
 
Biến lớn: Iran phóng hỏa tiễn tấn công Israel theo kịch bản Nga. Mỹ nhân kế của Nga thất bại ở Pháp
VietCatholic Media
15:59 14/04/2024


1. Biến cố rất lớn: Iran trực tiếp tấn công Israel. Video xuất hiện cho thấy phòng không Israel đánh chặn máy bay không người lái của Iran

Tờ Newsweek cho biết như trên trong bài tường trình nhan đề “Video Appears to Show Israeli Air Defense Intercepting Iran's Drones”. Xin kính mời quý vị và anh chị em theo dõi bản dịch sang Việt Ngữ qua phần trình bày của Thụy Khanh.

Các cảnh quay trực tiếp và video clip được chia sẻ trên mạng xã hội cho thấy hệ thống phòng không của Israel đánh chặn các máy bay không người lái và hỏa tiễn đang lao tới trong cuộc tấn công của Iran hôm thứ Bảy.

Lực lượng Phòng vệ Israel gọi tắt là IDF xác nhận với Newsweek hôm thứ Bảy rằng Iran đã phóng máy bay không người lái từ lãnh thổ của mình về phía nước này.

IDF cho biết hệ thống phòng không của Israel, bao gồm hệ thống phòng thủ hỏa tiễn Iron Dome, đã chuẩn bị cho các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái, mà các quan chức Iran cho biết được thực hiện để đáp trả cuộc tấn công của Israel khiến hai tướng Iran thiệt mạng hồi đầu tháng này.

CNN đã phát sóng đoạn phim từ Giêrusalem, dường như cho thấy hệ thống phòng không của quốc gia Trung Đông này đang chặn máy bay không người lái của Iran. Trong các phần của đoạn clip dài gần hai phút được chia sẻ trên X,, có thể nhìn thấy các vụ nổ và ánh sáng chói trên bầu trời phía trên thành phố Israel khi còi báo động vang lên.

“Chúng tôi tiếp tục thấy nhiều vụ chặn trên bầu trời phía trên tôi đến từ nhiều hướng khác nhau. Thật khó để nói đâu là hỏa tiễn đang bay tới và đâu là hỏa tiễn đánh chặn”, biên tập viên ngoại giao quốc tế của CNN, Nic Robertson, đưa tin tối thứ Bảy.

Robertson cho biết vào thời điểm đó anh đã chứng kiến 20 đến 30 lần đánh chặn có thể xảy ra.

“Tôi nghe thấy nhiều tiếng nổ, lại nghe như tiếng đánh chặn,” ông nói. “Tôi không nghe thấy âm thanh va chạm.”

Người dùng mạng xã hội Acyn đã đăng một đoạn clip của CNN lên X và viết: “Đây là những hình ảnh trực tiếp. Không rõ chính xác chúng ta đang nhìn thấy gì, nhưng bạn có thể thấy những vệt đó trên bầu trời.”

IDF chưa xác nhận tại thời điểm công bố liệu họ có chặn bất kỳ máy bay không người lái nào hay mục tiêu dự định của chúng là gì hay không. Trong khi hơn 100 máy bay không người lái đã được triển khai, IDF nói với Newsweek rằng lực lượng phòng không của Israel đã sẵn sàng cho cuộc tấn công.

“IDF đang trong tình trạng cảnh giác cao độ và liên tục theo dõi tình hình hoạt động”, quân đội Israel nói với Newsweek trong một tuyên bố hôm thứ Bảy. “Mảng phòng thủ trên không của IDF đang trong tình trạng báo động cao, cùng với các chiến đấu cơ của IAF và tàu Hải quân Israel đang thực hiện nhiệm vụ phòng thủ trên không phận Israel. IDF đang theo dõi tất cả các mục tiêu. Chúng tôi yêu cầu công chúng tuân thủ và làm theo hướng dẫn của Bộ Tư lệnh Mặt trận Nội địa và các thông báo chính thức của IDF về vấn đề này.”

Sau khi đe dọa trả đũa, các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái của Iran nhằm vào Israel hôm thứ Bảy diễn ra sau cuộc tấn công của Israel khiến 2 tướng Iran và 5 sĩ quan khác thiệt mạng hồi đầu tháng này ở Syria.

Căng thẳng giữa Israel và Iran đã gia tăng kể từ khi bắt đầu cuộc chiến tranh Israel-Hamas khi nhóm chiến binh Palestine tiến hành cuộc tấn công bất ngờ giết chết 1.200 người ở Israel vào ngày 7 tháng 10 năm 2023. Israel sau đó đã phát động một chiến dịch nhắm vào Hamas ở Gaza, giết chết hơn 1.200 người ở Israel. Theo các quan chức y tế địa phương, 30.000 người Palestine.

Các quan chức Mỹ và Israel đều cáo buộc Iran không chỉ hỗ trợ chính trị mà còn hỗ trợ vật chất cho Hamas và Thánh chiến Hồi giáo, cũng như các lực lượng dân quân khác ở nước ngoài như Hezbollah của Li Băng, Ansar Allah của Yemen, còn được gọi là phong trào Houthi, và một loạt lực lượng nổi dậy ở Iraq và Syria.

2. Pháp tiết lộ Nga dùng mỹ nhân kế tấn công các điệp viên Pháp nhưng thất bại

Tờ The Sun có trụ sở ở London có bài tường trình nhan đề “OOH LA LA French spies have so many casual romps that Russian honeytrap blackmail plots DON’T WORK, doc into Paris’s MI6 reveals”, nghĩa là “Ố là là. Tài liệu tiết lộ về MI6 của Paris cho thấy gián điệp Pháp có nhiều trò đùa ngẫu hứng đến mức âm mưu tống tiền bằng mỹ nhân kế của Nga KHÔNG HIỆU QUẢ”. Xin kính mời quý vị và anh chị em theo dõi bản dịch sang Việt Ngữ qua phần trình bày của Kim Thúy.

Một bộ phim tài liệu gây chấn động đã tiết lộ rằng các âm mưu mỹ nhân kế của Nga không có tác dụng với các điệp viên Pháp vì họ có rất nhiều hành động ngẫu nhiên.

Các mật vụ đã kết hôn nói với đối phương Nga rằng việc tống tiền phu nhân của họ gần như vô ích vì vợ họ đã quen với công việc của họ.

Các nhà sản xuất của một bộ phim tài liệu gây chấn động đã phát hiện ra tiết lộ này khi họ đến hậu trường của Tổng cục An ninh Đối ngoại, gọi tắt là DGSE - cơ quan tương đương với MI6 của Anh.

Các điệp viên Pháp nói với những người sản xuất tài liệu rằng người Nga đã cố buộc họ phải đổi phe bằng cách đe dọa kể cho vợ họ nghe về chuyện tình lãng mạn của họ.

Một đặc vụ tên Nicolas cho biết anh đã nói với đối phương của mình: “Cứ làm đi, vợ tôi đã biết rồi. Cô ta không biết chữ GHEN viết ra làm sao”.

Ông nói thêm: “Những người đào thoát khỏi Liên Xô thường nói về 'nghịch lý Pháp'. Bạn không thể làm một người Pháp có gia đình kinh hoàng bằng cách nói với anh ta rằng 'chúng tôi đã bắt quả tang anh với một cô gái 22 tuổi tên là Tatyana. '.

“'Hãy làm việc cho chúng tôi nếu không chúng tôi sẽ mách vợ bạn', cách đó không hiệu quả.

“Đó là bởi vì anh ta thường nói: 'Cứ nói đi, cứ cho cô ấy xem, cô ấy sẽ hiểu' hoặc 'cô ấy đã biết chuyện đó rồi'.”

Máy quay đã được phép đi vào DGSE cho bộ phim tài liệu Tạo nên các đặc vụ bí mật được phát sóng ở Pháp vào hôm thứ Ba.

Trong một phần của chương trình dài 90 phút, cựu giám đốc tình báo Pháp Bernard Emié đã bác bỏ tuyên bố rằng các đặc vụ của ông không hề biết về việc Nga xâm lược Ukraine sau khi Putin tập trung quân ở biên giới.

Cả Anh và Mỹ đều cảnh báo tên bạo chúa đang âm mưu gây chiến - nhưng tình báo Pháp khẳng định không có mối đe dọa nào sắp xảy ra.

Tuy nhiên, ông Emié tuyên bố trong tài liệu rằng Pháp biết rõ tình hình - nhưng không nói ra.

Ông Emié cho biết: “Khi Nga phát động cuộc chiến với Ukraine, DGSE có thông tin kỹ thuật giống như các đối tác Mỹ.

“ Vấn đề là cách bạn khai thác và phân tích thông tin đó cũng như cách bạn nghĩ một sự kiện sẽ diễn ra hay không.

“CIA đã đưa ra quyết định hoàn toàn đáng tôn trọng khi tiết lộ thông tin tình báo mà họ có với mục đích ngăn cản người Nga tiến hành chiến dịch của họ.”

“Đây là một chính sách mà chúng tôi không theo đuổi.”

“Nhưng về mặt tình báo, chúng tôi có trình độ kiến thức ngang nhau.”

3. Bộ Quốc phòng Ukraine cho biết lực lượng Nga đã tiến tới vùng ngoại ô Bohdanivka của tỉnh Donetsk, tình hình rất căng thẳng.

Trong cuộc họp báo tại trung tâm báo chí Kyiv chiều Chúa Nhật, 14 Tháng Tư, phát ngôn nhân Bộ Quốc phòng Ukraine, Chuẩn tướng Oleksii Hromov, cho biết các nhóm tấn công của Nga đã tiến tới vùng ngoại ô phía bắc của làng Bohdanivka ở tỉnh Donetsk vào đêm 13 Tháng Tư.

Tuyên bố này được đưa ra sau khi có thông tin cho rằng Nga đã chiếm được Bohdanivka, cách thành phố Chasiv Yar đang bị vây hãm chưa đầy 10 km. Chuẩn tướng Oleksii Hromov bác bỏ thông tin này và nói rằng thị trấn vẫn nằm dưới sự kiểm soát của lực lượng Ukraine.

“Trận chiến đang diễn ra, đối phương không ngừng tấn công, tình hình hết sức căng thẳng”

Trước đó vào ngày 13 Tháng Tư, Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang Ukraine Oleksandr Syrskyi cho biết tình hình ở mặt trận phía đông Ukraine đã “xấu đi đáng kể trong những ngày gần đây” khi Nga tăng cường các nỗ lực tấn công.

Theo Syrskyi, thời tiết ấm áp, khô ráo đã tạo điều kiện cho Nga tăng cường các cuộc tấn công bằng xe thiết giáp ở các khu vực Bakhmut, Lyman và Pokrovsk.

Quân đội Nga gần đây đang tập trung nỗ lực gần Chasiv Yar ở tỉnh Donetsk, cách thành phố Donetsk bị tạm chiếm khoảng 70 km về phía Tây Bắc và cách Bakhmut bị tạm chiếm khoảng 10 km về phía Tây.

Theo quân đội Ukraine, Nga coi việc chiếm được Chasiv Yar là một cột mốc quan trọng cho những bước tiến xa hơn về phía tây tới Kostiantynivka, Kramatorsk và Sloviansk.

Các quan chức nước ngoài và Ukraine đều cho rằng việc thiếu viện trợ của Mỹ đã bắt đầu làm tổn hại đến vị thế của Ukraine trên chiến trường và cảnh báo rằng tình hình có thể trở nên tồi tệ hơn nếu không có sự hỗ trợ quân sự mới.

Vào cuối tháng 3, Tổng thống Volodymyr Zelenskiy không loại trừ khả năng một cuộc tấn công lớn của Nga có thể diễn ra vào cuối tháng 5 hoặc tháng 6.

4. Financial Times cho biết Nga có thể đang chuẩn bị tấn công quy mô lớn vào Ukraine

Tờ Kyiv Independent cho biết như trên trong bài tường trình nhan đề “Financial Times: Russia may be gearing up for large-scale offensive against Ukraine”. Xin kính mời quý vị và anh chị em theo dõi bản dịch sang Việt Ngữ qua phần trình bày của Cẩm Yến.

Các lực lượng Nga có thể đang chuẩn bị cho một cuộc tấn công quy mô lớn vào cuối mùa xuân hoặc mùa hè, nhằm chiếm thêm đất ở các tỉnh Donetsk, Kherson, Luhansk và Zaporizhzhia do Ukraine xâm lược một phần, tờ Financial Times đưa tin hôm 13 Tháng Tư, dẫn lời các quan chức Ukraine và phương Tây giấu tên.

Các quan chức Ukraine cũng cho biết, Nga có thể lên kế hoạch tấn công Kharkiv, thành phố lớn thứ hai của Ukraine nằm gần biên giới Nga, Financial Times đưa tin.

Khi viện trợ quân sự quan trọng cho Ukraine vẫn bị đình trệ tại Quốc hội Mỹ, các lực lượng Ukraine đang bị Nga đè bẹp cả về quân số lẫn vũ khí đang phải vật lộn để đẩy lùi các cuộc tấn công ngày càng gia tăng của Nga theo nhiều hướng.

Các quan chức nước ngoài và Ukraine đều cho rằng việc thiếu viện trợ của Mỹ đã bắt đầu làm tổn hại đến vị thế của Ukraine trên chiến trường và cảnh báo rằng tình hình có thể trở nên tồi tệ hơn nếu không có sự hỗ trợ quân sự mới.

Trước đó vào ngày 13 Tháng Tư, Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang Ukraine Oleksandr Syrskyi cho biết tình hình ở mặt trận phía đông Ukraine đã “xấu đi đáng kể trong những ngày gần đây” khi Nga tăng cường các nỗ lực tấn công.

Theo Syrskyi, thời tiết ấm áp, khô ráo đã tạo điều kiện cho Nga tăng cường các cuộc tấn công bằng xe thiết giáp ở các khu vực Bakhmut, Lyman và Pokrovsk.

Quân đội Nga gần đây đang tập trung nỗ lực gần Chasiv Yar ở tỉnh Donetsk, cách thành phố Donetsk bị tạm chiếm khoảng 70 km về phía Tây Bắc và cách Bakhmut bị tạm chiếm khoảng 10 km về phía Tây.

Theo quân đội Ukraine, Nga coi việc chiếm được Chasiv Yar là một cột mốc quan trọng cho những bước tiến xa hơn về phía tây tới Kostiantynivka, Kramatorsk và Sloviansk.

Vào cuối tháng 3, Tổng thống Volodymyr Zelenskiy không loại trừ khả năng một cuộc tấn công lớn của Nga có thể diễn ra vào cuối tháng 5 hoặc tháng 6.

Nga gần đây cũng tăng cường các cuộc tấn công vào Kharkiv, nhắm vào các khu dân cư và cơ sở hạ tầng quan trọng.

Một số phương tiện truyền thông đưa tin rằng Nga có thể tiến hành một cuộc tấn công trên bộ nhằm vào thành phố này trong năm nay.

Tổng thống Volodymyr Zelenskiy hôm 6 Tháng Tư cho biết “Kharkiv được bảo vệ” trong trường hợp Nga cố gắng tiến hành một cuộc tấn công.

“Hôm nay, Kharkiv không gặp nguy hiểm,” Zelenskiy nói, đề cập đến các tuyến phòng thủ địa phương và sự sẵn sàng của quân đội. “Người Nga không giấu giếm rằng Kharkiv là một mục tiêu mong muốn”, ông Zelenskiy nói.

Tình báo quân sự Ukraine gọi tin tức về một cuộc tấn công tiềm tàng vào Kharkiv là “một phần trong hoạt động tâm lý của Nga”, đồng thời nói thêm rằng không có dấu hiệu nào cho thấy Mạc Tư Khoa đang chuẩn bị các đội hình tấn công mới để thực hiện một cuộc tấn công trên bộ.

Trong bối cảnh các thành viên Quốc Hội tại Hạ Viện Hoa Kỳ đã ngăn chặn viện trợ cho Ukraine từ tháng 10 cho đến nay, trong một cuộc họp tại Bộ Quốc Phòng Nga, hôm Thứ Bẩy, 13 Tháng Tư, Bộ trưởng Quốc phòng Sergei Shoigu cho biết đây là thời cơ “bây giờ hoặc không bao giờ”.

5. SBU ngăn chặn âm mưu ám sát nhà lãnh đạo Chính quyền Quân sự Khu vực Kherson

Cơ quan An ninh Ukraine, gọi tắt là SBU, đã phá vỡ một vụ ám sát Oleksandr Prokudin, Thống đốc khu vực Kherson. Phát ngôn nhân của SBU Artem Dekhtiarenko, cho biết như trên trong cuộc họp báo tại trung tâm báo chí Kyiv chiều Chúa Nhật 14 Tháng Tư.

Thiếu Tướng Vasyl Maliuk cho biết một cư dân Kherson đã lên kế hoạch thực hiện vụ ám sát Prokudin với sự cộng tác của các cơ quan đặc vụ của Nga. Nghi phạm bị bắt giữ vào ngày 10 Tháng Tư.

Maliuk nói: “Tên vô lại này đã thực hiện giám sát trực tiếp tại hiện trường và điều chỉnh hỏa lực nhắm vào xe của Prokudin.”

“Một mẫu máy bay không người lái FPV mới của đối phương đã được phóng từ độ sâu 12 km nhằm giết chết Prokudin.”

SBU đã đánh chặn thành công máy bay không người lái được triển khai bằng cách sử dụng các hệ thống tác chiến điện tử tiên tiến.

6. Ba Lan thành lập hội đồng hợp tác với Ukraine

Ba Lan đã thành lập Hội đồng hợp tác mới với Ukraine, Pawel Kowal, Ủy viên Ba Lan về Phục hồi Ukraine, cho biết trong cuộc phỏng vấn với Cơ quan Báo chí Ba Lan (PAP) ngày 12 Tháng Tư.

Thủ tướng Ba Lan Donald Tusk đã ký sắc lệnh thành lập hội đồng nhằm giải quyết các vấn đề quan hệ song phương Ba Lan-Ukraine và tái thiết Ukraine.

Trong khi Ba Lan là đồng minh trung thành của Ukraine trong cuộc chiến chống lại sự xâm lược của Nga, các cuộc phong tỏa biên giới kéo dài do nông dân Ba Lan tiến hành đã khiến mối quan hệ giữa Kyiv và Warsaw xấu đi.

Kowal cho biết ông sẽ lãnh đạo hội đồng mới, nơi sẽ có các nhóm làm việc khác nhau và hợp tác với các tổ chức nghiên cứu của Ba Lan.

“Đây sẽ là một cơ quan công cộng bao gồm các đại diện của khoa học, doanh nghiệp, chính phủ và chính quyền địa phương,” Kowal nói.

Theo Kowal, Ba Lan hy vọng thành lập một thực thể “sẽ áp dụng đường lối toàn diện hơn đối với quan hệ Ba Lan-Ukraine”.

Ông nói: “Chúng tôi cho rằng chúng là duy nhất, không chỉ vì các vấn đề lịch sử mà còn vì sự tham gia của Ba Lan trong việc giúp đỡ Ukraine, quốc gia đang được bảo vệ và vai trò của Ba Lan trong quá trình phục hồi của nước này”.

Ba Lan đã quyên góp khoảng 3,2 tỷ Mỹ Kim viện trợ quân sự và tiếp nhận khoảng 1 triệu người tị nạn Ukraine kể từ khi chiến tranh toàn diện bùng nổ.

Tranh chấp về chính sách nông nghiệp đã làm căng thẳng mối quan hệ giữa các nước láng giềng trong những tháng gần đây, với việc nông dân và tài xế xe tải Ba Lan tổ chức các cuộc biểu tình và chặn các cửa khẩu biên giới.

Thủ tướng Denys Shmyhal đã đến thăm Thủ tướng Ba Lan Donald Tusk và các quan chức chính phủ khác vào ngày 28 tháng 3 để thảo luận về việc phong tỏa, viện trợ quân sự và thương mại đang diễn ra giữa Ukraine và Ba Lan.

7. Cuộc tấn công của Nga vào xe cứu thương làm 1 người bị thương ở Kharkiv

Lực lượng Nga đã tấn công một xe cứu thương trong cộng đồng Kupiansk ở tỉnh Kharkiv, khiến một người bị thương, Thống Đốc khu vực Kharkiv, Oleh Syniehubov, cho biết như trên vào chiều Chúa Nhật 14 Tháng Tư.

Kupiansk, một cửa ngõ hậu cần quan trọng đã bị Nga xâm lược trong thời gian ngắn vào năm 2022, gần đây đã hứng chịu các cuộc tấn công dữ dội khi Nga tăng cường nỗ lực tấn công trong khu vực.

Theo Syniehubov, một chiếc máy bay không người lái góc nhìn thứ nhất của Nga đã thả chất nổ xuống xe cứu thương khi nó đang trên đường đến Petropavlivka.

Ông cho biết một tài xế 58 tuổi đã bị thương.

8. Zelenskiy: Ukraine đang nỗ lực để có thêm hệ thống phòng không IRIS-T, và hỏa tiễn phòng không từ Đức

Tờ Kyiv Independent cho biết như trên trong bài tường trình nhan đề “Zelenskiy: Ukraine working to secure additional IRIS-T air defense system, anti-air missiles from Germany”. Xin kính mời quý vị và anh chị em theo dõi bản dịch sang Việt Ngữ qua phần trình bày của Cẩm Yến.

Ukraine đang đàm phán với Đức để bảo đảm có thêm hệ thống phòng không IRIS-T, cũng như hỏa tiễn cho các hệ thống phòng không hiện có, Tổng thống Volodymyr Zelenskiy cho biết trong bài phát biểu buổi tối.

Bình luận của Zelenskiy được đưa ra khi Berlin tuyên bố trước đó rằng họ sẽ cung cấp cho Ukraine thêm một hệ thống phòng không Patriot để chống lại các cuộc tấn công gia tăng của Nga.

Khi Mạc Tư Khoa tăng cường các cuộc tấn công vào Ukraine trong mùa xuân, tình trạng thiếu hệ thống phòng không ở các thành phố và làng mạc của Ukraine ngày càng trở nên trầm trọng hơn.

Các cuộc tấn công gần đây của Nga nhằm vào cơ sở hạ tầng năng lượng của Ukraine đã phá hủy một số nhà máy nhiệt điện trên khắp đất nước, bao gồm nhà máy Trypillia, nhà cung cấp điện chính cho các tỉnh Kyiv, Zhytomyr và Cherkasy.

Kyiv đã tăng cường kêu gọi các đồng minh cung cấp thêm hệ thống phòng không cho Ukraine. Zelenskiy hôm 6 Tháng Tư cho biết Ukraine cần 25 hệ thống phòng không Patriot để bảo vệ bầu trời nước này trước các cuộc tấn công của Nga.

Đức trước đây đã cung cấp các hệ thống phòng không IRIS-T cho Ukraine, bao gồm ba hệ thống IRIS-T SLM, có tầm bắn lên tới 40 km và một hệ thống IRIS-T SLS, có tầm bắn lên tới 12 km.

Theo bản tóm tắt chuyển giao của Đức, nước này cũng đã chuyển giao 2 hệ thống Patriot, 52 pháo phòng không tự hành Gepard cho lực lượng phòng không Ukraine, Reuters đưa tin.

Ban đầu bị chỉ trích vì cung cấp viện trợ quân sự cho Ukraine chậm chạp sau khi bắt đầu cuộc xâm lược toàn diện, Đức đã trở thành nhà cung cấp thiết bị quân sự lớn thứ hai sau Mỹ.

Tổng thống Zelenskiy nói thêm: “Sự lãnh đạo của Đức thực sự được cảm nhận và nhờ sự lãnh đạo này, chúng tôi sẽ có thể cứu được hàng ngàn sinh mạng và giúp Ukraine được bảo vệ nhiều hơn khỏi sự khủng bố của Nga”.

9. Reuters: Quan chức Mỹ tố Trung Quốc hỗ trợ Nga mở rộng quân sự quy mô lớn

Tờ Kyiv Independent cho biết như trên trong bài tường trình nhan đề “Reuters: US officials say China aids Russia's massive military expansion”. Xin kính mời quý vị và anh chị em theo dõi bản dịch sang Việt Ngữ qua phần trình bày của Kim Thúy.

Reuters ngày 12 Tháng Tư dẫn lời các quan chức Mỹ giấu tên cho biết Trung Quốc đang hỗ trợ cỗ máy chiến tranh của Nga ở Ukraine bằng cách cung cấp máy móc, công nghệ vũ khí và hình ảnh vệ tinh.

Trung Quốc chính thức tuyên bố mình là một bên trung lập trong cuộc chiến toàn diện của Nga ở Ukraine, nhưng Washington vẫn tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về sự hỗ trợ của Bắc Kinh đối với các nỗ lực mở rộng công nghiệp quốc phòng của Mạc Tư Khoa.

Theo một quan chức, nguồn cung từ Trung Quốc đang giúp Nga thực hiện “việc mở rộng quốc phòng đầy tham vọng nhất kể từ thời Liên Xô và với thời gian nhanh hơn chúng tôi tin là có thể xảy ra ngay từ đầu trong cuộc xung đột này”.

Các quan chức cho biết, Nga sử dụng các chuyến hàng máy công cụ từ Trung Quốc để tăng cường sản xuất hỏa tiễn đạn đạo và vi điện tử của Trung Quốc được sử dụng để sản xuất hỏa tiễn, xe tăng và máy bay của Nga.

Các quan chức cho biết, 90% lượng nhập khẩu vi điện tử của Nga vào năm 2023 là từ Trung Quốc.

Họ cho biết, các doanh nghiệp Trung Quốc như iRay Technology và Viện Nghiên cứu Quang học Bắc Trung Quốc cũng cung cấp cho Nga các thiết bị quang học quân sự dành cho xe tăng và xe thiết giáp.

Trung Quốc cũng cung cấp cho Nga động cơ máy bay không người lái và các quan chức cho biết các công ty Trung Quốc và Nga đang hợp tác để sản xuất máy bay không người lái ở Nga.

Cùng với những nguồn cung cấp này, các doanh nghiệp Trung Quốc cũng có thể cung cấp cho Nga nitrocellulose, chất được sử dụng để sản xuất nhiên liệu đẩy cho vũ khí. Các quan chức cũng nói với các phóng viên rằng tình báo Mỹ chỉ ra rằng Trung Quốc đang cung cấp hình ảnh vệ tinh cho Nga để sử dụng ở Ukraine.

Một quan chức cho biết: “Quan điểm của chúng tôi là một trong những động thái mang tính thay đổi cuộc chơi nhất mà chúng tôi có thể thực hiện vào thời điểm này để hỗ trợ Ukraine là thuyết phục Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ngừng giúp Nga tái thiết cơ sở công nghiệp quân sự của mình”.

“Nga sẽ gặp khó khăn để duy trì nỗ lực chiến tranh nếu không có sự tham gia của Trung Quốc.”

Trung Quốc khẳng định rằng liên minh của họ với Nga là bình thường và họ không hỗ trợ vũ khí cho Ukraine hay Nga trong suốt cuộc chiến toàn diện.

Phát ngôn nhân Bộ Ngoại giao Trung Quốc Mao Ninh đáp lại những lời chỉ trích của phương Tây trong cuộc họp báo ngày 10 Tháng Tư, nói rằng quan hệ đối tác giữa Bắc Kinh và Mạc Tư Khoa cấu thành “sự hợp tác bình thường”.

Mao Ninh nói: “Trung Quốc sẽ không chấp nhận những lời buộc tội và gây áp lực”.

Tạ Phong (Xie Feng, 谢锋) đại sứ Trung Quốc tại Mỹ cũng nói với Reuters rằng Trung Quốc không cung cấp vũ khí cho Nga hay Ukraine; và vẫn là một bên trung lập.

Phong nói: “Chúng tôi kêu gọi phía Mỹ kiềm chế không chê bai và coi thường mối quan hệ bình thường giữa Trung Quốc và Nga”

10. Phó Tổng tư lệnh Lực lượng vũ trang Ukraine cho biết: Việc vận chuyển máy bay không người lái đến tiền tuyến năm nay đã cao gấp 3 lần so với năm 2023

Tờ Kyiv Independent cho biết như trên trong bài tường trình nhan đề “Deputy commander: Drone deliveries to front line this year already 3 times higher than in 2023”. Xin kính mời quý vị và anh chị em theo dõi bản dịch sang Việt Ngữ qua phần trình bày của Cẩm Yến.

Theo Phó Tổng tư lệnh Lực lượng vũ trang Ukraine Vadym Sukharevskyi, số lượng máy bay không người lái được vận chuyển đến tiền tuyến ở Ukraine kể từ đầu năm 2024 đã cao gấp ba lần so với cả năm ngoái.

“Kể từ đầu năm 2024, chúng tôi đã cung cấp số lượng máy bay không người lái nhiều hơn gần gấp ba lần so với cả năm trước. Quá trình này vẫn tiếp tục... và sẽ tiếp tục gia tăng”, Sukharevskyi cho biết như trên hôm Chúa Nhật, 14 Tháng Tư.

Sukharevskyi không nêu rõ số lượng máy bay không người lái chính xác được giao trong năm nay.

Các hệ thống không người lái đã trở thành năng lực then chốt cho cả hai bên trong cuộc chiến tranh của Nga, khi Kyiv tăng cường sản xuất và nhập khẩu máy bay không người lái trong nước.

Cuối tháng 2, Sukharevskyi cho biết mục tiêu của Ukraine vào năm 2024 là đối đầu với lực lượng Nga trên chiến trường bằng máy bay không người lái. Theo Sukharevskyi, quân đội Ukraine không từ bỏ các hệ thống cũ mà đang tìm kiếm giải pháp để tăng cường khả năng hiện có của mình.

Sukharevskyi, một quan chức quân sự cao cấp Ukraine chịu trách nhiệm phát triển và sử dụng các hệ thống không người lái trong quân đội, cho biết hầu hết mọi máy bay không người lái được cung cấp đều được sản xuất trong nước.

Bộ trưởng Chuyển đổi kỹ thuật số Mykhailo Fedorov trước đó cho biết Ukraine sẽ đạt được mục tiêu sản xuất 1 triệu máy bay không người lái mỗi năm vào năm 2024.

Sukharevsky cũng thông báo rằng các máy bay không người lái hàng hải mà Ukraine từng sử dụng để tấn công các mục tiêu hải quân Nga ở Hắc Hải sẽ được triển khai tới Biển Azov “trong tương lai gần”.

Máy bay không người lái hàng hải “Sea Baby” của Ukraine đã được sử dụng trong nhiều cuộc tấn công vào Hạm đội Hắc Hải của Nga kể từ năm ngoái.

Ông cũng cho biết khả năng Ukraine phóng máy bay không người lái có khả năng vươn tới 1.200 km bên trong lãnh thổ Nga “không phải là giới hạn”.

“Và hãy tin tôi, hôm nay và thậm chí cả ngày hôm qua, 1.200 km không phải là giới hạn,” đại tá nói.

Lực lượng Ukraine đã tiến hành một loạt cuộc tấn công bằng máy bay không người lái nhằm mục đích gây thiệt hại cho các cơ sở sản xuất và công nghiệp dầu mỏ của Nga.

Ukraine hôm 2 Tháng Ba đã tấn công các cơ sở sản xuất máy bay không người lái và một nhà máy lọc dầu ở các thành phố Yelabuga và Nizhnekamsk thuộc Cộng hòa Tatarstan của Nga, cách biên giới nước này khoảng 1.300 km. Đây là cuộc tấn công đầu tiên của Ukraine vào khu vực này của Nga kể từ khi bắt đầu cuộc xâm lược toàn diện.

Tổng cộng có 12 nhà máy lọc dầu của Nga được cho là đã bị tấn công thành công ở nhiều khu vực nằm sâu trong lãnh thổ Nga tính đến ngày 17 tháng 3.

Tổng thống Volodymyr Zelenskiy đã ký một sắc lệnh vào tháng 2, thành lập một nhánh riêng của Lực lượng Vũ trang Ukraine chuyên phụ trách máy bay không người lái.

Thứ trưởng Bộ Công nghiệp Chiến lược Hanna Hvozdiar cho biết Ukraine có khả năng sản xuất 150.000 máy bay không người lái mỗi tháng và có thể sản xuất 2 triệu máy bay không người lái vào cuối năm nay.

11. Nga tấn công 10 cộng đồng biên giới ở Sumy

Trong cuộc họp báo tại trung tâm báo chí Kyiv chiều Chúa Nhật 14 Tháng Tư, phát ngôn nhân cảnh sát quốc gia Ukraine, Đại Úy Alyona Lyutnytska, cho biết lực lượng Nga đã tấn công 10 cộng đồng dọc biên giới Sumy 21 lần vào ngày 13 Tháng Tư, gây ra 118 vụ nổ.

Cư dân sống dọc biên giới phía đông bắc của Sumy với Nga phải hứng chịu các cuộc tấn công hàng ngày từ quân đội Nga gần đó.

Các cộng đồng Myropillia, Khotin, Svesa, Esman, Shalyhyne, Bilopillia, Putyvl, Seredyna-Buda, Velyka Pysarivka và Krasnopillia đã trở thành mục tiêu của pháo binh, súng cối, hỏa tiễn, máy bay không người lái góc nhìn thứ nhất súng phóng lựu và bom dẫn đường KAB của Nga.

Cộng đồng Bilopillia và Seredyna-Buda hứng chịu các cuộc tấn công nặng nề nhất bằng súng cối, pháo binh và hỏa tiễn, gây ra đến 26 vụ nổ ở mỗi khu vực trong suốt cả ngày.

Cộng đồng Sver đã hứng chịu hai vụ tấn công bằng bom dẫn đường của KAB.

Không có thương vong hoặc thiệt hại về cơ sở hạ tầng dân sự dọc biên giới được báo cáo.

Một ngày trước đó, một cuộc không kích của Nga nhằm vào thủ phủ khu vực, thành phố Sumy, đã khiến 3 người bị thương và các tòa nhà dân cư và hành chính bị hư hại.

12. Ngoại trưởng Tajikistan chỉ trích cách đối xử với nghi phạm tấn công Mạc Tư Khoa, đàn áp người Tajik ở Nga

Tối 22 Tháng Ba, một số tay súng đã nổ súng tại Tòa thị chính Crocus ở Krasnogorsk, ngoại ô Mạc Tư Khoa, khiến ít nhất 144 người thiệt mạng. Một nhánh của Nhà nước Hồi giáo đã nhận trách nhiệm về vụ tấn công ngay sau đó.

Chính quyền Nga đã bắt giữ 11 người đàn ông, trong đó có 10 người đến từ Tajikistan, liên quan đến vụ tấn công, trong đó có 4 người bị cáo buộc trực tiếp tham gia.

Bốn nghi phạm người Tajik xuất hiện tại tòa với những dấu hiệu bị đánh đập rất rõ ràng, sau các video và hình ảnh được lan truyền rộng rãi trên mạng xã hội Nga mô tả cảnh họ bị chính quyền Nga tra tấn. Một người bị móc mắt, và một khác bị xẻo lỗ tai và bị buộc phải ăn lỗ tai của mình.

Ngoại trưởng Sirojiddin Muhriddin nói: “Việc sử dụng tra tấn dưới hình thức cắt xẻo cơ thể là không thể chấp nhận được.”

“Cái giá của những lời thú tội được trích ra theo cách này thì mọi người đều biết rõ”.

Cao ủy Nhân quyền Liên Hiệp Quốc đã viết vào năm 2017 rằng ngoài việc “vô đạo đức” và “bất hợp pháp”, tra tấn còn “không hiệu quả”. Mark Fallon, cựu quan chức Mỹ từng giám sát các cuộc thẩm vấn tại trại giam Vịnh Guantanamo ở Cuba, cho biết, nó thậm chí có thể “phản tác dụng”.

Các sự việc bài ngoại cũng được báo cáo hàng loạt sau vụ tấn công, cũng như trường hợp người Trung Á rời khỏi Nga vì lo ngại có thể bị trả thù và phân biệt chủng tộc gia tăng.

Muhriddin nói rằng do kết quả của một “chiến dịch thông tin sai lầm”, “nhận thức tiêu cực đang được hình thành đối với Tajikistan và người Tajiks”.

Hàng triệu người Tajik và những người Trung Á khác sống lâu dài ở Nga hoặc làm việc theo mùa ở đó. Ngân hàng Thế giới ước tính vào năm 2022 rằng lượng kiều hối gửi về từ người lao động nhập cư chiếm tới 50% GDP của Tajikistan.
 
Phản ứng của Tòa Thánh về vụ tấn công kinh hoàng ở Sydney. Các cuộc phỏng vấn ĐGH luôn là mạo hiểm
VietCatholic Media
17:34 14/04/2024


1. Điện văn của Đức Giáo Hoàng gởi Đức Tổng Giám Mục Anthony Colin Fisher của Sydney chia buồn về vụ tấn công bạo lực

Tòa Thánh vừa công bố Điện văn của Đức Giáo Hoàng, do Đức Hồng Y Pietro Parolin, Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh ký, gởi Đức Tổng Giám Mục Anthony Colin Fisher của Sydney chia buồn về vụ tấn công bạo lực ở Sydney, Australia, diễn ra hôm Thứ Bẩy, 13 Tháng Tư.

Bức điện viết như sau:

Kính gởi: Đức Cha Anthony Fisher

Tổng Giám Mục Sydney

Đức Thánh Cha Phanxicô vô cùng đau buồn khi biết về cuộc tấn công bạo lực ở Sydney, và ngài gửi đến Đức Cha sự bảo đảm về sự gần gũi tinh thần của ngài với tất cả những ai bị ảnh hưởng bởi thảm họa vô nghĩa này, đặc biệt những người hiện đang đau khổ về sự mất mát người thân yêu. Ngài cũng cầu nguyện cho những người quá cố, những người bị thương, cũng như những người phản ứng đầu tiên, và kêu cầu ơn an ủi, sức mạnh, và phúc lành của Thiên Chúa trên đất nước.

+Hồng Y Pietro Parolin

Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh


2. Sáu người thiệt mạng trong vụ tấn công bằng dao ở trung tâm thương mại Sydney

Tờ Newsweek cho biết như trên trong bài tường trình nhan đề “Six Killed in Sydney Mall Stabbing Attack”. Xin kính mời quý vị và anh chị em theo dõi bản dịch sang Việt Ngữ qua phần trình bày của Thụy Khanh.

Theo cảnh sát, ít nhất sáu người đã thiệt mạng trong một vụ tấn công bằng dao tại một trung tâm mua sắm ở Sydney, Australia, trước khi một nữ cảnh sát bắn chết nghi phạm.

Thanh tra Cảnh sát New South Wales Karen Webb cho biết những người thiệt mạng bao gồm 5 người phụ nữ và một người đàn ông. Trong số này, một phụ nữ chết tại bệnh viện do vết thương quá nặng, những người còn lại chết ngay tại hiện trường.

Tám người, trong đó có một đứa trẻ 9 tháng tuổi, đã được đưa đến bệnh viện vì bị thương trong vụ tấn công, The Sydney Morning Herald đưa tin.

Trợ lý Cảnh sát New South Wales Anthony Cooke cho biết một kẻ tấn công đơn độc đã bước vào một nhà hàng trong trung tâm thương mại Westfield Bondi Junction vào khoảng 3h10 chiều giờ địa phương hôm thứ Bảy.

Anh ta rời khỏi trung tâm và quay trở lại 10 phút sau đó khi “anh ta giao chiến với khoảng 9 người” và đâm họ “bằng vũ khí anh ta mang theo”.

Một nữ cảnh sát đã “đối mặt với kẻ phạm tội”, kẻ này quay sang cô và giơ dao. Cooke nói: “Cô ấy đã nổ súng và hung thủ hiện đã chết.

Tuyên bố của cảnh sát về sự việc nghiêm trọng tại Westfield Bondi Junction được đưa ra ngay trước 4 giờ chiều và hàng trăm người đã được di tản khỏi trung tâm mua sắm.

“Chúng tôi vẫn đang kêu gọi mọi người không đến khu vực này”, phát ngôn nhân của Cảnh sát New South Wales nói với Newsweek.

Một nhân chứng cho biết họ nhìn thấy một người phụ nữ nằm trên mặt đất và trốn trong một cửa hàng bán đồ trang sức. “Đó là điều tồi tệ nhất từ trước đến nay, ai lại làm điều đó với mọi người?” Một người phụ nữ giấu tên đứng bên ngoài trung tâm thương mại cho biết trong một cuộc phỏng vấn trên Sky News.

“Tôi không nhìn thấy anh ta vì tôi đang chạy, điều đó thật điên rồ, thật là điên rồ,” cô nói. “Tôi chỉ nghĩ mình sắp chết.” Một nhân chứng nam trong trung tâm thương mại cho biết anh nghe thấy 5 tiếng súng rồi im lặng.

Brendan Blomeley, người đang cùng hai con ở Westfield khi nghe thấy hai tiếng súng, nói với đài ABC của Australia: “Thật đáng sợ, thật đau khổ” và rằng ông cùng gia đình phải trốn trong một cửa hàng cùng hàng trăm người khác. “Đó thật là một trong những tình huống mà bạn không mong muốn xảy ra với bất kỳ ai,” anh nói.

Thủ tướng Úc Anthony Albanese đã viết trên X, “Thật bi thảm, nhiều thương vong đã được báo cáo và suy nghĩ đầu tiên của tất cả người dân Úc là hướng về những người bị ảnh hưởng và những người thân yêu của họ.”

“Trái tim của chúng tôi hướng về những người bị thương và chúng tôi gửi lời cảm ơn đến những người chăm sóc họ cũng như cảnh sát dũng cảm và những người ứng cứu đầu tiên của chúng tôi.”

Albanese sau đó cho biết trong một cuộc họp báo rằng nhà chức trách sẽ tiến hành một cuộc điều tra đầy đủ và có vẻ như kẻ tấn công đã “hành động một mình”.

Ông nói thêm: “Động cơ vẫn chưa được biết và suy đoán về điều đó sẽ không hữu ích vào lúc này”.

Trong một tuyên bố, Penny Sharpe, quyền thủ hiến bang New South Wales, cho biết: “Tôi bị sốc trước báo cáo về nhiều người thương vong tại Bondi Junction vào cuối chiều nay.

“Suy nghĩ của tôi và Chính phủ New South Wales hướng về các nạn nhân, gia đình họ và những người ứng phó đầu tiên vào thời điểm này, cũng như những người có thể đã phải chứng kiến những sự kiện kinh hoàng này.”

3. Hơn 700 người được rửa tội vào lễ Phục sinh ở Nigeria bất chấp các cuộc tấn công nhằm vào các Kitô hữu gia tăng

Hơn 700 Kitô hữu đã được rửa tội vào Chúa Nhật Phục Sinh tại Giáo phận Công Giáo Katsina của Nigeria, nơi có sự gia tăng các cuộc tấn công chủ yếu nhắm vào các cộng đồng Kitô giáo.

Trong một cuộc phỏng vấn ngày 3 tháng 4 với ACI Africa, đối tác tin tức của CNA tại Phi Châu, Đức Giám Mục Gerald Mamman Musa đã vui mừng trước lễ Phục sinh thành công – đó là lễ Phục sinh đầu tiên của giáo phận. Giáo phận Katsina vừa được Đức Thánh Cha Phanxicô thành lập vào tháng 10 năm 2023.

“Đó là một lễ kỷ niệm rất tuyệt vời vì lần đầu tiên chúng tôi có các linh mục tập trung tại nhà thờ để dự lễ kỷ niệm đó,” vị giám mục 53 tuổi nói.

“ Bất chấp những thách thức bất an mà chúng tôi phải đối mặt với tư cách là một giáo phận, chúng tôi đã có hơn 700 người đã được rửa tội và rước lễ. Đó là một con số đáng kinh ngạc”, Đức Cha Musa nói.

“Điều này cho chúng ta biết rằng Chúa đang làm việc theo những cách bất ngờ nhất. Ngay cả ở những nơi xa xôi, ngay cả ở những nơi mà bạn nghĩ rằng có thiểu số Kitô hữu, Thiên Chúa vẫn đang hoạt động”, Đức Giám Mục nói. “Và chúng tôi cảm ơn Chúa vì vụ thu hoạch mà chúng tôi có được. Thu hoạch theo số lượng thành viên ngày càng tăng mà chúng tôi có.”

“Chúng tôi tin rằng theo thời gian, chúng tôi sẽ có thêm nhiều người đang cải đạo, một số lượng lớn hơn những người sắp được rửa tội. Chúng tôi tin rằng chúng tôi sẽ có thêm nhiều người cam kết hơn với đức tin của mình”, Đức Cha Musa nói với ACI Phi Châu.

Ngài nói tiếp: “Thách thức mà chúng tôi đang gặp phải, ảnh hưởng đến việc truyền giáo, là thách thức về sự bất an”.

Đức Giám Mục lưu ý rằng ở khu vực phía nam của bang, hàng ngàn người đã phải di dời bởi những người mà ngài mô tả là “những tên cướp”.

Ngài cho biết trong Mùa Chay, ngài đã đến thăm 45 gia đình bị chính quyền địa phương di dời khỏi bang Katsina. “Và họ không chỉ là những người duy nhất,” Musa nói. “Có khoảng 300 cộng đồng đã phải di dời.”

“Điều này ảnh hưởng đến công việc truyền giáo vì những người này có nhà thờ. Họ phải rời khỏi nhà thờ để đi nơi khác sinh sống”, ngài nói. “Họ muốn trở về quê hương nhưng khó khăn vì thách thức bất an vẫn còn đó”.

Đức Cha Musa vẫn hy vọng rằng giáo phận của ngài sẽ tiếp tục hỗ trợ những người cải đạo mới đã đón nhận đức tin.

“Chúng tôi muốn phát triển một hệ thống trong đó những người đã cải đạo cũng như những người có đức tin sẽ được đào tạo tốt. Và chúng tôi muốn phát triển việc đào tạo lâu dài”, ngài nói.

“Việc đào tạo không chỉ kết thúc với việc dạy giáo lý chuẩn bị cho chúng ta rước lễ. Việc đào tạo không chỉ kết thúc bằng việc dạy giáo lý khi chúng ta chuẩn bị lãnh nhận bí tích rửa tội. Nhưng việc đào tạo đức tin phải kéo dài suốt cuộc đời để người dân chúng ta tiếp tục phát triển trong đức tin”.

4. Các cuộc phỏng vấn Đức Thánh Cha dành cho báo chí luôn là một công việc mạo hiểm

John L Allen của tờ Crux có bài nhận định nhan đề “The Pope and the Press: papal interviews have always been a risky business” nghĩa là “Đức Thánh Cha và Báo chí: các cuộc phỏng vấn của Đức Thánh Cha luôn là một công việc mạo hiểm”. Xin kính mời quý vị và anh chị em theo dõi bản dịch sang Việt Ngữ qua phần trình bày của Kim Thúy.

Khởi đầu cho bạn: Vị giáo hoàng hiện đại nào sau đây đã trả lời một nhà báo trong một cuộc phỏng vấn cao cấp về những chủ đề cực kỳ nhạy cảm, kết quả của việc đó là gây tranh cãi trong và ngoài Giáo Hội Công Giáo, buộc các quan chức và phát ngôn nhân của Vatican phải đưa ra “những lời minh định” để làm dịu sóng gió?

A) Đức Giáo Hoàng Leo XIII

B) Đức Giáo Hoàng Phaolô VI

C) Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II

D) Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI

E) Đức Thánh Cha Phanxicô

F) Tất cả những vị trên

Câu trả lời đúng, như những độc giả sáng suốt chắc chắn đã phỏng đoán, là “F”. Trong khi các sự kiện gần đây có thể tạo ra ấn tượng rằng các cuộc phỏng vấn bất cẩn của giáo hoàng là một đặc điểm nổi bật của triều đại giáo hoàng Phanxicô, thì trên thực tế, chúng có một phả hệ lâu dài hơn nhiều.

Điều gây ra vòng tranh cãi mới nhất là cuốn sách mới của Đức Thánh Cha Phanxicô, El Sucesor, hay Người Kế Vị, mà ngài đã xuất bản cùng với nhà báo Tây Ban Nha Javier Martínez-Brocal về mối quan hệ giữa Đức Phanxicô và người tiền nhiệm của ngài, Đức Bênêđíctô XVI. Nó bắt đầu xuất hiện trên kệ sách vào ngày 3 tháng Tư.

Như nhà báo người Ý Massimo Gramellini đã nói, đọc cuốn sách này hơi giống như xem truyền hình thực tế về “Những bà nội trợ thực sự của Thành Vatican”. Trong số những điều khác, Đức Giáo Hoàng đã công khai đề cập đến các chi tiết bên trong của hai mật nghị, và chỉ trích phụ tá hàng đầu của Đức Bênêđíctô, là Đức Tổng Giám Mục Georg Gänswein, cho rằng ngài thiếu “sự cao quý và nhân văn”.

Lucetta Scaraffia, một nhà báo nổi tiếng người Ý và là cựu biên tập viên của tờ báo Vatican Quan Sát Viên Rôma chuyên về các vấn đề phụ nữ, đã lưu ý điều trớ trêu là Đức Thánh Cha Phanxicô thường cảnh báo về sự nguy hiểm của việc vu khống và buôn chuyện. Tuy nhiên, như cô ấy nói, để đánh giá từ cuốn sách mới, “người ta nghi ngờ Bergoglio nghĩ rằng một giáo hoàng có thể làm mà không cần tuân theo những quy tắc lành mạnh này”.

Phản ứng đối với cuốn sách mới đã chuyển từ ca ngợi sự thẳng thắn và minh bạch của Giáo hoàng đến sự tán dương hoài niệm về những ngày mà các giáo hoàng ít nhất cũng giữ một số suy nghĩ cho riêng mình. Dù người ta nghĩ thế nào về tình huống này, thực tế là Đức Phanxicô khó có thể là vị giáo hoàng đầu tiên tạo ra sức nóng bằng cách chấp nhận một cuộc phỏng vấn.

Thật vậy, các tiền lệ đã có từ ít nhất 132 năm trước, khi vào năm 1892, Đức Lêô XIII trở thành vị giáo hoàng đầu tiên trong lịch sử hiện đại trả lời phỏng vấn một nhà báo chuyên nghiệp – và, đồng thời, là vị giáo hoàng đầu tiên bị chỉ trích vì làm như vậy, và người đầu tiên buộc các trợ lý và các nhà hộ giáo phải đứng ra chống đỡ cho mình.

Vào dịp đó, người phỏng vấn Đức Giáo Hoàng là một nhà xã hội chủ nghĩa và vô thần người Pháp tên là Caroline Rémy, được độc giả biết đến nhiều hơn với bí danh Séverine. Rémy đã viết thư cho Đức Hồng Y Mariano Rampolla, Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh của Đức Giáo Hoàng Leo, để yêu cầu phỏng vấn, tự giới thiệu mình là “một người theo chủ nghĩa xã hội, mặc dù không ở trong tình trạng ân sủng, nhưng vẫn giữ nguyên vẹn trong trái tim bị tổn thương của mình một sự tôn trọng sâu sắc đối với đức tin, cũng như sự tôn kính đối với những người lớn tuổi uy nghiêm và các tù nhân của quốc gia.”

(Cụm từ cuối cùng đó ám chỉ đến Đức Piô IX, người đã tuyên bố mình là “tù nhân của Vatican” sau khi Vương quốc Ý mới thống nhất chiếm giữ các Lãnh thổ Giáo hoàng vào năm 1870.)

Cuộc trao đổi diễn ra ngay trước khi vụ Dreyfus bùng nổ ở Pháp, khi câu hỏi về chủ nghĩa bài Do Thái và thái độ đối với người Do Thái đang trở thành mâu thuẫn chính giữa những người theo chủ nghĩa tiến bộ và những người theo chủ nghĩa truyền thống ở Âu Châu. Mục tiêu của Rémy là đưa ra sự lên án rõ ràng về chủ nghĩa bài Do Thái từ Đức Giáo Hoàng.

Cô ta tin rằng mình đã thành công khi viết trong phần giới thiệu phần hỏi đáp do Figaro xuất bản: “Mặc dù ngài chưa bao giờ nói 'Tôi lên án', nhưng ngài nói 'Tôi không tán thành' mười lần trong một giờ. Tôi để người Công Giáo rút ra từ thái độ này kết luận mà họ thích hơn”.

Đức Giáo Hoàng Leo thực sự đã bày tỏ sự không đồng tình với “các cuộc chiến tranh tôn giáo” và “chủng tộc”, đồng thời ngụ ý rằng các khu ổ chuột cưỡng bức của Công Giáo Âu Châu thực sự nhằm mục đích bảo vệ và phục vụ người Do Thái, gọi các khu bị bao vây là biểu hiện của “sự dịu dàng và tình yêu thương huynh đệ”.. Mặt khác, ngài cũng nói rằng thật vô lý khi mong đợi Giáo hội bỏ bê những tín hữu “sùng đạo và nhiệt thành” của mình để ủng hộ những kẻ “ngạo đạo” “từ chối” thông điệp của Chúa Kitô, và những người đại diện cho một “gánh nặng và vết thương”. Ngài nói thêm rằng Giáo hội có trách nhiệm đặc biệt trong việc chống lại “triều đại của đồng tiền”, mà theo ngài, những kẻ “ngạo đạo” – tức là người Do Thái – ít nhất phải chịu trách nhiệm một phần.

Ngay cả những bình luận đó cũng khiến một số nhà bình luận Công Giáo cảnh giác, những người tin rằng giáo hoàng đang được gia nhập vào một chiến dịch tự do chống lại cơ sở Công Giáo ở Pháp. Cha Davide Albertario, một linh mục ở Milan và là biên tập viên của L'Osservatore Cattolico, một tờ báo được thành lập để bảo vệ ngôi vị giáo hoàng sau sự sụp đổ của các Lãnh thổ Giáo hoàng, ngay lập tức nhấn mạnh rằng Rémy đã xuyên tạc về giáo hoàng “từ đầu đến cuối”.

Cha Albertario cho rằng thật sai lầm khi khẳng định rằng Đức Giáo Hoàng Leo đã “bày tỏ những ý tưởng trái ngược với chủ nghĩa bài Do Thái”, và trên thực tế, Đức Giáo Hoàng “hoàn toàn không tham gia vào cuộc tranh luận về chủ nghĩa bài Do Thái”.

Các giáo hoàng tương lai lẽ ra phải biết rằng mọi việc sẽ không dễ dàng hơn bất cứ khi nào các ngài chọn ngồi nói chuyện với một thành viên báo chí.

Chẳng hạn, Đức Phaolô Đệ Lục đã có một cuộc phỏng vấn hiếm hoi vào năm 1965 với một nhà báo nổi tiếng người Ý tên là Alberto Cavallari, trong đó ngài dự đoán trận động đất sẽ xảy ra ba năm sau đó với thông điệp Humanae Vitae của ngài, trong đó tái khẳng định lệnh cấm của Giáo hội đối với việc kiểm soát sinh sản nhân tạo: “ Bạn có thể học tất cả những gì bạn muốn, nhưng quyền quyết định là do chúng tôi quyết định. Trong việc quyết định, chúng tôi đơn độc,” Đức Phaolô Đệ Lục nói, sử dụng số nhiều theo thông lệ của hoàng gia.

Đường lối đó đã gây ra sự chỉ trích ngay lập tức, đặc biệt là từ những người Công Giáo cấp tiến vốn khăng khăng rằng một giáo hoàng không bao giờ nên đơn độc trong việc đưa ra các quyết định, mà thay vào đó phải được hướng dẫn bởi sensus fidelium: “ý thức của các tín hữu”.

Từ đó, chúng ta đến với cuốn sách phỏng vấn năm 1994 của Đức Gioan Phaolô II với nhà báo người Ý Vittorio Messori, có tựa đề Vượt qua ngưỡng cửa hy vọng, trong đó ngài đã khuấy động cuộc tranh cãi to lớn khắp Á Châu bằng cách gọi giáo lý Phật giáo là “gần như hoàn toàn tiêu cực”, “ở mức độ lớn là vô thần” và có đặc điểm là “thờ ơ với thế giới”. Ngay sau đó, Đức Gioan Phaolô II đã phải đối mặt với sự phản đối và thất vọng khi đến thăm Sri Lanka, một quốc gia có phần lớn dân số theo đạo Phật, nơi các hiệp hội Phật giáo hàng đầu của đất nước này yêu cầu một lời xin lỗi.

Sau đó, chúng ta có thể lưu ý đến cuộc gặp gỡ của Đức Bênêđíctô XVI với các nhà báo trên đường đến Cameroon vào năm 2009, trong đó, khi trả lời câu hỏi của Philippe Visseyrias của kênh truyền hình công cộng Pháp France 2, Đức Thánh Cha nhấn mạnh rằng không chỉ việc sử dụng bao cao su không phải là câu trả lời cho HIV / Khủng hoảng AIDS, nhưng “ngược lại, nó làm tăng thêm vấn đề”. Nhận định đó đã gây ra một làn sóng phản đối dữ dội, bao gồm cả một nghị quyết chưa từng có từ quốc hội Bỉ coi những nhận xét của Đức Giáo Hoàng là “không thể chấp nhận được”, được thông qua với tỷ lệ bỏ phiếu 95-18. Nó đánh dấu lần đầu tiên một cơ quan lập pháp Âu Châu chính thức kiểm duyệt một giáo hoàng.

Giovanni Maria Vian, giáo sư lịch sử giáo hội và cựu biên tập viên của L'Osservatore Romano, gần đây đã rút ra kết luận rõ ràng từ lịch sử đầy sóng gió này: “Theo định nghĩa, các cuộc phỏng vấn các giáo hoàng dành cho báo chí luôn là một rủi ro,” Vian nói. “Điều đó phụ thuộc vào những câu hỏi mà các nhà báo đặt ra, nhưng chắc chắn rằng chúng luôn nguy hiểm.”

Khi chỉ trích Đức Thánh Cha Phanxicô về phong cách phóng khoáng mà ngài giao tiếp với báo chí, đặc biệt là đến tần suất gần như siêu thực mà ngài làm như vậy, đừng giả vờ rằng ngài là giáo hoàng đầu tiên gây chấn động với những cuộc phỏng vấn giật gân - bởi vì không phải như thế, và cũng không có khả năng ngài là người cuối cùng.


Source:Catholic Herald