Ngày 28-01-2021
 
Phụng Vụ - Mục Vụ
Giáo Huấn Mới
Lm Vũđình Tường
00:49 28/01/2021
Đức Kitô có thói quen tham dự sinh hoạt ngày cuối tuần nơi hội đường. Hội đường là nơi giải thích về sách Ngũ Kinh. Lãnh đạo hội đường thường mời người tham dự có khả năng, hướng dẫn dân chúng để có tính mới mẻ, sinh động. Đức Kitô được mời giảng giải. Lời giảng của Ngài không chỉ gây xúc động mạnh trong tâm hồn người nghe, mà còn làm thay đổi cách suy nghĩ và ảnh hưỏng tới lối sống của họ. Người ta rất đỗi kinh ngạc. Người ta ca tụng về kiến thức, trí thông hiểu, và sự khôn ngoan, thông thái nơi Ngài.Giáo huấn của Ngài không phải chỉ thuần lập lại những gì các học giả khác đã lí giải, mà chính Ngài đưa ra những giải thích, hướng dẫn mới liên quan trực tiếp đến đời sống dân chúng. Người ta kháo với nhau,

'Người giảng dậy như kẻ có thẩm quyền, chứ không như các kinh sư' Mk1,22.

Kinh sư thường dùng truyền thống làm bảo chứng cho việc giảng dạy. Phong tục và truyền thống nào trở thành gánh nặng cho dân đều được Đức Kitô sửa đổi cho hợp với tình yêu Chúa. Đức Kitô dùng chính uy quyền của Ngài để thay đổi, giảng dậy. Giáo huấn của Ngài cởi trói cho dân chúng, làm cho cuộc sống dễ thở hơn, thanh thản hơn. Có lần Ngài đặt thẳng vấn đề với các kinh sư.

'Ngày Sabbath được làm điều lành hay điều dữ, cứu mạng người hay giết đi?' Mk 3,4.

Theo Đức Kitô thì phong tục, tập quán, luật lệ là cho con người, chứ không phải con người làm nô lệ cho phong tục, tập quán

'Con Người làm chủ ngày Sabbath Mk 2,28.

Đức Kitô giảng dậy như Đấng có uy quyền. Uy quyền của Ngài đến từ Thiên Chúa bởi chính Ngài là Con Thiên Chúa. Nhớ lại ngày Đức Kitô chịu phép rửa, vừa bước lên bờ, Thánh Thần Chúa, dưới hình chim bồ câu, ngự xuống trên Ngài. Trên trời cao có tiếng phán bảo

'Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người' Mk 1,10.

Như thế uy quyền của Đức Kitô đến từ nơi Ngài, không phải do truyền thống. Uy quyền của Đức Kitô được thánh Gioan Tẩy Giả nhắc đến là uy quyền từ trời cao ban xuống Mk 1,8. Với Uy quyền đó, Đức Kitô loan báo cho toàn dân là Nước Thiên Chúa đến gần anh em; thực ra nước đó đang ở giữa anh em. Bởi nơi đâu Thiên Chúa hiện diện, nước Thiên Chúa hiển trị nơi đó.
Phúc âm thánh Marcô không nhắc đến điều Đức Kitô rao giảng với dân chúng. Từ những điều người ta ca tụng Ngài, chúng ta có thể đoán biết Người dậy dân chúng những điều liên quan đến cuộc sống của họ, những âu lo họ đang mắc phải, những lo lắng họ ngày đêm lo sợ, và những trông đợi họ đang mong chờ. Một nguồn tài liệu khác cũng giúp ta nhận biết điều Đức Kitô rao giảng. Từ môi miệng những kẻ chống đối Đức Kitô, chúng ta cũng đoán biết Đức Kitô rao giảng những gì? Đức Kitô đón chào những kẻ thu thuế và người tội lỗi. Ngài cho họ biết họ cũng là con cái Thiên Chúa. Đức Kitô giải thoát những sợ hãi nơi dân chúng. Ngài chữa bệnh cho kể đau yếu, bệnh tật. Nhiều lần Ngài ngăn cấm không cho ma quỉ lên tiếng nói về nguồn gốc, xuất xứ, Ngài là Đấng Thánh của Thiên Chúa. Bởi là Đấng Thánh nên Ngài không đối thoại với loài tồi tệ, xấu xa, chuyên gây tội. Ngài ra lệnh cho chúng 'câm miệng' và chúng phục tùng Ngài. Như thế Ngài có quyền trên ma quỉ.

Giáo Huấn của Đức Kitô và uy quyền Ngài gắn liền, luôn đi chung với nhau. Có lần Ngài nói với kẻ chống đối Ngài là Ngài có quyền tha tội.

'Để các ông biết, Con Người có quyền tha tội. Đức Kitô bảo người bại liệt: Ta truyền cho con, hãy đứng dậy, vác chõng đi về nhà. Người bại liệt liền đứng dậy, vãc chõng đi về nhà' Mk 2,11-12.

Dân chúng thích nghe Ngài giảng dậy bởi giáo huấn Ngài mới mẻ. Ngài nói với họ về tình yêu Chúa, lòng Chúa xót thương bao la, quảng đại hơn là án phạt của Thiên Chúa. Nghe Đức Kitô rao giảng, người ta có cảm tưởng Thiên Chúa đang ở giữa họ và Thiên Chúa là Thiên Chúa của họ. Thiên Chúa chia xẻ những lo âu, lo lắng, sầu khổ của dân Ngài, và Thiên Chúa cùng đồng hành với dân Ngài trong mọi tình huống của cuộc sống. Nghe Đức Kitô rao giảng, dân chúng cảm thấy Nước Thiên Chúa là cho họ, và cho những ai thành tâm đón nhận lời Chúa, và chân thành phục vụ tha nhân vì Danh thiên Chúa.

TiengChuong.org

New Teaching

Jesus' custom was to go to a synagogue on a Sabbath, and there he preached to the people. Synagogue leaders often invited a fresh, new, promising voice to teach in their synagogues. Jesus' teaching not only made tremendous impact on people, but actually His teaching changed their lives. They spoke highly of Him. They were amazed about His wisdom. They praised Him, saying that His teaching was not just revised old teaching, but actually it was a new teaching, and He taught with authority. Scribes often relied on customs and traditions as the sources of authority to interpret the Torah. Many of their customs and traditions were conservative, and were heavy burdens for the people, and they were weighty on punishment. Unlike the Scribes, Jesus taught the people about God's love, and mercy. He once asked the people who challenged Him 'Is it against the law on the Sabbath day to do good or to do evil; to save life or to kill? Mk 3,4. For Jesus, laws, and customs, and traditions were for people, not people for traditions. Jesus taught with authority. Jesus' authority was not derived from the ancient customs and traditions, but from within, from His personal authority. This personal authority was confirmed upon Him on the day of His Baptism. On that day, the Spirit came upon Him, and the voice of God from on high confirmed Jesus was the Son of God 'You are my Son, the Beloved, my favour rests on you' Mk.1,11. Jesus' authority came from God: The authority to proclaim, that God's kingdom was with the people, and for the people.

The text mentioned nothing about what Jesus taught the people. From what people praised about His teaching, we believe Jesus taught them about something, which was dear to their hearts, and some things which were relevant to their daily living, and something which they had longed for years to listen to. There was another source of information that let us know what Jesus taught the people, and that was the annoying voice from His opponents. Through their complaints, we know Jesus gave voice to the poor. He criticized regulations and customs that destroyed life. Jesus welcomed sinners and tax collectors. He ate with them to show, they too, were God's children, and God loved them. Jesus freed the people from fear, and brought them hope by curing all kinds of sicknesses and diseases. Several times Jesus ordered evil spirits to 'be quiet', and they obeyed Him. Jesus was the Holy One of God. The Holy One would not talk to the unholy, but just gave a command, and they obeyed. Jesus came to the world to set God's people free from the unholy ones.

Jesus' authority and His teaching were identical. His teachings had power, and His power was manifested through His teachings. He once told his opponents that He would prove to them that the Son of Man has power to forgive sin. He gave a command to the cripple to be healed. 'But to prove to you that the Son of Man has authority on earth to forgive sins, he said to the paralytic ' I order you: get up, pick up your stretcher, and go off home. And the man got up, picked up his stretcher at once and walked out in front of everyone'. Mk, 2:11f.

The people enjoyed listening to Jesus because His teaching was new. He talked more about God's love and mercy, and less about God's wrath and punishment. Listening to Jesus, the people felt, that the God, Jesus talked about was the personal God, Who was close to their hearts, Who walked with them in every circumstance and understood their hardships. Listening to Jesus, the people felt, that God's kingdom was close at hand, and for everyone who lived a life of loving God, and serving others in God's name.
 
Tin Giáo Hội Hoàn Vũ
Đức Hồng Y Müller cảnh báo: Biden đang đi tiên phong trong chiến dịch ‘triệt hạ Kitô Giáo khỏi văn hóa Tây Phương’
Đặng Tự Do
03:44 28/01/2021

Tuần đầu tiên sau khi ông Joe Biden nhậm chức đã được đánh dấu bằng hàng loạt các tuyên bố phản đối của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ cũng như cá nhân các Hồng Y và Giám Mục. Điều này chưa từng xảy ra đối với các tổng thống Hoa Kỳ trước đây. Trước diễn biến chưa từng có này, Đức Hồng Y Gerhard Müller, nguyên tổng trưởng Bộ Giáo Lý Đức Tin, đã có một cuộc phỏng vấn với thông tấn xã Công Giáo Áo Kath.net vào ngày 26 tháng Giêng, để trình bày những ý kiến của ngài sau một tuần đầy những bất ngờ và thất vọng.

Toàn bộ cuộc phỏng vấn bằng tiếng Đức có thể xem tại đây.

Ký giả Martin Bürger có bài tường trình sau. Nguyên bản tiếng Anh có thể xem tại đây.

Dưới đây là bản dịch toàn văn sang Việt Ngữ.

Đức Hồng Y Gerhard Müller, nguyên tổng trưởng Bộ Giáo Lý Đức Tin, đã cảnh báo rằng chính phủ Hoa Kỳ dưới thời Tổng thống Joe Biden, “với quyền lực chính trị, truyền thông và sức mạnh kinh tế tập trung trong tay, đang đi đầu trong một chiến dịch tàn bạo tinh vi nhất trong thời gian 100 năm trở lại đây nhằm triệt hạ Kitô Giáo khỏi văn hóa Tây Phương”.

Trong một cuộc phỏng vấn với trang web tin tức Công Giáo nói tiếng Đức kath.net được phát hành vào hôm 26 tháng Giêng, Đức Hồng Y Müller cho biết có “những người Công Giáo, từ các giáo dân tốt cho đến những cấp cao nhất ở Vatican” đang “hạ thấp sinh mạng của hàng triệu trẻ em giờ đây sẽ trở thành nạn nhân của chiến dịch phá thai được phối hợp toàn cầu dưới cách nói hoa mỹ là ‘quyền được chăm sóc sức khỏe sinh sản’ bằng cách đổ tội do những khiếm khuyết trong tính cách của Tổng thống Trump”.

Đức Hồng Y giải thích rằng một người anh em đã nói với ngài rằng không nên giản lược mọi chuyện vào vấn đề phá thai mà thôi. “Anh ấy nói, rốt cuộc việc lật đổ Trump đã ngăn chặn nguy cơ lớn hơn nhiều rằng kẻ điên khùng này sẽ nhấn nút hạt nhân”, Đức Hồng Y kể lại như thế, trước khi giải thích rằng theo quan điểm của ngài, “đạo đức cá nhân và xã hội phải được ưu tiên hơn chính trị. Ranh giới đã bị vượt qua khi niềm tin và đạo đức bị bán đứng cho những tính toán chính trị. Tôi không thể ủng hộ một chính trị gia ủng hộ việc phá thai vì ông ta xây nhà tế bần, và không thể vì những điều tốt đẹp tương đối, mà phải chấp nhận cái ác tuyệt đối”.

Đức Hồng Y đã giải thích giáo huấn của Giáo hội về phá thai bằng cách tham chiếu đến Hiến Chế Mục Vụ Về Giáo Hội Trong Thế Giới Ngày Nay Gaudium Et Spes của Công đồng Vatican II, được công bố vào năm 1965, “Vì Chúa, là Thiên Chúa là Chúa sự sống, đã trao cho con người nhiệm vụ cao cả là bảo tồn sự sống, và họ phải chu toàn bổn phận ấy cách xứng hợp với con người. Do đó, sự sống ngay từ lúc thụ thai phải được giữ gìn hết sức cẩn thận; phá thai và sát nhi là những tội ác ghê tởm” (Gaudium Et Spes, 51).

Như thế, “điều xấu xa tự bản chất” không thể “được phép, chấp thuận và khuyến khích trong đời sống công cộng” bởi những người tự xưng mình là chính trị gia Công Giáo, trong khi đức tin chỉ được xem là một vấn đề riêng tư.

Vị Hồng Y người Đức và nguyên là giám mục Regensburg thừa nhận rằng “Trong hành động thực tế cụ thể, các Kitô hữu trong quốc hội hoặc chính phủ có thể không phải lúc nào cũng thành công trong việc thực thi luật luân lý tự nhiên ở mọi khía cạnh. Nhưng họ không bao giờ được tham gia, dù chủ động hay thụ động, vào cái ác. Ít nhất, họ phải phản đối nó và – trong chừng mực có thể – chống lại nó, ngay cả khi họ bị phân biệt đối xử vì làm như vậy”.

Đức Hồng Y Müller chỉ ra rằng bất kỳ ai “với tư cách là một Kitô hữu có lập trường chống lại khuynh hướng tuyên truyền của truyền thông chính mạch về LGBT, phá thai, hợp pháp hóa sử dụng ma túy, xóa bỏ sự khác biệt giới tính nam nữ, đều bị chỉ trích cay nghiệt là ‘cực hữu’ hoặc thậm chí là ‘Đức quốc xã’, mặc dù chính những người theo chủ nghĩa xã hội với hệ tư tưởng xã hội và sinh học Darwin của họ mới chính là những người mâu thuẫn công khai nhất với hình ảnh con người theo Kitô giáo”.

Trong vài ngày đầu tiên của nhiệm kỳ tổng thống, Biden đã đảo ngược một số chính sách xã hội bảo thủ của cựu Tổng thống Donald Trump. Cụ thể, Biden đã ký một sắc lệnh hành pháp cho phép những người đàn ông “lẫn lộn về giới tính” tham gia vào các môn thể thao của phụ nữ và sử dụng phòng vệ sinh cũng như phòng thay quần áo của phụ nữ.

Trang web chính thức của Tòa Bạch Ốc cũng có một biểu mẫu liên hệ nơi công dân có thể chọn đại từ nhân xưng ưa thích của họ, như là một sự chuẩn thuận đối với ý thức hệ giới tính.

Hôm thứ Sáu, Biden và Phó Tổng thống Kamala Harris đã đưa ra một tuyên bố chung nhân kỷ niệm 48 năm ngày Tòa án Tối cao đưa ra phán quyết khét tiếng trong vụ Roe kiện Wade, áp đặt việc phá thai theo yêu cầu đối với tất cả 50 tiểu bang.

Họ nói: “Chúng tôi cam kết sâu sắc là bảo đảm mọi người đều có quyền truy cập vào dịch vụ chăm sóc - trong đó có dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản - bất kể thu nhập, chủng tộc, mã bưu điện, tình trạng bảo hiểm y tế, hoặc tình trạng di trú”.

Tuyên bố nói tiếp: “Chính quyền Biden-Harris cam kết luật hóa phán quyết Roe kiện Wade và bổ nhiệm các thẩm phán tôn trọng các tiền lệ cơ bản như phán quyết Roe. Chúng tôi cũng cam kết bảo đảm rằng chúng tôi sẽ nỗ lực xóa bỏ sự chênh lệch về sức khỏe giữa bà mẹ và trẻ sơ sinh, tăng cường khả năng tiếp cận các biện pháp tránh thai và hỗ trợ các gia đình về kinh tế để tất cả các bậc cha mẹ có thể thăng tiến gia đình mình một cách xứng đáng. Cam kết này mở rộng cho công việc quan trọng của chúng tôi về kết quả sức khỏe trên khắp thế giới”.

Vấn đề phá thai đã được đưa ra ngay trong cuộc họp báo đầu tiên của Tòa Bạch Ốc vào ngày Biden nhậm chức, khi thư ký báo chí Jen Psaki nói, “Tôi nghĩ chúng ta sẽ có nhiều điều để nói về Chính sách Thành phố Mexico trong những ngày tới. Nhưng tôi sẽ nhân cơ hội này để nhắc nhở tất cả các bạn rằng tổng thống là một người Công Giáo sùng đạo và là người thường xuyên đi lễ nhà thờ. Ông ấy bắt đầu ngày hôm nay với việc tham dự nhà thờ cùng gia đình vào sáng nay. Nhưng tôi không có bất cứ điều gì hơn cho bạn về điều đó”.

[Trong chương trình “Bạn và tôi đều ủng hộ Hillary Clinton” ngày 18 tháng Giêng, bà Nancy Pelosi, Chủ tịch Hạ viện, đã mạt sát 4 năm cầm quyền của Tổng thống Trump là một “tai họa cho nước Mỹ” và quyết liệt đổ lỗi cho những cử tri phò sinh đã gây ra cái tai họa ấy và gọi họ là những người phản bội nền dân chủ Mỹ.

Đáp lại, Đức Tổng Giám Mục Cordileone, là Giám Mục bản quyền của bà chủ tịch Hạ Viện, nói rằng nước Mỹ “thấm đẫm máu những người vô tội vì phá thai, và nó phải dừng lại”. Ngài nói thêm rằng “Không người Công Giáo nào có lương tâm trong sáng lại có thể ủng hộ phá thai”. Những kẻ tự xưng mình là Công Giáo thường xuyên đi lễ nhà thờ, năng lần chuỗi Mân Côi, mà lại đi hô hào phá thai chỉ là Công Giáo giả mạo, dùng đức tin để lừa người ta bỏ phiếu cho mình. Người Công Giáo thật sự phải biết tuân giữ và yêu mến luật Chúa, cũng như các giáo huấn của Giáo Hội.
]

Ngay trong chiến dịch tranh cử của mình, Biden đã tuyên bố ý định hủy bỏ Chính sách Thành phố Mexico, là chính sách chặn tài trợ của liên bang cho các tổ chức phi chính phủ cung cấp hoặc hỗ trợ phá thai.

Trong khi một số giám mục ở Hoa Kỳ, dẫn đầu bởi chủ tịch Hội Đồng Giám Mục, là Đức Tổng Giám Mục José Gomez, đã thể hiện sự phản đối của các ngài đối với lập trường của Biden về nhiều vấn đề, những người khác đã chỉ trích tuyên bố đó – đáng lưu ý nhất là Đức Hồng Y Blase Cupich của Chicago.

Tuy nhiên, Đức Hồng Y Müller nhấn mạnh rằng “một giám mục được phân biệt với các chính trị gia quyền thế và những người vận động cho một ý thức hệ bởi sự tuân phục của ngài đối với Lời Chúa được mặc khải. Ngài sẽ là một môn đệ lầm đường lạc lối nếu ngài tương đối hóa luật luân lý tự nhiên vì lợi ích chính trị của ngài hoặc vì lợi ích của bên này hoặc bên kia. Vì mọi người đều nhận ra những đòi hỏi của [luật luân lý tự nhiên] trong lương tâm của mình trên cơ sở lý trí của họ”.

“Vào thời các thánh tông đồ, khi những nhà cai trị chính trị và tôn giáo muốn cấm các ngài rao giảng giáo huấn của Chúa Kitô bằng cách đe dọa trừng phạt các ngài, các tông đồ trả lời đã trả lời rằng: ‘Chúng ta phải vâng lời Thiên Chúa hơn là con người’ (Cv 5:29)”, Đức Hồng Y Müller nói và nhấn mạnh rằng “Những người tương đối hóa cam kết rõ ràng đối với sự thánh thiêng của cuộc sống mỗi con người trên cơ sở các sở thích chính trị bằng các thủ đoạn chiến thuật và các hình thái ngụy biện đang công khai chống lại đức tin Công Giáo”.

Đức Hồng Y nói thêm: “Công đồng Vatican II và tất cả các giáo hoàng cho đến Đức Phanxicô đã mô tả việc cố ý giết một đứa trẻ trước và sau khi sinh là sự vi phạm nghiêm trọng nhất các điều răn của Thiên Chúa”.

Trong Didache /ˈdɪdəkeɪ/, nghĩa là Tuyển Tập Các Giáo Huấn Của Mười Hai Tông Đồ, một trong những tác phẩm Kitô Giáo sớm nhất có từ cuối thế kỷ thứ nhất hoặc đầu thế kỷ thứ hai, Giáo hội đã dạy rằng “ngươi không được giết một đứa trẻ bằng cách phá thai cũng như không được giết một đứa trẻ đã chào đời”.


Source:Life Site News
 
VietCatholic TV
Bài giáo lý hàng tuần thứ Tư 27/1/2021 của Đức Phanxicô: Cầu nguyện bằng Sách Thánh
Thế Giới Nhìn Từ Vatican
03:39 28/01/2021


Anh chị em thân mến, chúc anh chị em một buổi sáng tốt đẹp!

Hôm nay tôi muốn tập chú vào lời cầu nguyện mà chúng ta có thể bắt đầu bằng một đoạn Kinh Thánh. Những lời trong Sách Thánh không được viết ra để mãi bị giam cầm trên giấy cói, giấy da hay giấy thường, nhưng để được người cầu nguyện tiếp nhận, làm chúng đơm hoa trong lòng mình.

Lời Thiên Chúa đi vào cõi lòng ta.

Sách Giáo lý khẳng định rằng: “cầu nguyện nên đi kèm với việc đọc Sách Thánh” - không nên đọc Kinh thánh như một cuốn tiểu thuyết, mà phải kèm theo lời cầu nguyện - “để cuộc đối thoại diễn ra giữa Thiên Chúa và con người” (số 2653). Đây là nơi việc cầu nguyện dẫn anh chị em tới, vì nó là một cuộc đối thoại với Thiên Chúa. Câu Kinh Thánh đó cũng được viết cho tôi, cách đây nhiều thế kỷ, để mang lời Chúa đến với tôi. Nó được viết cho mỗi người chúng ta. Kinh nghiệm này xảy ra cho mọi tín hữu: một đoạn Kinh thánh, đã nghe nhiều lần rồi, bất ngờ, một ngày nào đó, nói với tôi, và soi sáng một hoàn cảnh sống của tôi. Nhưng điều cần thiết là tôi, ngày hôm đó, phải có mặt trong cuộc hẹn với Lời Chúa đó. Tôi phải ở đó, lắng nghe Lời Chúa. Mỗi ngày Thiên Chúa đi qua và gieo một hạt giống vào thửa đất cuộc đời chúng ta. Chúng ta không biết hôm nay liệu Người sẽ tìm thấy đất khô, đất cằn, hay đất tốt làm cho hạt giống đó mọc lên (xem Mc 4: 3-9). Việc chúng trở thành Lời hằng sống của Thiên Chúa cho chúng ta tùy thuộc vào chúng ta, vào lời cầu nguyện của chúng ta, vào tấm lòng rộng mở mà chúng ta dùng tiếp cận Kinh thánh. Đức Chúa Trời đi qua, liên tục và thông qua Kinh thánh. Và ở đây tôi xin trở lại với những gì tôi đã nói tuần trước, với những gì Thánh Augustinô đã nói: “Tôi sợ Thiên Chúa khi Người đi qua”. Tại sao ngài sợ? Sợ rằng ngài không lắng nghe Người. Sợ rằng tôi không nhận ra rằng Người là Chúa.

Qua lời cầu nguyện, một sự nhập thể mới diễn ra. Và chúng ta là “nhà tạm” nơi lời của Thiên Chúa muốn được chào đón và lưu giữ, để chúng có thể đến thăm thế giới. Đây là lý do tại sao chúng ta phải tiếp cận Kinh Thánh mà không có động cơ thầm kín, không khai thác nó. Tín hữu không biến Kinh Thánh thành điểm tựa cho quan điểm triết học và luân lý của riêng họ, nhưng vì họ hy vọng một cuộc gặp gỡ; người tín hữu biết rằng những lời đó được viết ra trong Chúa Thánh Thần, và do đó cũng trong cùng một Chúa Thánh Thần này, chúng phải được đón nhận và hiểu biết, để cuộc gặp gỡ có thể diễn ra.

Tôi hơi khó chịu khi nghe các Kitô hữu đọc những câu Kinh thánh như những con vẹt. “Ồ, vâng… Ồ, Chúa nói… Người muốn điều này…”. Nhưng anh chị em có gặp được Chúa, với câu đó hay không? Đó không phải là vấn đề chỉ thuộc về trí nhớ: đó là vấn đề thuộc ký ức của trái tim, nhằm mở cửa để anh chị em bước vào cuộc gặp gỡ với Chúa. Và lời đó, câu đó, dẫn anh chị em đến cuộc gặp gỡ với Chúa.

Do đó, chúng ta đọc Kinh thánh vì chúng “đọc chúng ta”. Và đó là một ơn thánh để có thể nhận ra chính mình trong đoạn văn ấy hoặc trong nhân vật ấy, trong tình huống này hoặc tình huống nọ.

Kinh thánh không được viết cho nhân loại cách chung, nhưng cho chúng ta, cho tôi, cho anh chị em, cho những người đàn ông và đàn bà bằng xương bằng thịt, những người đàn ông và đàn bà có tên riêng và tên họ, như tôi, như anh chị em. Và Lời Thiên Chúa, lời đầy Chúa Thánh Thần, khi được đón nhận với tấm lòng rộng mở, không để các sự vật y hệt như trước đây: không bao giờ. Một điều gì đó đang thay đổi. Và đó là ơn thánh và sức mạnh của Lời Thiên Chúa.

Truyền thống Kitô giáo rất phong phú về kinh nghiệm và suy tư về việc cầu nguyện bằng Sách Thánh. Đặc biệt, phương pháp “Lectio divina” đã được thành lập; nó bắt nguồn từ các giới đan sĩ, nhưng hiện nay nó cũng đã được thực hành bởi các Kitô hữu thường xuyên đi lại với các giáo xứ của họ. Trước hết, nó là vấn đề đọc một đoạn Kinh thánh một cách chăm chú: đây là Lectio divina, trước hết và quan trọng nhất là đọc đoạn Kinh thánh một cách chăm chú, hoặc hơn thế nữa: Tôi muốn nói với “một vâng phục” bản văn, để hiểu ý nghĩa trong và của chính nó. Sau đó, người ta bắt đầu đối thoại với Kinh thánh, để những lời đó trở thành một nguyên nhân cho việc suy gẫm và cầu nguyện: trong khi trung thành với bản văn, tôi bắt đầu tự hỏi nó “nói gì với tôi”. Đây là một bước tế nhị: chúng ta không được sa vào những giải thích chủ quan, nhưng chúng ta phải là một phần của lối sống Truyền thống, vốn liên kết mỗi chúng ta với Sách Thánh. Bước cuối cùng của Lectio divina là chiêm niệm. Ở chỗ này, các lời lẽ và suy nghĩ phải nhường chỗ cho tình yêu, như giữa những người yêu nhau đôi khi nhìn nhau trong im lặng. Bản Văn Kinh thánh vẫn còn đó, nhưng giống như một tấm gương, giống như một ảnh tượng để được chiêm niệm. Và nhờ cách này, có sự đối thoại.

Qua lời cầu nguyện, Lời Thiên Chúa đến ở trong chúng ta và chúng ta ở trong nó. Lời Chúa gợi hứng cho các ý định tốt và nâng đỡ hành động; nó đem lại cho chúng ta sức mạnh và sự thanh thản, và ngay cả lúc thách thức chúng ta, nó mang lại cho chúng ta sự bình yên. Vào những ngày "kỳ lạ" và khó hiểu, nó bảo đảm cho trái tim một cốt lõi tin tưởng và yêu thương bảo vệ nó khỏi các cuộc tấn công của kẻ ác.

Nhờ cách đó, Lời của Thiên Chúa trở thành xác thịt – tôi xin dùng kiểu nói này - nó trở thành xác thịt nơi những người tiếp nhận nó trong cầu nguyện. Trong một số bản văn cổ đại, có trực giác cho rằng các Kitô hữu đồng nhất hoàn toàn với Lời Chúa đến nỗi, ngay cả khi mọi Sách thánh bị thiêu rụi, "khuôn" của chúng vẫn được lưu giữ vì dấu ấn mà nó đã để lại trong cuộc đời các vị thánh. Quả là một phát biểu đẹp đẽ.

Đời sống Kitô hữu vừa là công trình vâng phục vừa là công trình sáng tạo. Một Kitô hữu tốt phải biết vâng phục, nhưng họ phải sáng tạo. Vâng phục, vì lắng nghe Lời Thiên Chúa; sáng tạo, bởi vì họ có Chúa Thánh Thần bên trong, Đấng thúc đẩy họ trở thành như vậy, dẫn dắt họ đi lên. Ở cuối một trong những dụ ngôn của Người, Chúa Giêsu đưa ra sự so sánh sau đây - Người nói, “bất cứ kinh sư nào đã được học hỏi về Nước Trời, thì cũng giống như chủ nhà kia lấy ra từ trong kho tàng của mình – cõi lòng mình - cả cái mới lẫn cái cũ” (Mt 13:52). Sách Thánh là một kho tàng vô tận. Xin Chúa ban cho tất cả chúng ta ơn biết rút ra nhiều điều hơn nữa từ đó, qua việc cầu nguyện.
 
Tiến sĩ George Weigel: Gương anh hùng của ĐTGM Gomez phê phán Biden bất kể Hồng Y Cupich ngăn cản
Thế Giới Nhìn Từ Vatican
03:57 28/01/2021

Trong bài “In unprecedented move, Cardinal Cupich criticizes USCCB statement on Biden”, nghĩa là “Trong động thái chưa từng có, Hồng Y Cupich chỉ trích tuyên bố của USCCB về Biden”, Thông tấn xã Catholic News, gọi tắt là CNA, viết như sau:

Hồng Y Blase Cupich, tổng giám mục Chicago, đã sử dụng Twitter để đưa ra những lời chỉ trích gay gắt về tuyên bố chính thức của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ, gọi tắt là USCCB, trong ngày lễ nhậm chức của ông Joe Biden.

Trong một liên khúc 4 Tweets vào hôm thứ Tư, Hồng Y Cupich nói rằng “Hội đồng Giám mục Công Giáo Hoa Kỳ đã đưa ra một tuyên bố thiếu cân nhắc vào ngày nhậm chức của Tổng thống Biden. Bên cạnh thực tế là dường như không có tiền lệ để làm như vậy, tuyên bố chỉ trích Tổng thống Biden đã gây ngạc nhiên cho nhiều giám mục, những người đã nhận được nó chỉ vài giờ trước khi nó được phát hành”.

Ông nói thêm: “Tuyên bố được soạn thảo mà không có sự tham gia của Ban Thường Vụ, cũng chẳng có một cuộc tham vấn tập thể là một quy trình bình thường đối với những tuyên bố thay mặt và nhận được sự tán thành của các giám mục Hoa Kỳ”.

“Những thất bại về thể chế nội bộ liên quan phải được giải quyết, và tôi mong muốn được đóng góp vào tất cả các nỗ lực cho mục tiêu đó, để khi được linh hứng từ Phúc âm, chúng ta có thể xây dựng sự hiệp nhất của Giáo hội, và cùng nhau thực hiện công việc chữa lành quốc gia trong thời điểm khủng hoảng này”, Hồng Y Cupich nói.

Những lời chỉ trích công khai đối với USCCB được đưa ra sau khi Hồng Y Cupich công bố một tuyên bố riêng trên trang web của mình không bao gồm những lời chỉ trích ông Joe Biden của USCCB. Điều này diễn ra sau một loạt các phản ứng đối với Hồng Y Cupich từ các giám mục Hoa Kỳ ủng hộ tuyên bố của USCCB.


Trên tờ First Things ngày 21 tháng Giêng, Tiến sĩ George Weigel là thành viên cao cấp của Trung tâm Đạo đức và Chính sách Công cộng Washington, và cũng là người viết tiểu sử Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II vừa có bài nhận định sau liên quan đến các trục trặc giữa các Giám Mục Hoa Kỳ về vấn đề này.

Nguyên bản tiếng Anh có thể xem tại đây. Dưới đây là bản dịch toàn văn sang Việt Ngữ.

Archbishop José Gomez: A Profile In Episcopal Courage

By George Weigel

Tổng Giám Mục José Gomez: Một diện mạo về lòng dũng cảm của Giám mục


Trong cuộc họp thường niên của các ngài vào tháng 11 năm ngoái, một số rất đông các giám mục Công Giáo của Hoa Kỳ nhận ra rằng việc Joe Biden được bầu vào chức vụ tổng thống đã đưa Giáo hội đến một điểm đáng quan ngại.

Vị Tổng thống vừa được đắc cử đã nói từ lâu, và với sự chân thành rõ ràng, về những cách thức mà đức tin Công Giáo của ông đã nâng đỡ ông trong những thời điểm đau khổ lớn lao, bao gồm cái chết của người vợ đầu tiên và của con trai ông. Ông thường xuyên tham dự thánh lễ và nổi tiếng là người thích khoe khoang về việc mang theo chuỗi hạt Mân Côi bên mình. Trong chiến dịch tranh cử năm 2020, ông trích lời Đức Thánh Cha Phanxicô, và thường nói về tình cảm của ông dành cho các nữ tu, cũng như viện dẫn học thuyết xã hội của Giáo hội như một nguồn gốc cho các quan điểm chính sách của ông.

Tuy nhiên, trong suốt sự nghiệp ở Thượng viện và tám năm làm phó tổng thống, Biden đã trở thành một người ủng hộ cứng rắn hơn bao giờ hết những cách giải thích cực đoan nhất về chế độ phá thai do phán quyết Roe chống Wade áp đặt lên đất nước vào năm 1973 và được củng cố bởi vụ Planned Parenthood kiện Casey vào năm 1992. Ông là một người ủng hộ nhiệt thành trong vụ Obergefell kiện Hodges, và rất hăng hái với “hôn nhân đồng tính”, và chính ông đã cử hành một đám cưới đồng tính như vậy khi còn là phó tổng thống. Bên cạnh đó không có sự tách biệt rõ ràng giữa các quan điểm chính sách gần đây của ông ta, và quan điểm của những người hô hào LGBT và “lý thuyết giới tính” hung hăng nhất. Hơn nữa, ông ta dường như không biết đến những mối đe dọa mà tất cả những điều này gây ra đối với tự do tôn giáo của các cơ sở Công Giáo và quyền lương tâm của người Công Giáo trong việc chăm sóc sức khỏe, giáo dục và các lĩnh vực khác. Trong chiến dịch tranh cử sơ bộ năm 2020, ông Biden đã đi xa đến mức nói rằng, với tư cách là tổng thống, ông ta sẽ hủy bỏ quyền miễn trừ mua bảo hiểm tránh thai Obamacare (bao gồm một số thuốc phá thai) mà chính quyền sắp mãn nhiệm đã cấp cho Dòng Tiểu Muội Của Người Nghèo, là các nữ tu đã từ chối bao gồm các biện pháp tránh thai và thuốc phá thai trong bảo hiểm y tế cho nhân viên của các chị.

Cuộc họp tháng 11, Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ, gọi tắt là USCCB, đã đạt được điều mà một giám mục sau này mô tả là một “sự đồng thuận như sấm sét” rằng tình hình đã đến một điểm uốn; một giám mục khác nói rằng cuộc họp kết thúc với một “nhiệm vụ rõ ràng, mạnh mẽ” để hành động. Vậy thì phải làm gì?

Chủ tịch Hội đồng Giám mục Công Giáo Hoa Kỳ, Đức Tổng Giám Mục José Gomez của Los Angeles, đã quyết định chỉ định một Nhóm Công Tác Liên Hệ Với Chính Quyền Mới, nhóm này sẽ đề xuất một kế hoạch hành động trước các thách thức chưa từng có đối với sự thống nhất về bí tích và luân lý của Giáo hội. Nhóm Công tác sẽ do phó chủ tịch USCCB, Đức Tổng Giám Mục Allen Vigneron của Detroit, chủ trì; các thành viên giám mục của nhóm sẽ bao gồm chủ tịch của các ủy ban thường trực USCCB có liên quan; và nhóm sẽ đưa ra các khuyến nghị của mình cho chủ tịch USCCB là Đức Tổng Giám Mục Gomez càng sớm càng tốt.

Trong hai cuộc họp, Nhóm Công tác đã nhanh chóng đạt được sự đồng thuận và đưa ra các khuyến nghị của họ cho Đức Tổng Giám Mục Gomez. Như Đức Cha Gomez sau đó đã báo cáo với các giám mục, Nhóm Công tác đã đề xuất hai sáng kiến. Đầu tiên là một bức thư gửi cho tân tổng thống từ Đức Tổng Giám Mục Gomez, viết với tư cách là một mục tử. Bức thư hứa hẹn sẽ hỗ trợ cho chính quyền mới trong các lĩnh vực thỏa thuận. Nó cũng sẽ xác định các chính sách của chính quyền, bao gồm phá thai, mà các giám mục tin rằng vi phạm phẩm giá con người, và nó sẽ thúc giục tân tổng thống đánh giá lại lập trường của mình về những vấn đề này. Sáng kiến thứ hai do Nhóm Công tác đề xuất là phát triển một tuyên bố của Hội Đồng Giám Mục về tính toàn vẹn Thánh thể của Giáo hội.

Điều thứ hai vẫn đang được phát triển — và sẽ được phát triển — nhưng Đức Tổng Giám Mục Gomez đã đồng ý với khuyến nghị của Nhóm Công tác rằng một đường lối đương đầu với tân tổng thống phải được ưu tiên thực hiện càng sớm càng tốt. Thay vì một lá thư, Đức Tổng Giám Mục Gomez đã quyết định đưa ra một tuyên bố công khai vào ngày ông Biden nhậm chức.

Tuy nhiên, một ngày trước lễ nhậm chức, Đức Hồng Y Blase Cupich của Chicago và Đức Hồng Y Joseph Tobin của Newark, cũng như Đức Tổng Giám Mục Christophe Pierre, Sứ thần Tòa Thánh tại Hoa Kỳ, đã gây áp lực mạnh mẽ để buộc Đức Tổng Giám Mục Gomez không được đưa ra bất cứ tuyên bố nào. Đức Tổng Giám Mục Gomez đã chống lại những áp lực đó và dự định đưa ra tuyên bố của mình vào lúc 9 giờ sáng trong ngày nhậm chức, tức là ba giờ trước khi tổng thống mới tuyên thệ. Sau đó, Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh đã can thiệp, yêu cầu trì hoãn việc đưa ra tuyên bố. Cách giải thích bác ái nhất về sự can thiệp chưa từng có này vào hành động được đề xuất của cả một Hội Đồng Giám Mục quốc gia là nó phản ánh mối quan ngại của Vatican rằng tuyên bố Công Giáo đầu tiên về vị tổng thống mới phải đến từ chính Đức Giáo Hoàng (như đã làm ngay sau trưa ngày 20 tháng Giêng, trong một thông điệp chúc mừng nhẹ nhàng). Cũng có thể suy đoán, không phải là vô lý, rằng những người tự nhận là đại diện cho Vatican, và có lẽ cho chính cả Đức Giáo Hoàng Phanxicô, đã cố gắng để làm Tổng Giám Mục Gomez phải im lặng.

Trong một bài báo trực tuyến được xuất bản ở Mỹ, một quan chức Vatican giấu tên nói rằng Tòa Thánh đã không biết về một tuyên bố sắp xảy ra của Đức Tổng Giám Mục Gomez cho đến vài giờ trước khi lịch trình đưa ra tuyên bố này bị rò rỉ. Người ta tự hỏi ai có thể đưa ra những lo ngại về một tuyên bố như vậy với các quan chức Rôma vào phút cuối và thúc giục sự can thiệp của Vatican vào các vấn đề công chúng sự vụ tại Mỹ? Có ai, ở hai bên bờ Đại Tây Dương, cho rằng sự can thiệp như vậy chính xác là điều mà các truyền thuyết Tin Lành da đen cổ kính (chưa kể phim hoạt hình Thomas Nast) đã cảnh báo hàng thế kỷ? Liệu Tòa Thánh có cố gắng ngăn chặn hoặc trì hoãn hay không việc công bố các tuyên bố của chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Đức (một số vị đã có những phát biểu công khai gần đây rất xa lạ với các vấn đề đã được thiết định trong giáo lý và thực hành Công Giáo)? Tại sao thuyết tân độc tôn giáo quyền Rôma (ultramontanism) chỉ áp dụng cho Hoa Kỳ?

Đây là những câu hỏi thú vị cho tương lai.

Trong sự kiện này, tuyên bố của Đức Tổng Giám Mục Gomez được đưa ra ngay sau khi Tổng thống Biden hoàn thành bài diễn văn nhậm chức. Đó rõ ràng là một tuyên bố mục vụ, không phải là một tuyên ngôn chính trị. Giọng điệu của nó hoàn toàn tôn trọng và xa lánh chủ nghĩa giáo sĩ trị. Nó ghi nhận lòng mộ đạo được lặp lại và bày tỏ công khai của tân tổng thống trong “thời kỳ chủ nghĩa thế tục đang phát triển và hung hăng trong văn hóa Mỹ”. Tuyên bố cũng cam kết làm việc với chính quyền sắp tới về các vấn đề mà các giám mục đã nêu bật trong ấn bản gần đây nhất trong bản hướng dẫn của các ngài có tựa đề Hình Thành Lương Tâm Cho Các Tín Hữu Công Dân, chẳng hạn như chính sách nhập cư, cải cách tư pháp hình sự, chống phân biệt chủng tộc và trao quyền cho người nghèo. Tuyên bố cũng hoan nghênh “Lời kêu gọi hàn gắn và thống nhất quốc gia của Tổng thống Biden” và đề xuất một cuộc đối thoại với tân tổng thống và tân chính quyền về các bước xây dựng nền văn hóa sự sống ở Hoa Kỳ.

Và tuyên bố đã nêu bật đúng mức tầm quan trọng đạo đức độc đáo của các vấn đề cuộc sống, nhấn mạnh rằng việc cho phép phá thai “không chỉ là vấn đề cá nhân, mà nó còn đặt ra những câu hỏi cơ bản và rắc rối về tình huynh đệ, tình liên đới và sự hòa nhập trong cộng đồng nhân loại”. Do đó, Đức Tổng Giám Mục Gomez đã viết rằng vấn đề phá thai “là một vấn đề công bằng xã hội”, vì người Mỹ “ không thể bỏ qua thực tế rằng tỷ lệ phá thai cao hơn trong số những người nghèo và các sắc dân thiểu số, và phá thai thường xuyên được sử dụng để loại bỏ những thai nhi có khuyết tật bẩm sinh”.

Theo bất kỳ tiêu chuẩn hợp lý nào, tuyên bố của Đức Tổng Giám Mục Gomez đều là cân bằng và cẩn thận. Nếu không có những tranh cãi nổ ra trước và sau khi tuyên bố được đưa ra, một số người có thể cho rằng tuyên bố này quá cân bằng và quá cẩn thận. Tuy nhiên, cuộc tranh cãi đã làm người ta chú ý hơn đến lập trường vững chắc, rõ ràng và dứt khoát của tuyên bố về “ưu tiên tối thượng” của các vấn đề cuộc sống — và do đó làm tăng tác động của những phần trong tuyên bố mà các Hồng Y bất đồng ý kiến có thể đã phản đối đến mức họ đã cố gắng đập tan toàn bộ tài liệu này.

Sau đó vào cuối ngày nhậm chức, Đức Hồng Y Cupich đã đưa ra một tuyên bố, theo sau là một loạt các tweet, chê trách tuyên bố của Đức Tổng Giám Mục Gomez là “thiếu cân nhắc”, gây ra một “sự ngạc nhiên đối với nhiều giám mục”, và đó là kết quả của “những thất bại thể chế trong nội bộ” của USCCB. Liệu những bản án khắc nghiệt này có phản ánh ý kiến ở Rôma hay chỉ là ý kiến ở Chicago thì vẫn chưa rõ ràng. Trong mọi trường hợp, họ không chịu suy xét kỹ lưỡng.

Gợi ý cho rằng Đức Tổng Giám Mục Gomez cách nào đó đã hành động độc lập với Hội Đồng Giám Mục và do đó, là vô trách nhiệm, là một gợi ý tự nó là không công bằng và vô trách nhiệm. Tuyên bố của Đức Tổng Giám Mục được soạn thảo theo các khuyến nghị của Nhóm công tác mà ngài đã chỉ định vào tháng 11. Những khuyến nghị đó lần lượt phản ánh sự đồng thuận rộng rãi giữa các giám mục được trình bày tại cuộc họp tháng 11 của USCCB. Hơn nữa, trong việc xác định các lĩnh vực thỏa thuận và bất đồng với chính quyền sắp tới, tuyên bố không vượt quá bất cứ điều gì USCCB đã nói trong nhiều năm, thậm chí nhiều thập kỷ. Gợi ý rằng có một điều gì đó chưa từng có ở đây là làm sai lệch lịch sử. Điều thực sự chưa từng có, như Đức Tổng Giám Mục Gomez đã chỉ ra trong tuyên bố của mình, là hoàn cảnh của một tổng thống Hoa Kỳ, người tuyên xưng mình là một tín hữu Công Giáo sùng đạo và chân thành nhưng lại công khai cam kết tạo điều kiện cho những tệ nạn đạo đức nghiêm trọng. Không thừa nhận sự thật đó và không giải quyết vấn đề đó với tổng thống mới, sẽ khiến các giám mục phải trả giá đắt về phương diện tự trọng của các ngài và đánh mất sự tín nhiệm của công chúng.

Không một giám mục nào tham dự cuộc họp USCCB tháng 11 và lắng nghe cẩn thận những lo ngại được bày tỏ ở đó có thể bị bất ngờ trước nội dung tuyên bố của Đức Tổng Giám Mục Gomez. Tuyên bố phản ánh khá chính xác các chủ đề chính của cuộc họp đó: Có nhiều vấn đề đạo đức nghiêm trọng trong cuộc tranh luận về chính sách công đương thời, nhưng các vấn đề liên quan đến sự sống, như chính Đức Thánh Cha Phanxicô đã nhấn mạnh, được ưu tiên hơn vì chúng đụng đến những vấn đề cơ bản liên quan đến phẩm giá con người và là những nguyên tắc đầu tiên của công lý. Một số người có thể ngạc nhiên rằng sao Đức Tổng Giám Mục Gomez lại có can đảm viết một lá thư thẳng thắn như vậy cho Tổng thống Biden, và ngài đã làm như vậy sau khi bị hai vị Hồng Y gây sức ép; nhưng bất kỳ sự ngạc nhiên nào như vậy đều tố cáo sự thiếu hiểu biết về người đàn ông này. Đức Tổng Giám Mục Gomez là một người trầm lặng và nhẹ nhàng, không tìm kiếm ánh đèn sân khấu; ngài không phải là một người viết các tweets tài ba; và ngài không thích đối đầu. Tuy nhiên, điểm đáng chú ý hơn, ngài là một người có đức tin sâu sắc và lòng đạo đức vững chắc, là người đã nhận thức rõ vào tháng 11 rằng tình hình đã đạt đến điểm uốn và rằng uy tín truyền giáo của Giáo hội đang bị đe dọa vì điều đó. Ngài đưa ra một diện mạo về lòng dũng cảm của Giám mục vào thời điểm một vài người khác - những người thực sự là ngoài lề trong bi kịch này - đang đòi hỏi (với hy vọng là người ta không nhận ra được sự tương tự) một sự tái diễn cách tiếp cận nuông chiều đối với các quan chức Công Giáo được Theodore McCarrick ủng hộ từ lâu, đặc biệt là trong cuộc bầu cử năm 2004.

Trong nhiều tháng qua, một sự đồng thuận đã xuất hiện giữa các giám mục Hoa Kỳ, bao gồm hầu như toàn bộ hàng giáo phẩm lãnh đạo USCCB: Duy trì một bề mặt giả tạo về sự thống nhất giữa các giám mục là điều không đáng để phải hy sinh những sự thật mà Giáo hội phải nói ra. Những điều đó bao gồm sự thật về sự toàn vẹn bí tích của Giáo Hội và sự mạch lạc của Thánh Thể; sự thật về phẩm giá và giá trị bất khả xâm phạm của cuộc sống mỗi con người từ khi thụ thai cho đến khi chết tự nhiên; sự thật về tự do tôn giáo đầy đủ và các quyền lương tâm của những người từ chối hành động chống lại nhân phẩm; và sự thật về mối quan tâm của Giáo hội đối với sức khỏe tâm linh của các quan chức Công Giáo, những người, với bất kỳ mức độ chủ quan nào, lại đang tạo điều kiện cho những tệ nạn luân lý nghiêm trọng.

Trong bài phát biểu nhậm chức thường gây xúc động của mình, Tổng thống Biden đã kêu gọi chúng ta “chấm dứt cuộc nội chiến giữa màu đỏ và màu xanh” và tuyên bố niềm tin của ông rằng “chúng ta có thể làm được điều này nếu chúng ta mở rộng tâm hồn thay vì chai cứng trái tim mình”. Tôi nghi rằng Đức Tổng Giám Mục José Gomez đã được trao cho một bản sao bài diễn văn của tổng thống trước khi ông ấy nói. Nhưng, ơn Chúa quan phòng, tuyên bố của Đức Tổng Giám Mục vào ngày nhậm chức là một lời mời của một mục tử đối với Tổng thống Biden hãy làm điều đó: hãy mở rộng tâm hồn mình để đón nhận sự trọn vẹn của chân lý Công Giáo. Đức Tổng Giám Mục, cũng như rất nhiều Hồng Y và giám mục đã ủng hộ ngài, xứng đáng được ghi nhận công lao to lớn vì đã can đảm làm điều đó, và sẽ tiếp tục làm việc để biến điểm uốn này thành một thời điểm đổi mới Phúc âm hóa Công Giáo, bất kể giá cả phải trả.


Source:First Things