Ngày 28-01-2021
 
Phụng Vụ - Mục Vụ
Giáo Huấn Mới
Lm Vũđình Tường
00:49 28/01/2021
Đức Kitô có thói quen tham dự sinh hoạt ngày cuối tuần nơi hội đường. Hội đường là nơi giải thích về sách Ngũ Kinh. Lãnh đạo hội đường thường mời người tham dự có khả năng, hướng dẫn dân chúng để có tính mới mẻ, sinh động. Đức Kitô được mời giảng giải. Lời giảng của Ngài không chỉ gây xúc động mạnh trong tâm hồn người nghe, mà còn làm thay đổi cách suy nghĩ và ảnh hưỏng tới lối sống của họ. Người ta rất đỗi kinh ngạc. Người ta ca tụng về kiến thức, trí thông hiểu, và sự khôn ngoan, thông thái nơi Ngài.Giáo huấn của Ngài không phải chỉ thuần lập lại những gì các học giả khác đã lí giải, mà chính Ngài đưa ra những giải thích, hướng dẫn mới liên quan trực tiếp đến đời sống dân chúng. Người ta kháo với nhau,

'Người giảng dậy như kẻ có thẩm quyền, chứ không như các kinh sư' Mk1,22.

Kinh sư thường dùng truyền thống làm bảo chứng cho việc giảng dạy. Phong tục và truyền thống nào trở thành gánh nặng cho dân đều được Đức Kitô sửa đổi cho hợp với tình yêu Chúa. Đức Kitô dùng chính uy quyền của Ngài để thay đổi, giảng dậy. Giáo huấn của Ngài cởi trói cho dân chúng, làm cho cuộc sống dễ thở hơn, thanh thản hơn. Có lần Ngài đặt thẳng vấn đề với các kinh sư.

'Ngày Sabbath được làm điều lành hay điều dữ, cứu mạng người hay giết đi?' Mk 3,4.

Theo Đức Kitô thì phong tục, tập quán, luật lệ là cho con người, chứ không phải con người làm nô lệ cho phong tục, tập quán

'Con Người làm chủ ngày Sabbath Mk 2,28.

Đức Kitô giảng dậy như Đấng có uy quyền. Uy quyền của Ngài đến từ Thiên Chúa bởi chính Ngài là Con Thiên Chúa. Nhớ lại ngày Đức Kitô chịu phép rửa, vừa bước lên bờ, Thánh Thần Chúa, dưới hình chim bồ câu, ngự xuống trên Ngài. Trên trời cao có tiếng phán bảo

'Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người' Mk 1,10.

Như thế uy quyền của Đức Kitô đến từ nơi Ngài, không phải do truyền thống. Uy quyền của Đức Kitô được thánh Gioan Tẩy Giả nhắc đến là uy quyền từ trời cao ban xuống Mk 1,8. Với Uy quyền đó, Đức Kitô loan báo cho toàn dân là Nước Thiên Chúa đến gần anh em; thực ra nước đó đang ở giữa anh em. Bởi nơi đâu Thiên Chúa hiện diện, nước Thiên Chúa hiển trị nơi đó.
Phúc âm thánh Marcô không nhắc đến điều Đức Kitô rao giảng với dân chúng. Từ những điều người ta ca tụng Ngài, chúng ta có thể đoán biết Người dậy dân chúng những điều liên quan đến cuộc sống của họ, những âu lo họ đang mắc phải, những lo lắng họ ngày đêm lo sợ, và những trông đợi họ đang mong chờ. Một nguồn tài liệu khác cũng giúp ta nhận biết điều Đức Kitô rao giảng. Từ môi miệng những kẻ chống đối Đức Kitô, chúng ta cũng đoán biết Đức Kitô rao giảng những gì? Đức Kitô đón chào những kẻ thu thuế và người tội lỗi. Ngài cho họ biết họ cũng là con cái Thiên Chúa. Đức Kitô giải thoát những sợ hãi nơi dân chúng. Ngài chữa bệnh cho kể đau yếu, bệnh tật. Nhiều lần Ngài ngăn cấm không cho ma quỉ lên tiếng nói về nguồn gốc, xuất xứ, Ngài là Đấng Thánh của Thiên Chúa. Bởi là Đấng Thánh nên Ngài không đối thoại với loài tồi tệ, xấu xa, chuyên gây tội. Ngài ra lệnh cho chúng 'câm miệng' và chúng phục tùng Ngài. Như thế Ngài có quyền trên ma quỉ.

Giáo Huấn của Đức Kitô và uy quyền Ngài gắn liền, luôn đi chung với nhau. Có lần Ngài nói với kẻ chống đối Ngài là Ngài có quyền tha tội.

'Để các ông biết, Con Người có quyền tha tội. Đức Kitô bảo người bại liệt: Ta truyền cho con, hãy đứng dậy, vác chõng đi về nhà. Người bại liệt liền đứng dậy, vãc chõng đi về nhà' Mk 2,11-12.

Dân chúng thích nghe Ngài giảng dậy bởi giáo huấn Ngài mới mẻ. Ngài nói với họ về tình yêu Chúa, lòng Chúa xót thương bao la, quảng đại hơn là án phạt của Thiên Chúa. Nghe Đức Kitô rao giảng, người ta có cảm tưởng Thiên Chúa đang ở giữa họ và Thiên Chúa là Thiên Chúa của họ. Thiên Chúa chia xẻ những lo âu, lo lắng, sầu khổ của dân Ngài, và Thiên Chúa cùng đồng hành với dân Ngài trong mọi tình huống của cuộc sống. Nghe Đức Kitô rao giảng, dân chúng cảm thấy Nước Thiên Chúa là cho họ, và cho những ai thành tâm đón nhận lời Chúa, và chân thành phục vụ tha nhân vì Danh thiên Chúa.

TiengChuong.org

New Teaching

Jesus' custom was to go to a synagogue on a Sabbath, and there he preached to the people. Synagogue leaders often invited a fresh, new, promising voice to teach in their synagogues. Jesus' teaching not only made tremendous impact on people, but actually His teaching changed their lives. They spoke highly of Him. They were amazed about His wisdom. They praised Him, saying that His teaching was not just revised old teaching, but actually it was a new teaching, and He taught with authority. Scribes often relied on customs and traditions as the sources of authority to interpret the Torah. Many of their customs and traditions were conservative, and were heavy burdens for the people, and they were weighty on punishment. Unlike the Scribes, Jesus taught the people about God's love, and mercy. He once asked the people who challenged Him 'Is it against the law on the Sabbath day to do good or to do evil; to save life or to kill? Mk 3,4. For Jesus, laws, and customs, and traditions were for people, not people for traditions. Jesus taught with authority. Jesus' authority was not derived from the ancient customs and traditions, but from within, from His personal authority. This personal authority was confirmed upon Him on the day of His Baptism. On that day, the Spirit came upon Him, and the voice of God from on high confirmed Jesus was the Son of God 'You are my Son, the Beloved, my favour rests on you' Mk.1,11. Jesus' authority came from God: The authority to proclaim, that God's kingdom was with the people, and for the people.

The text mentioned nothing about what Jesus taught the people. From what people praised about His teaching, we believe Jesus taught them about something, which was dear to their hearts, and some things which were relevant to their daily living, and something which they had longed for years to listen to. There was another source of information that let us know what Jesus taught the people, and that was the annoying voice from His opponents. Through their complaints, we know Jesus gave voice to the poor. He criticized regulations and customs that destroyed life. Jesus welcomed sinners and tax collectors. He ate with them to show, they too, were God's children, and God loved them. Jesus freed the people from fear, and brought them hope by curing all kinds of sicknesses and diseases. Several times Jesus ordered evil spirits to 'be quiet', and they obeyed Him. Jesus was the Holy One of God. The Holy One would not talk to the unholy, but just gave a command, and they obeyed. Jesus came to the world to set God's people free from the unholy ones.

Jesus' authority and His teaching were identical. His teachings had power, and His power was manifested through His teachings. He once told his opponents that He would prove to them that the Son of Man has power to forgive sin. He gave a command to the cripple to be healed. 'But to prove to you that the Son of Man has authority on earth to forgive sins, he said to the paralytic ' I order you: get up, pick up your stretcher, and go off home. And the man got up, picked up his stretcher at once and walked out in front of everyone'. Mk, 2:11f.

The people enjoyed listening to Jesus because His teaching was new. He talked more about God's love and mercy, and less about God's wrath and punishment. Listening to Jesus, the people felt, that the God, Jesus talked about was the personal God, Who was close to their hearts, Who walked with them in every circumstance and understood their hardships. Listening to Jesus, the people felt, that God's kingdom was close at hand, and for everyone who lived a life of loving God, and serving others in God's name.
 
Nhân chứng
Lm. Giuse Trần Việt Hùng
10:09 28/01/2021
CHÚA NHẬT 4 MÙA THƯỜNG NIÊN: NHÂN CHỨNG (Đnl 18, 15-20; 1Cr 7, 32-35; Mc 1, 21-28)

Thiên Chúa đã chọn Môisê để dẫn dắt dân Chúa ra khỏi Ai-cập. Chúa trao phó cho Môisê quyền giảng dạy và quản trị. Chúa phán: Ta sẽ đặt vào miệng ngươi những lời của Ta, ngươi sẽ nói cho họ biết tất cả những điều Ta đã truyền cho ngươi. Môisê được diện kiến Thiên Chúa trong bụi gai cháy mà không bị tàn lụi. Chúa ban cho ông chiếc gậy chăn chiên để làm các sự lạ, biến rẽ biển đỏ và đập đá tuôn trào dòng nước cho dân. Chúa trao cho Môisê quyền hướng dẫn, giảng dạy và thánh hóa. Với sự hiểu biết và sức lực có hạn, Môisê hoàn toàn cậy nhờ vào ơn Chúa giúp. Ông đã thỉnh cầu Thiên Chúa và tuân hành theo ý muốn của Chúa trong mọi hoàn cảnh. Suốt 40 năm Dân Do-thái lưu lạc trong hoang địa, Môisê đã đồng hành với Dân qua mọi thách thức khó khăn và nguy hiểm.

Ngày xưa, Thiên Chúa truyền dạy chúng ta qua các tổ phụ, cha ông và các người đại diện, nay Thiên Chúa sai chính Con Một đến để mạc khải cho chúng ta về chân lý Nước Trời: Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ; nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử. Thiên Chúa đã nhờ Người mà dựng nên vũ trụ, đã đặt Người làm Đấng thừa hưởng muôn vật muôn loài (Dt 1,1-2). Khi nghe Chúa Giêsu rao giảng, người ta đã kinh ngạc về giáo lý của Người vì Người dạy như Đấng có uy quyền. Qua Ngôi Lời, Thiên Chúa đã tác tạo mọi loài. Lời của Chúa có thể sáng tạo và biến đổi từ thể xác đến tâm hồn. Lời Chúa là lời quyền năng linh thiêng. Tất cả Lời Chúa đều là lời hằng sống, ban sinh lực và giáng phúc. Khi đi rao giảng Tin Mừng, Chúa Giêsu đã thực hiện những phép lạ kèm theo. Các phép lạ là dấu chỉ để mọi người nhận biết Chúa là Đấng Thiên Sai.

Khi sai các Tông đồ rao giảng, Chúa Giêsu cũng ban quyền chữa lành cho các ngài. Với danh Chúa Giêsu Kitô sống lại từ cõi chết, các tông đồ đã nhiệt tình đem Tin Mừng đến muôn dân qua việc làm chứng, giảng dạy và làm phép lạ. Thánh Phaolô cũng được ơn chữa lành: Có ông thân sinh ông Púpliô đang liệt giường vì bị sốt và kiết lỵ. Ông Phaolô vào thăm, cầu nguyện, đặt tay trên ông và chữa khỏi (Cv 28,8). Thánh Philipphê thực hiện các dấu lạ: Đám đông một lòng chú ý đến những điều ông Philipphê giảng, bởi được nghe đồn và được chứng kiến những dấu lạ ông làm (Cv 8,6).

Trong thư gởi cho tín hữu Côrintô, thánh Phaolô khuyên răn mọi người hãy sống đẹp lòng Chúa qua những ơn gọi riêng. Vì lợi ích của anh chị em, chớ không phải gài bẫy anh em. Mọi ơn lành Chúa ban đều phải sinh hoa trái trong đời sống đạo. Dọc lịch sử Giáo Hội, bàn tay quan phòng của Chúa luôn hiện diện với con cái loài người. Chúng ta nhìn qua một chút những hồng ân từ trời ban xuống cho nhân loại qua các chứng nhân.

Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa. Mọi quyền năng trên trời dưới đất đã được trao ban cho Ngài. Chúa Giêsu thực hiện tất cả mọi thứ phép lạ qua chính lời nói, ý muốn và quyền năng của Ngài. Chúa có mọi uy quyền sáng tạo, tái tạo và biến đổi trong lời nói và việc làm. Chúa cũng đã ban cho một số vị được những ơn ấy là để giúp củng cố lòng tin của các tín hữu mọi nơi và mọi thời. Các ngài là những vị sống đời chiêm niệm và thần bí kết hợp mật thiết với Chúa và làm sự lạ để sáng danh Chúa.

Các vị thánh không làm phép lạ để khoe khoang, quảng cáo hay đề cao chính mình nhưng các ngài sống trong khiêm nhượng và phó thác. Hữu xạ tự nhiên hương. Thực hiện tất cả các sự lạ là hồng ân nhưng không Thiên Chúa ban tặng. Hầu hết các vị thánh này có một đời sống khổ hạnh, hy sinh hãm mình và sống chìm ngập trong ân sủng của Chúa. Ngay từ sinh thời, các Ngài đã là mẫu mực gương sáng cho mọi người. Sau khi mãn phần, Giáo Hội đã tôn phong nhân đức của các Ngài để mọi người tôn vinh danh Chúa và cầu khẩn. Sự chân thật và thánh thiện đi vào cuộc sống đời đời.

Chúng ta hãy đặt niềm tin tưởng nơi Chúa Kitô là đầu và cùng đích. Chúa luôn đồng hành với Giáo Hội qua mọi biến cố thăng trầm. Như Dân xưa đi trong sa mạc, họ đã chịu trăm nghìn thử thách và khổ đau để được thanh luyện. Họ đã trở thành Dân Riêng được Chúa yêu thương và đã chiếm hữu được miền Đất Hứa. Trong cuộc lữ hành trần thế, chúng ta cũng đang đối diện với muôn vàn chông gai thử thách. Lửa thử vàng, gian nan thử đức. Chúng ta hãy trung thành và kiên trì phấn đấu tới giây phút cuối. Triều thiên vinh thắng đang chờ mỗi người chúng ta nơi cuối cuộc hành trình.

Lạy Chúa, xin thêm đức tin để chúng con ra đi làm nhân chứng cho Chúa trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống. Amen.
 
Lời Thiên Chúa vs Lời người ta
Lm. Xuân Hy Vọng
10:12 28/01/2021
LỜI THIÊN CHÚA vs LỜI NGƯỜI TA

Kính thưa quý cộng đoàn Phụng vụ! Năm mới cũng mới sang, nhưng mọi thứ bất ổn, tai ương vẫn đang rình chờ thế giới nói chung, và chúng ta nói riêng. Hằng ngày, chúng ta dùng lời ăn, tiếng nói, dùng ngôn từ, lý lẽ để truyền tải suy nghĩ, ý tưởng, hầu liên kết với mọi người. Tuy nhiên, đôi lúc chúng ta chỉ nói mà không làm, hoặc chẳng giữ lời mình nói, “ngôn hành bất nhất”, tất bật hành tung. Thế nhưng, Lời Chúa trong đời sống chúng ta hằng vang vọng, và tác động mạnh mẽ đến chúng ta.

Theo sách Đệ Nhị Luật, Thiên Chúa sẽ gầy dựng và ban cho dân Chúa một ngôn sứ, và vị ngôn sứ này nhân danh Chúa mà nói những gì Ngài truyền. Vì vậy, ngôn sứ còn được gọi là “thiên khẩu” (cái miệng của Thiên Chúa). Tất cả lời lẽ của vị tiên tri đều bắt nguồn từ Thiên Chúa, còn ai tự phụ nhân danh Chúa mà nói lời của riêng mình, hoặc mượn danh các thần khác mà nói, thì hậu quả khôn lường “và nếu kẻ nào không nghe lời của Ta mà ngươi sẽ nói nhân danh Ta, chính Ta sẽ xét xử nó…” (Đnl 18, 19). Tương tự, Thánh Phao-lô cũng dùng lời Chúa khuyên nhủ, răn dạy giáo đoàn Cô-rin-tô về việc hết lòng phục vụ Chúa, sống lo liệu chứ không lo lắng bận tâm, và hướng dẫn họ đến đời sống đoan chính, gắn bó thiết tha với Chúa mà không bị giằng co (x. 1Cr 7, 32.35). Vì lẽ “tất cả những gì viết trong Sách Thánh đều do Thiên Chúa linh hứng, và có ích cho việc giảng dạy, biện bác, sửa dạy, giáo dục để trở nên công chính” (2Tm 3, 16).

Hơn nữa, lời uy quyền này không phải qua trung gian như Mô-sê, hay các tiên tri xưa kia, mà chính từ Ngôi Lời, Con Thiên Chúa xuống thế làm người, là Lời của Thiên Chúa. Do đó, khi Đức Giê-su trở về quê Na-da-rét, Ngài tuân giữ lề luật, vào hội đường lắng nghe và giảng dạy, thì ai nấy đều sửng sốt về Ngài, “người ta kinh ngạc về giáo lý của Ngài, vì Ngài giảng dạy như Đấng có uy quyền, chứ không như các luật sĩ” (Mc 1, 22). Thời ấy, dân chúng còn chưa biết rõ thân phận của Ngài, nên họ phản ứng theo lệ thường dễ hiểu. Còn nay, chúng ta đã thông hiểu Đức Giê-su chính là Lời, Đấng trực tiếp thông truyền, chuyển tải, chuyện trò, hướng dẫn, dạy dỗ chúng ta mỗi lúc, đặc biệt khi đọc và suy gẫm Lời Chúa, lúc tham dự Thánh lễ, lãnh nhận các Bí tích và qua các biến cố trong đời sống thường nhật, trong gia đình, trong cộng đoàn, giáo xứ, hội dòng, v.v…, mà chúng ta vẫn là người đứng ngoài, không biết đón nhận sao! Mỗi lúc chúng ta tiếp xúc với Lời Chúa, lắng nghe, học hỏi và sống Lời Chúa qua Giáo hội, qua các thừa tác viên có chức thánh…, thì chính Đức Giê-su Ki-tô là Lời, trực tiếp ‘hàn thuyên’, thông truyền, răn dạy chúng ta. Thay vì chỉ sửng sốt, ngạc nhiên, chúng ta cần biết nhận ra, mở lòng đón nhận, ghi tạc trong tâm trí và thực hành Lời Chúa cách cụ thể trong mọi trạng huống cuộc đời.

Nhờ Lời uy quyền, ma quỷ khiếp run và tuân thủ ngay lập tức, “Chúa Giê-su quát bảo nó rằng: “Hãy im đi và ra khỏi người này! Thần ô uế liền dằn vặt người ấy, thét một tiếng lớn, rồi xuất khỏi người ấy” (Mc 1, 25-26); còn nữa “Ngài dùng uy quyền mà truyền lệnh cho cả thần ô uế và chúng vâng lệnh Ngài” (Mc 1, 27). Trong đoạn trần thuật bài Tin Mừng hôm nay, thần ô uế (ma quỷ) biết rõ và công bố danh tính của Đức Giê-su, nhưng tại sao Ngài bắt chúng im lặng? “Tôi biết ông là ai, là Đấng Thánh của Thiên Chúa” (x. Mc 1, 24). Đơn giản vì có lẽ chúng biết Ngài, nhưng chúng chẳng bao giờ thờ lạy, phụng sự Ngài, và hơn thế, chúng còn xúi giục, sai khiên, lôi kéo con người chúng ta theo chúng, mà chẳng chịu tuân phục và vâng theo Thiên Chúa. Do đó, Đức Giê-su là Lời, bắt chúng câm nín, và nhờ Lời uy quyền này mà giải thoát người bị ám nói riêng, và cứu rỗi chúng ta nói chung. Cứ mỗi ngày, trong từng giây phút cuộc sống, Lời Chúa và vô vàn lời khác từ xã hội, từ thế giới, từ các lĩnh vực chuyên môn, lời bạn bè, lời mời mọc, lời người ta, v.v…diễn ra cùng một lúc, đòi hỏi chúng ta phải biện phân và phân định đâu là Lời uy quyền, đâu là Lời cứu độ, hầu tránh được lời lẽ mỹ miều dẫn đến hư vô, lời trần thế dối gian, và lời ‘hương thoảng gió bay’ để lại biết bao điều tổn hại, thương đau v.v…Duy chỉ Lời Chúa mới chính trực, công minh, cứu rỗi con người và giải thoát lời con người chúng ta khỏi cạm bẫy mơ hồ, ‘một dạ hai lòng’, đầy gian dối.

Lạy Chúa, xin cho Lời Ngài
Thắm đượm lòng con, lắng tai đón nhận.
Mở rộng tâm trí ân cần
Biện phân, phân định muôn phần chứa chan.
Lời Chúa trao ban bình an
Giữa muôn lời nói tràn lan mỗi ngày.
Lời Chúa nắm chặt đôi tay
Dẫn con về bến lạ thay ân tình. Amen!
 
Tin Giáo Hội Hoàn Vũ
Đức Hồng Y Müller cảnh báo: Biden đang đi tiên phong trong chiến dịch ‘triệt hạ Kitô Giáo khỏi văn hóa Tây Phương’
Đặng Tự Do
03:44 28/01/2021

Tuần đầu tiên sau khi ông Joe Biden nhậm chức đã được đánh dấu bằng hàng loạt các tuyên bố phản đối của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ cũng như cá nhân các Hồng Y và Giám Mục. Điều này chưa từng xảy ra đối với các tổng thống Hoa Kỳ trước đây. Trước diễn biến chưa từng có này, Đức Hồng Y Gerhard Müller, nguyên tổng trưởng Bộ Giáo Lý Đức Tin, đã có một cuộc phỏng vấn với thông tấn xã Công Giáo Áo Kath.net vào ngày 26 tháng Giêng, để trình bày những ý kiến của ngài sau một tuần đầy những bất ngờ và thất vọng.

Toàn bộ cuộc phỏng vấn bằng tiếng Đức có thể xem tại đây.

Ký giả Martin Bürger có bài tường trình sau. Nguyên bản tiếng Anh có thể xem tại đây.

Dưới đây là bản dịch toàn văn sang Việt Ngữ.

Đức Hồng Y Gerhard Müller, nguyên tổng trưởng Bộ Giáo Lý Đức Tin, đã cảnh báo rằng chính phủ Hoa Kỳ dưới thời Tổng thống Joe Biden, “với quyền lực chính trị, truyền thông và sức mạnh kinh tế tập trung trong tay, đang đi đầu trong một chiến dịch tàn bạo tinh vi nhất trong thời gian 100 năm trở lại đây nhằm triệt hạ Kitô Giáo khỏi văn hóa Tây Phương”.

Trong một cuộc phỏng vấn với trang web tin tức Công Giáo nói tiếng Đức kath.net được phát hành vào hôm 26 tháng Giêng, Đức Hồng Y Müller cho biết có “những người Công Giáo, từ các giáo dân tốt cho đến những cấp cao nhất ở Vatican” đang “hạ thấp sinh mạng của hàng triệu trẻ em giờ đây sẽ trở thành nạn nhân của chiến dịch phá thai được phối hợp toàn cầu dưới cách nói hoa mỹ là ‘quyền được chăm sóc sức khỏe sinh sản’ bằng cách đổ tội do những khiếm khuyết trong tính cách của Tổng thống Trump”.

Đức Hồng Y giải thích rằng một người anh em đã nói với ngài rằng không nên giản lược mọi chuyện vào vấn đề phá thai mà thôi. “Anh ấy nói, rốt cuộc việc lật đổ Trump đã ngăn chặn nguy cơ lớn hơn nhiều rằng kẻ điên khùng này sẽ nhấn nút hạt nhân”, Đức Hồng Y kể lại như thế, trước khi giải thích rằng theo quan điểm của ngài, “đạo đức cá nhân và xã hội phải được ưu tiên hơn chính trị. Ranh giới đã bị vượt qua khi niềm tin và đạo đức bị bán đứng cho những tính toán chính trị. Tôi không thể ủng hộ một chính trị gia ủng hộ việc phá thai vì ông ta xây nhà tế bần, và không thể vì những điều tốt đẹp tương đối, mà phải chấp nhận cái ác tuyệt đối”.

Đức Hồng Y đã giải thích giáo huấn của Giáo hội về phá thai bằng cách tham chiếu đến Hiến Chế Mục Vụ Về Giáo Hội Trong Thế Giới Ngày Nay Gaudium Et Spes của Công đồng Vatican II, được công bố vào năm 1965, “Vì Chúa, là Thiên Chúa là Chúa sự sống, đã trao cho con người nhiệm vụ cao cả là bảo tồn sự sống, và họ phải chu toàn bổn phận ấy cách xứng hợp với con người. Do đó, sự sống ngay từ lúc thụ thai phải được giữ gìn hết sức cẩn thận; phá thai và sát nhi là những tội ác ghê tởm” (Gaudium Et Spes, 51).

Như thế, “điều xấu xa tự bản chất” không thể “được phép, chấp thuận và khuyến khích trong đời sống công cộng” bởi những người tự xưng mình là chính trị gia Công Giáo, trong khi đức tin chỉ được xem là một vấn đề riêng tư.

Vị Hồng Y người Đức và nguyên là giám mục Regensburg thừa nhận rằng “Trong hành động thực tế cụ thể, các Kitô hữu trong quốc hội hoặc chính phủ có thể không phải lúc nào cũng thành công trong việc thực thi luật luân lý tự nhiên ở mọi khía cạnh. Nhưng họ không bao giờ được tham gia, dù chủ động hay thụ động, vào cái ác. Ít nhất, họ phải phản đối nó và – trong chừng mực có thể – chống lại nó, ngay cả khi họ bị phân biệt đối xử vì làm như vậy”.

Đức Hồng Y Müller chỉ ra rằng bất kỳ ai “với tư cách là một Kitô hữu có lập trường chống lại khuynh hướng tuyên truyền của truyền thông chính mạch về LGBT, phá thai, hợp pháp hóa sử dụng ma túy, xóa bỏ sự khác biệt giới tính nam nữ, đều bị chỉ trích cay nghiệt là ‘cực hữu’ hoặc thậm chí là ‘Đức quốc xã’, mặc dù chính những người theo chủ nghĩa xã hội với hệ tư tưởng xã hội và sinh học Darwin của họ mới chính là những người mâu thuẫn công khai nhất với hình ảnh con người theo Kitô giáo”.

Trong vài ngày đầu tiên của nhiệm kỳ tổng thống, Biden đã đảo ngược một số chính sách xã hội bảo thủ của cựu Tổng thống Donald Trump. Cụ thể, Biden đã ký một sắc lệnh hành pháp cho phép những người đàn ông “lẫn lộn về giới tính” tham gia vào các môn thể thao của phụ nữ và sử dụng phòng vệ sinh cũng như phòng thay quần áo của phụ nữ.

Trang web chính thức của Tòa Bạch Ốc cũng có một biểu mẫu liên hệ nơi công dân có thể chọn đại từ nhân xưng ưa thích của họ, như là một sự chuẩn thuận đối với ý thức hệ giới tính.

Hôm thứ Sáu, Biden và Phó Tổng thống Kamala Harris đã đưa ra một tuyên bố chung nhân kỷ niệm 48 năm ngày Tòa án Tối cao đưa ra phán quyết khét tiếng trong vụ Roe kiện Wade, áp đặt việc phá thai theo yêu cầu đối với tất cả 50 tiểu bang.

Họ nói: “Chúng tôi cam kết sâu sắc là bảo đảm mọi người đều có quyền truy cập vào dịch vụ chăm sóc - trong đó có dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản - bất kể thu nhập, chủng tộc, mã bưu điện, tình trạng bảo hiểm y tế, hoặc tình trạng di trú”.

Tuyên bố nói tiếp: “Chính quyền Biden-Harris cam kết luật hóa phán quyết Roe kiện Wade và bổ nhiệm các thẩm phán tôn trọng các tiền lệ cơ bản như phán quyết Roe. Chúng tôi cũng cam kết bảo đảm rằng chúng tôi sẽ nỗ lực xóa bỏ sự chênh lệch về sức khỏe giữa bà mẹ và trẻ sơ sinh, tăng cường khả năng tiếp cận các biện pháp tránh thai và hỗ trợ các gia đình về kinh tế để tất cả các bậc cha mẹ có thể thăng tiến gia đình mình một cách xứng đáng. Cam kết này mở rộng cho công việc quan trọng của chúng tôi về kết quả sức khỏe trên khắp thế giới”.

Vấn đề phá thai đã được đưa ra ngay trong cuộc họp báo đầu tiên của Tòa Bạch Ốc vào ngày Biden nhậm chức, khi thư ký báo chí Jen Psaki nói, “Tôi nghĩ chúng ta sẽ có nhiều điều để nói về Chính sách Thành phố Mexico trong những ngày tới. Nhưng tôi sẽ nhân cơ hội này để nhắc nhở tất cả các bạn rằng tổng thống là một người Công Giáo sùng đạo và là người thường xuyên đi lễ nhà thờ. Ông ấy bắt đầu ngày hôm nay với việc tham dự nhà thờ cùng gia đình vào sáng nay. Nhưng tôi không có bất cứ điều gì hơn cho bạn về điều đó”.

[Trong chương trình “Bạn và tôi đều ủng hộ Hillary Clinton” ngày 18 tháng Giêng, bà Nancy Pelosi, Chủ tịch Hạ viện, đã mạt sát 4 năm cầm quyền của Tổng thống Trump là một “tai họa cho nước Mỹ” và quyết liệt đổ lỗi cho những cử tri phò sinh đã gây ra cái tai họa ấy và gọi họ là những người phản bội nền dân chủ Mỹ.

Đáp lại, Đức Tổng Giám Mục Cordileone, là Giám Mục bản quyền của bà chủ tịch Hạ Viện, nói rằng nước Mỹ “thấm đẫm máu những người vô tội vì phá thai, và nó phải dừng lại”. Ngài nói thêm rằng “Không người Công Giáo nào có lương tâm trong sáng lại có thể ủng hộ phá thai”. Những kẻ tự xưng mình là Công Giáo thường xuyên đi lễ nhà thờ, năng lần chuỗi Mân Côi, mà lại đi hô hào phá thai chỉ là Công Giáo giả mạo, dùng đức tin để lừa người ta bỏ phiếu cho mình. Người Công Giáo thật sự phải biết tuân giữ và yêu mến luật Chúa, cũng như các giáo huấn của Giáo Hội.
]

Ngay trong chiến dịch tranh cử của mình, Biden đã tuyên bố ý định hủy bỏ Chính sách Thành phố Mexico, là chính sách chặn tài trợ của liên bang cho các tổ chức phi chính phủ cung cấp hoặc hỗ trợ phá thai.

Trong khi một số giám mục ở Hoa Kỳ, dẫn đầu bởi chủ tịch Hội Đồng Giám Mục, là Đức Tổng Giám Mục José Gomez, đã thể hiện sự phản đối của các ngài đối với lập trường của Biden về nhiều vấn đề, những người khác đã chỉ trích tuyên bố đó – đáng lưu ý nhất là Đức Hồng Y Blase Cupich của Chicago.

Tuy nhiên, Đức Hồng Y Müller nhấn mạnh rằng “một giám mục được phân biệt với các chính trị gia quyền thế và những người vận động cho một ý thức hệ bởi sự tuân phục của ngài đối với Lời Chúa được mặc khải. Ngài sẽ là một môn đệ lầm đường lạc lối nếu ngài tương đối hóa luật luân lý tự nhiên vì lợi ích chính trị của ngài hoặc vì lợi ích của bên này hoặc bên kia. Vì mọi người đều nhận ra những đòi hỏi của [luật luân lý tự nhiên] trong lương tâm của mình trên cơ sở lý trí của họ”.

“Vào thời các thánh tông đồ, khi những nhà cai trị chính trị và tôn giáo muốn cấm các ngài rao giảng giáo huấn của Chúa Kitô bằng cách đe dọa trừng phạt các ngài, các tông đồ trả lời đã trả lời rằng: ‘Chúng ta phải vâng lời Thiên Chúa hơn là con người’ (Cv 5:29)”, Đức Hồng Y Müller nói và nhấn mạnh rằng “Những người tương đối hóa cam kết rõ ràng đối với sự thánh thiêng của cuộc sống mỗi con người trên cơ sở các sở thích chính trị bằng các thủ đoạn chiến thuật và các hình thái ngụy biện đang công khai chống lại đức tin Công Giáo”.

Đức Hồng Y nói thêm: “Công đồng Vatican II và tất cả các giáo hoàng cho đến Đức Phanxicô đã mô tả việc cố ý giết một đứa trẻ trước và sau khi sinh là sự vi phạm nghiêm trọng nhất các điều răn của Thiên Chúa”.

Trong Didache /ˈdɪdəkeɪ/, nghĩa là Tuyển Tập Các Giáo Huấn Của Mười Hai Tông Đồ, một trong những tác phẩm Kitô Giáo sớm nhất có từ cuối thế kỷ thứ nhất hoặc đầu thế kỷ thứ hai, Giáo hội đã dạy rằng “ngươi không được giết một đứa trẻ bằng cách phá thai cũng như không được giết một đứa trẻ đã chào đời”.


Source:Life Site News
 
Tin Giáo Hội Việt Nam
Lễ Phong Chức 11 Linh Mục và 10 Phó Tế tại Nhà thờ Chính tòa Phan thiết
Lm Giuse Nguyễn Hữu An
09:48 28/01/2021
“Trong bài Tin Mừng (Ga 17, 6-17), Chúa Giêsu đã cầu xin cho các môn đệ mình 2 điều: một là sự hiệp nhất, hai là thánh hiến. Đây chính là 2 điều quan trọng để sống giữa thế gian mà không thuộc về thế gian”. Đức Giám Mục Giuse Đỗ Mạnh Hùng đã nhắn nhủ như trên khi ngài chủ sự Lễ truyền chức Linh mục cho 11 Phó tế và chức Phó tế cho 10 Thầy (Khóa 7 & 8 ĐCV Xuân Lộc và 15 & 16 ĐCV Sài gòn) tại Nhà thờ Chính toà vào lúc 8g30 thứ Năm ngày 28-1-2021.

Đức cha Giuse chủ tế; đồng tế với ngài có cha Tổng đại diện, cha Giám đốc Đại Chủng viện thánh Giuse Sài gòn, cha Giám đốc Đại Chủng viện thánh Giuse Xuân lộc, cha Giám đốc Chủng viện thánh Nicôla Phan thiết, quý cha Hạt trưởng và khoảng 180 Linh mục trong và ngoài giáo phận. Các chủng sinh, tu sĩ nam nữ, thân nhân, ân nhân của các tiến chức chung lời tạ ơn và hiệp thông cầu nguyện.

Xem Hình

Sau bài Tin Mừng, trong phần Nghi Thức Truyền Chức Thánh, Đức Cha Giuse ban huấn từ.

Kính thưa cộng đoàn phụng vụ

1. Các bài đọc Kinh thánh trong thánh lễ hôm nay trình bày một điểm quan trọng trong Bí tích truyền chức là sự thánh hiến. Theo nguyên nghĩa, sự thánh hiến là tách rời một người hay một vật ra khỏi lãnh vực phàm tục, để dành riêng cho công việc thánh.

Qua Bí tích truyền chức, các phó tế và linh mục được thánh hiến một cách đặc biệt để thuộc trọn về Chúa. Đây là điều mà Chúa Giêsu đã khẳng định trong bài phúc âm chúng ta vừa nghe, khi nói về các tông đồ, những người đã được tuyển chọn, được tách khỏi thế gian để thuộc về Chúa, để thi hành Lời của Chúa.

“Lạy cha, những kẻ Cha đã chọn từ giữa thế gian mà ban cho con, con đã cho họ biết danh Cha. Họ thuộc vê Cha. ”. (Ga 17,6)

Tuy được thánh hiến thuộc về Thiên Chúa, nhưng các tông đồ lại được sai đi vào giữa thế gian để thánh hóa thế gian:

“Con không xin Cha cất họ khỏi thế gian, nhưng xin Cha gìn giữ họ khỏi ác thần. Họ không thuộc về thế gian cũng như con đây không thuộc về thế gian ” (Ga 17,15-16)

Trong bài Tin Mừng này, Chúa Giêsu đã cầu xin cho các môn đệ mình 2 điều: một là sự hiệp nhất, hai là thánh hiến. Đây chính là 2 điều quan trọng để sống giữa thế gian mà không thuộc về thế gian.

a/ Điều thứ nhất, hiệp nhất: Kinh nghiệm cho thấy Linh mục tu sĩ nào không thân thiết với anh chị em cùng lý tưởng với mình, không gắn bó với Giáo Hội và với cộng đoàn của mình, thì Linh mục tu sĩ ấy dễ sa ngã hơn, dễ dàng bị thế gian lôi cuốn.

b/ Điều thứ hai, thánh hiến: Chỉ một mình Thiên Chúa là Đấng Thánh. Thánh hiến ai là làm cho người đó hoàn toàn thuộc về Chúa. Chúa Giêsu cầu xin Chúa Cha lấy Lời Chúa mà làm cho các môn đệ thuộc về Chúa một cách trọn vẹn. Ai đã trọn vẹn thuộc về Chúa thì cho dù người đó có sống giữa bao nguy hiểm quyến rũ của thế gian thì cũng không hề hấn gì. Ơn Chúa và tình yêu của Ngài giúp người ấy vượt thắng được những lôi kéo, cám dỗ của thế gian.

2. Các anh em ứng sinh sắp lên chức Phó tế thân mến,

Anh em sắp lên chức Phó tế. Phó tế có nhiệm vụ thánh hóa cộng đoàn qua 2 tác vụ chính: phục vụ bác ái và rao giảng Lời Chúa bằng lời nói và gương sáng.

Một cách cụ thể, anh em hãy lưu ý đến 5 điểm sau:

- Thứ nhất, anh em vui tươi phục vụ những người Chúa trao phó, nhất là phục vụ những người hèn kém, yếu đuối, như là phục vụ Chúa.

- Thứ hai, vì không ai có thể làm tôi hai chủ “vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi tiền của” anh em hãy lưu tâm, đừng để tiền của lôi cuốn. Sự khó nghèo sẽ giúp anh em thuộc về Chúa Kitô hơn.

- Thứ ba, anh em sẽ thi hành thừa tác vụ trong bậc độc thân. Bởi vì, độc thân vừa là dấu chỉ, vừa là động lực của bác ái mục vụ, đồng thời cũng là nguồn mạch phát sinh nhiều hoa trái trong thế gian.

- Thứ tư, thái độ khiêm tốn vâng lời bề trên sẽ giúp anh em nên giống Chúa Giêsu, luôn vâng theo ý Chúa Cha và làm đẹp lòng Chúa Cha.

- Thứ năm, việc rao giảng Lời Chúa hết sức quan trọng. Vì thế anh em hãy thực hiện với tâm niệm “Tin điều con đọc - Dạy điều con tin - Thi hành điều con dạy”.

3. Còn các tiến chức Linh mục thân mến,

Hôm nay, qua việc đặt tay của Giám Mục (x 1Tm 4,14; 2Tm 1,6), anh em trở nên một Alter Christus, một Chúa Kitô thứ hai, để phục vụ Chúa và Giáo Hội với 3 chức năng: Rao giảng, thánh hóa và mục tử.

a) Trước hết, anh em sẽ thi hành nhiệm vụ rao giảng. Soạn bài giảng kỹ lưỡng là một nhiệm vụ đòi hỏi nhiều cố gắng và kiên trì. Vào ngày 17 tháng 12 năm 2020 vừa qua, Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật các Bí Tích đã gởi một thông tư để nhắc về Chúa nhật Lời Chúa được Đức Thánh Cha Phanxicô thiết lập và ấn định cử hành hằng năm vào Chúa nhật thứ ba Thường niên (x. ĐTC. Phanxicô, Tông thư Aperuit illis, 30.9.2019) mà chúng ta vừa cử hành ngày Chúa nhật 24/1/2021 vừa qua.

Trong thông tư, các giám mục, linh mục và phó tế được nhắc phải ý thức chu toàn phận vụ giảng lễ với mối quan tâm đặc biệt. Thông tư viết: “Các vị mục tử trước tiên có trách nhiệm chủ yếu trong việc giải thích và giúp tất cả mọi người hiểu Thánh Kinh;... phải ý thức sâu sắc về yêu cầu phải làm cho Lời Chúa đi vào đời sống cộng đoàn.” (ĐTC. Phanxicô, Tự sắc Aperuit illis, 5; Homiletic Directory, 26).

b) Tiếp đến, anh em sẽ thánh hóa dân Chúa khi cử hành các Bí tích, đặc biệt khi cử hành Bí tích Thánh Thể, cử hành mầu nhiệm Chúa chịu chết và sống lại. Anh em cố gắng cùng với Chúa Giêsu mỗi ngày trong Thánh Lễ, để chết đi cho con người cũ và mặc lấy “con người mới” của yêu thương trong đời sống mới. Nhất là khi cử hành Bí tích Giải tội, anh em hãy bày tỏ lòng nhân từ thương xót của Chúa dành cho mọi hối nhân.

c) Sau hết, anh em thân mến, anh em sẽ liên kết với các Giám mục và các bề trên, để thi hành nhiệm vụ Thủ Lãnh và Mục Tử của Đức Kitô. Anh em hãy luôn ngắm nhìn gương sáng của Mục Tử tốt lành: Người không đến để được phục vụ nhưng để phục vụ. Người đến để tìm kiếm và cứu rỗi kẻ hư mất. Lãnh đạo theo gương Chúa Kitô được thực hiện cách sống động qua việc dấn thân phục vụ đoàn chiên Chúa.

Tất cả các tiến chức Phó tế và linh mục thân mến, ước gì từng giây, từng phút, và xuyên suốt đời mình, anh em luôn cảm nghiệm được lòng Chúa thương xót, để nói được như thánh Phaolô tông đồ: “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kỉtô sống trong tôi. Hiện nay tôi sống kiếp phàm nhân trong niềm tin vào Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu mến tôi và hiến mạng vì tôi” (GI 2,20-21).

Xin Đức Mẹ Tàpao chúc lành và đồng hành với tất cả anh em trong sứ vụ sắp tới. Amen.

Sau phần huấn dụ, Đức cha Phong chức Phó tế cho các tiến chức.

Sau đó là nghi thức phong chức Linh mục. Các tiến chức phủ phục trước bàn thờ, cộng đoàn cầu nguyện sốt sắng với Kinh Cầu Các Thánh. Tiến chức nằm phủ phục dưới đất với cảm thức sâu xa về “cái bình sành dễ vở” nơi con người của mình.Thân phận con người với những giới hạn của bản thân luôn mỏng dòn, yếu đuối. Nhờ lời chuyển cầu của các Thánh và lời cầu nguyện của cộng đoàn dân Chúa mà tiến chức đón nhận thánh chức Linh mục.

Đức cha Giuse đã đặt tay lên đầu 11 Phó tế, lần lượt từng linh mục đặt tay trên đầu tiến chức. Với lời nguyện phong chức, các Phó tế đã trở thành Linh mục. Đức Giám Mục trao cho mỗi tân chức phẩm phục, mỗi tân Linh mục đến trước bàn thờ để được ĐGM xức dầu thánh hiến đôi tay và được trao chén thánh. Từng tân chức đón nhận cử chỉ “trao bình an” thân ái từ Giám mục và cha Tổng đại diện, các cha Giám đốc Chủng viện.

Với tư cách là Linh mục, các tân chức cùng đồng tế Thánh lễ trong phần Phụng vụ Thánh Thể.

Cuối thánh lễ, đại diện các tân chức cám ơn Đức cha, quý cha và cộng đoàn. Bó hoa tươi thắm dâng lên Đức cha với lòng hiếu thảo tri ân.

Mỗi lần dự lễ phong chức là mỗi lần dân Chúa mong ước giống như Thánh Phêrô qua những lời khuyên rất thực tế, sâu sắc và cảm động của ngài: “Anh em hãy chăn dắt đoàn chiên mà Thiên Chúa đã giao phó… lo lắng cho họ không phải vì miễn cưỡng, nhưng hoàn toàn tự nguyện như Thiên Chúa muốn, không phải vì ham hố lợi lộc thấp hèn, nhưng vì lòng nhiệt thành tận tuỵ. Đừng lấy quyền mà thống trị những người Thiên Chúa đã giao phó cho anh em, nhưng hãy nêu gương sáng cho đoàn chiên” (1 Pr 5,2-3).

Thánh Gioan tông đồ trong bữa tiệc ly đã để lại hình ảnh rất đẹp: tựa đầu vào ngực Chúa Giêsu (x.Ga 13,23). Linh mục là người dựa đầu vào Trái Tim Chúa Giêsu. Theo gương Thánh Gioan, nhiều linh mục đã dựa lòng mình vào Trái Tim Chúa Giêsu. Cử chỉ thân mật đó chủ yếu là để đón nhận. Đón nhận ơn sống mật thiết với Chúa, đón nhận ơn bình an của Chúa, đón nhận ơn sống hiện diện trước nhan thánh Chúa.

Linh mục là một hồng ân và là một huyền nhiệm. Là một hồng ân nên cần phải tạ ơn Chúa. Là một huyền nhiệm nên cần phải khám phá và quý trọng. Chúa Giêsu thiết lập chức Linh mục là vì và cho dân Chúa. Chức Linh mục đòi hỏi rất nhiều nơi các Linh mục, trong khi đó bản thân các Linh mục lại rất yếu đuối và giới hạn. Hãy cảm thông và cầu nguyện cho các Linh mục. Hãy cầu nguyện với Đức Mẹ xin cho Giáo Hội có nhiều Linh mục theo gương Chúa Giêsu.

Xin gửi đến bài thơ sáu câu của Đức Ông Thi sĩ Xuân Ly Băng như là lời khuyên nhủ của ngài dành cho 21 tân chức.

Ngày ngày cầu nguyện chăm chuyên.

Tôn thờ Thánh Thể đặt lên hàng đầu.

Thánh Kinh phải được đào sâu.

Mân Côi kính Mẹ khẩn cầu chớ quên.

Trông nom mục vụ ưu tiên.

Tỏa lan đức ái lời khuyên Tin mừng.

Ước mong các tân chức luôn ghi nhớ, hồng ân linh mục và phó tế là quà tặng và mầu nhiệm mà Chúa trao ban cho mình. Xin Đức Mẹ là Mẹ của các Linh mục luôn gìn giữ và ban ơn cho các tân chức trong ngày trọng đại này và mãi mãi, để các ngài trở nên một Giêsu thứ hai con của Mẹ. Amen.

Lm Giuse Nguyễn Hữu An
 
Tài Liệu - Sưu Khảo
tư liệu FABC: Suy tư thần học
Lm. Xuân Hy Vọng
10:15 28/01/2021
Tư liệu FABC số 52
CHƯƠNG 4: SUY TƯ THẦN HỌC


Phần 1: Một loại hình Thần học cho Thời đại Chúng ta

Đọc được những Dấu chỉ Thời đại. Một đặc điểm của Công đồng Va-ti-can II chính là sự quan tâm hoàn toàn mới mẻ của Giáo hội trong việc xem xét kỹ lưỡng “các dấu chỉ của thời đại”. Rõ ràng thần học đóng vai trò trợ giúp Giáo hội làm việc này nhờ Kinh thánh, Thánh truyền và Huấn quyền. Những gì đang diễn ra xung quanh và trong Giáo hội được các nhà thần học nhận định là “cứ liệu thần học” – đại loại là những gì họ phải để tâm lắng nghe. Thần học thực hiện được điều này cũng cần tới mọi ngành khoa học xã hội. Khá nhiều tiền lệ rõ ràng đã tồn tại, khi nhờ đến các nguồn liệu thế tục.

Nền thần học nhận thức từ lâu nhu cầu cần khám phá, cũng như trình bày kho tàng đức tin với sự hỗ trợ từ các khái niệm và dụng cụ triết học. Cùng với xác tín, thần học luân lý đang xem xét và sử dụng chọn lọc những tư tưởng của tâm lý học đương thời. Tuy nhiên, công việc suy tư thần học không được ngăn trở việc nhìn nhận và nêu ra luận điểm tương đồng hệ trọng trong tư tưởng các môn khoa học xã hội, khởi sự với việc dùng nó mà giải đáp nghi vấn: Đối tượng suy tư thần học? Đến từ đâu? Ảnh hưởng thế nào đối với các nhóm cấu thành xã hội?

Nói cách khác, Công đồng Va-ti-can II không hạ thấp một nền thần học mà chủ yếu lắng nghe Lời Chúa như dân Is-ra-en hay các thế hệ Ki-tô hữu đã làm; hơn thế, biết truy tầm nâng cấp trải nghiệm thời đại hiện nay, cũng như nhận nó làm chất liệu suy tư. Chúng ta mong mỏi chấm dứt chính sách độc quyền mà trong đó chỉ tận hưởng một kiểu suy tư thần học. Tại nhiều nơi thuộc Thế giới thứ Ba, chính sách độc quyền này bị tan vỡ nhờ tính hiệu quả minh chứng của một nền thần học biết chú tâm lắng nghe cảm nghiệm người nghèo ngày nay.

Cách thức Suy tư Thần học Mới mẻ. Thần học có thể được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng, khi linh mục thuyết giảng, bố mẹ giải thích cho con gái biết tại sao “mọi người hành động như vậy” chẳng phải vì lí do nó làm, tất cả những điều này được gọi là suy tư thần học, cụ thể, họ cùng với người khác tìm kiếm Lời Chúa cho chúng ta hôm nay. Còn theo nghĩa hẹp, thần học là sinh hoạt của giới chuyên môn được đào luyện. Cốt lõi bé xíu trong giới thần học gia điêu luyện tự mình không thể thay đổi phong cách chiếm lĩnh của lối suy tư thần học. Họ có trách nhiệm trong chương trình đào tạo chủng sinh, việc lệ thuộc kinh tế vào trợ cấp Giáo hội cũng như cách tiếp cận cuộc sống theo khía cạnh tri thức, và giới hạn bản thân. Các linh mục ở những nơi đối mặt với 30% số người tham dự Thánh lễ và thấp hơn nữa, hoặc bố mẹ trăn trở tìm hiểu tình trạng con cái họ nhớ hết nội dung từ phương tiện truyền thông, những điều này tự nó không tạo ra cách thức suy tư thần học mới mẻ. Một vài phong trào mở rộng nhờ toàn thể Giáo hội địa phương mà họ là thành viên như nhà thần học chuyên môn, cha phó, bố mẹ, nếu xét một cách lý tưởng, họ cần đối thoại thật sự và cùng nhau kiếm tìm.

Nhà thần học mong muốn trau dồi cách thức suy tư thần học mới mẻ, chính là những ai sẽ phải tự làm quen hoàn toàn với cảm nghiệm sống nơi người nghèo ở một đất nước nào đó (qua cảm nghiệm đầu tay và lựa chọn chuyên tu) cũng như truyền thống và trải nghiệm của giai cấp lao động. Trong các lĩnh vực thần học cũng như khoa học xã hội, điều thiết yếu chính là con người với kỹ năng phân tích đáng kể và tư duy. Hơn cả sách vở, họ nắm bắt dữ liệu thô để suy tư từ cảm nghiệm của người nghèo và trăn trở chiến đấu nhằm thay đổi xã hội. Hơn nữa, những khả năng của giới chuyên môn dành hết cho công cuộc phục vụ này ắt hẳn muốn tạo ra một khuôn hình lý thuyết đa dạng mà có thể chứng tỏ kỹ năng nối kết thần học với các ngành khoa học xã hội trong cách thức hữu hiệu, và được bổ trợ nhờ trải nghiệm của người nghèo.

Phần 2: Giáo hội và Giới Lao động

Về phía Người lao động. Người lao động hiện diện tại AISA đã chú tâm lắng nghe khi Đức ông Ralph Salazar trình bày: “Vào năm 1891, Đức Giáo Hoàng Lê-ô XIII kiên định đặt Giáo hội về phía người lao động như Ngài viết trong thông điệp Rerum Novarum. Đức Giáo Hoàng khẳng định: người công nhân sở hữu quyền tự nhiên nhằm hình thành các tổ chức với cấu trúc thích hợp, để tự do hành động theo sáng kiến của bản thân”. Các tham dự viên công nhân đã bàng hoàn trước sự thật này mà họ chưa từng được nghe.

Tiếp đó, Đức Giáo Hoàng Phao-lô VI quả quyết giáo huấn xã hội của Giáo hội “đồng hành với con người trong việc kiếm tìm”, nhưng không chỉ dừng lại ở việc khơi gợi lại những nguyên lý chung chung. Còn Đức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II diễn giải: bởi vì học thuyết xã hội của Giáo hội có nguồn gốc từ Tin Mừng, được lãnh nhận, rao truyền và thực hành trong Giáo hội, cho nên, nó luôn luôn tồn tại. Ngài gọi đó là “tiếng vang vọng của lương tâm con người” (tiếng lòng). Trước đó, Đức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II đã khẳng định: những giáo huấn xã hội chẳng phải là mô hình được thêu dệt, mà là di sản sống động – giáo lý và thực hành – được phát triễn theo hoàn cảnh chuyển biến của thế giới. Theo lời quen thuộc của Ngài, Đức Giáo Hoàng Phao-lô VI trực tiếp nêu rõ: “Điều đó phụ thuộc vào cộng đoàn Ki-tô giáo trong việc phân tích khách quan hoàn cảnh phù hợp với đất nước nơi họ đang sinh sống, để ánh sáng lời hằng sống của Thiên Chúa chiếu rọi và từ đó rút ra những nguyên lý suy tư, chuẩn mực đánh giá, cũng như đường hướng thực hiện dựa vào giáo huấn xã hội của Giáo hội” (Octogesima Adveniens, số 4).

Suy tư nối tiếp suy tư, tuyên bố này đến tuyên bố kia của các Đức Giáo Hoàng gần 100 năm qua lột tả những giáo huấn xã hội sau:
- “Công đoàn hay liên hiệp lao động, chỉ sử dụng luật lệ làm phương thế bảo vệ người lao động” (Lê-ô XIII);
- “Lương bổng được quyết định không nên bởi quan điểm lợi ích cá nhân, mà phải dựa trên hành động tạo ra công ăn việc làm càng nhiều càng tốt” (Pi-ô XI).

Trong thông điệp vĩ đại của Đức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II năm 1981, hàng loạt quả quyết về nỗ lực của người lao động:
- “Người lao động có quyền lập hội”.
- “Công đoàn Lao động chính là tiếng nói cho cuộc đấu tranh dành sự công bằng xã hội, cho quyền lợi người lao động, nhưng không phải là cuộc chiến chống lại người khác”.
- “Người lao động được hưởng những quyền lợi xã hội như chăm sóc sức khoẻ, nghỉ ngơi và giải trí, trợ cấp, bảo hiểm và môi trường làm việc lành mạnh”.
- “Học thuyết xã hội Công Giáo công nhận đình công hợp lệ theo những điều kiện và giới hạn thích hợp. Người lao động phải được đảm bảo quyền đình công, mà không phải chịu một hình phạt nào, kể cả cá nhân hay hình sự”.
- “Công việc là phương tiện mà nhờ đó con người trưởng thành trong tình hiệp thông với Chúa và được tham dự vào mầu nhiệm Vượt Qua”.
- “Lao động gắn liền với mầu nhiệm hoạt động sáng tạo của Thiên Chúa; qua lao động, mỗi người được thông phần vào kỳ công sáng tạo của Người”.

Vào năm 1961, Đức Giáo Hoàng Gio-an XXIII cũng tách biệt Giáo hội khỏi các lực lượng xã hội mà họ hầu hết chống lại sự thay đổi cơ cấu. Hơn nữa, Đức Giáo Hoàng Phao-lô VI khẳng khái tuyên bố trong thông điệp Phát triển các Dân tộc (năm 1967): “Cuộc cách mạng nổi dậy – trừ phi tồn tại nghi vấn về một bạo chúa lâu đời rành rành đã xâm phạm nhân quyền cơ bản và gây ra thương tổn khủng khiếp cho công ích – sẽ sản sinh tình trạng bất công dưới dạng mới khác, huỷ hoại, và làm phương hại người dân hơn”. Nhờ ánh quang giác ngộ ròng rã 20 năm dưới thời độc tài chuyên quyền của Ferdinand Marcos, những lời này mang một tầm mức quan trọng tột bậc.

Tương tự, Hội đồng Giám mục năm 1971 cũng đã đưa ra tuyên ngôn xúc tiến công bình là một chiều kích hiến pháp cho việc rao truyền Tin Mừng. Và Giáo hội coi công cuộc loan báo công bằng cho thế giới, thì phải thực hành nó trong đời sống, cũng như cơ cấu của mình.

Phần 3: Những Suy tư tại AISA I

Ăn chay vì tình Hiệp nhất. AISA I bắt đầu giai đoạn suy tư thần học với một ngày ăn chay trong tình liên đới với người lao động. Các tham dự viên đồng ý chỉ dùng một bữa ăn và san sẻ với người công nhân mà họ viếng thăm suốt chương trình gặp gỡ–hoà nhập số tiền mà ban tổ chức góp nhặt để giúp họ phần nào. Cảm nghiệm qua sự đói nghèo của người lao động cũng là hành động liên đới với họ.

Giai đoạn suy tư thần học không thiên nhiều về mặt trí tuệ như phân tích, nhưng dành nhiều thời gian suy tư, biện phân trong tâm hồn sâu thẳm rằng Thiên Chúa hoạt động ra sao trong thực tế của người lao động. Chúng ta cảm nghiệm Chúa giữa họ thế nào? Chúng ta cảm nhận Chúa hiện diện trong lĩnh vực nào của cuộc sống người công nhân đang thách thức chúng ta giải đáp?

Suy tư của những Tham dự viên AISA

A. Tôi đã cảm nhận Chúa hoạt động nơi nào trong cuộc sống người lao động mà tôi gặp gỡ hay làm việc chung?

1. Tham dự viên Phi-luật-tân
- Chính Thiên Chúa sống trong sự nghèo khó của người lao động. Người thật sự hiện diện giữa dân của Người đang đau khổ. Như trong lịch sử, Thiên Chúa lắng nghe tiếng khóc than của muôn dân.
- Trong lời cam kết, niềm xác tín, lòng kiên trì nhẫn nại, niềm hy vọng và hiệp nhất mà họ sẽ đạt được chính nghĩa nhờ Chúa trợ giúp và hướng dẫn.
- Qua câu chuyện một công nhân đã san sẻ hết số tiền thu nhập 400 pê-sô/1 tuần với gia đình của ba công nhân khác đang bãi công. Thật sự, họ chia sẻ số tiền như vậy minh chứng cho sự hiện diện của Chúa giữa họ.
- Trên thực tế, là những người làm việc cho Giáo hội, chúng tôi vẫn ở đây cho dù người khác lên án chúng tôi.
- Tại làn ranh trực giác, nơi mà công nhân đấu tranh sinh tồn và khẳng định nhân phẩm của họ, và qua những người tổ chức luôn kiên định trong phận vụ, không mong được đền bù vật chất.

2. Tham dự viên Đông Á
- Thông qua khả năng chăm sóc người khác của người lao động, mặc dù họ đang khó khăn. Chúng tôi chứng kiến đời sống tâm linh giữa những người thể hiện lòng quan tâm đến người khác.
- Qua các bạn trẻ Hồng-Kông là những người bắt đầu đi tìm ý nghĩa cuộc đời dù cuộc sống vật chất sung túc. Chúng tôi cảm nhận được sự hiện diện của Chúa khi họ vươn lên trong đời sống đạo đức.
- Mặc dù không nhận được hỗ trợ, nhưng nhờ sự kiên trì, một phụ nữ trẻ Hàn Quốc tự thân lập nên công đoàn.
- Cuộc chiến của những người công nhân tại vùng giới ranh trực gác. Cốt lõi của đức tin chúng tôi chính là mầu nhiệm cuộc tử nạn và phục sinh của Đức Ki-tô. Chúng tôi gặp gỡ Người qua đau khổ của mình. Là thành phần của nhiệm thể Chúa Ki-tô, chúng tôi cảm thấy chi thể khổ đau mỗi khi chứng kiến người lao động đau khổ.
- Qua sự giản dị đơn sơ của người lao động, không chỉ về phương diện vật chất, mà còn về lối sống. Những người giản đơn dễ kết hiệp với Chúa hơn những ai cầu kỳ phức tạp.
- Qua những người bị áp bức. Các quốc gia giàu có nên san sẻ của cải với nước nghèo.

3. Tham dự viên Nam Á
- Nhìn thấy khi người nghèo vất vả, gian khổ, đói nghèo, bị quấy rồi hay bị lạm dụng. Qua người lao động, chúng tôi chứng kiến sự đói khát mà Đức Giê-su chịu trên thập giá, cuộc thương khó Người đã trải qua, cũng như bao nhiêu phiền nhiễu, lạm dụng mà Người phải đối mặt trước quan Phong-xi-ô Phi-la-tô. Một số khác nhận được nguồn cảm hứng tiếp tục sống từ cảnh ngộ của người lao động.

B. Qua giáo huấn xã hội của Giáo hội, tôi đã được nghe Chúa nói những gì?

1. Tham dự viên Phi-luật-tân
- tiếp tục kết nối không chỉ với người công nhân mà còn với ban quản lý, bởi lẽ mỗi cá thể thật sự quan trọng,
- Người lao động phải có quyền tham gia đưa ra quyết định cũng như lập nên chính lịch sử của mình. Nhân phẩm, khả năng tạo ra và định hình vận mệnh cho bản thân; liên đới với người nghèo.
- Với nhân quyền, Giáo hội có khả năng giải quyết, giúp đỡ người dân, đặc biệt người nghèo, xoá đi những điều kiện kinh tế–chính trị và xã hội–văn hoá. Trách nhiệm của Ki-tô hữu là phục vụ, công bố công lý thay cho người nghèo. Giáo hội mở lòng trước cảnh ngộ họ như một phần chính yếu trong giáo huấn xã hội của Giáo hội.
- Bảo vệ quyền tổ chức và thành lập công đoàn, nâng cao quyền phụ nữ, và từ chối hai thái cực của chủ nghĩa tư bản cũng như chủ nghĩa cộng sản.

2. Tham dự viên Đông Á
- Chúng tôi phải hành động theo Lời Chúa. Giáo hội không chỉ có trách nhiệm nói lên lập trường, mà còn thực thi nữa. Giáo huấn xã hội cho chúng tôi thấy chiều kích rõ ràng hơn những gì Kinh Thánh nói nên hành động ra sao trong đời thường và giữ vững tầm nhìn mà chúng tôi cần trong công việc.
- Linh mục không nên bỏ lỡ cơ hội trình bày chống lại sự bất công. Một phần sứ mạng của ngài cũng là giúp đỡ các linh mục, tu sĩ khác hiểu rõ hơn về những vấn đề lao động.
- Một thành viên trong nhóm chúng tôi cảm nhận rằng thường dân chưa được tham gia trong tiến trình soạn thảo các giáo huấn xã hội này. Một thách đố cho Giáo hội chính là cho phép người dân thường tham dự vào việc triển khai xa hơn của giáo huấn xã hội.

3. Tham dự viên Nam Á
- các tín hữu nên lao động với số tiền lương công bằng và liên đới với người nghèo. Những linh mục nên học biết về giáo huấn xã hội của Giáo hội.
- Nên có chuyển biến về thái độ và cơ cấu trong Giáo hội, thay đổi trong hệ thống. Hầu hết các tín hữu đều cho rằng tính dục và đạo đức tính dục là vấn đề to lớn, trong khi chẳng bao giờ bàn về giáo huấn xã hội của Giáo hội. Có lẽ, họ lo sợ cuộc sống gặp nguy hiểm do những hậu thuẫn như vậy.
- Thiên Chúa có thể hoạt động qua các nguồn lực khác biệt, cho nên chúng tôi phải luôn sẵn sàng chung tay với họ. Hệ thống kinh tế khác có lẽ sẽ khởi sự từ mức độ cực nhỏ nhằm phá vỡ hệ thống tư bản chủ nghĩa đang chiếm lĩnh.

C. Tôi gặp phải vấn đề nào khi đối diện với thử thách của Chúa?

1. Tham dự viên Phi-luật-tân
- Nhu cầu tài chính không được đáp ứng vì sự kiểm soát liên miên từ nước ngoài trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị và văn hoá chúng tôi.
- Nhu cầu cá nhân cũng như gia đình.
- Nghi ngờ và những điều bất định: đức tin và lời cam kết của tôi mạnh mẽ hay sâu sắc rao sao? Chúng tôi thật sự đảm nhận được những công việc này chăng? Tôi có thể đi xa tới đâu? Người khác nói gì nếu tôi hành động thay cho người nghèo?
- Cảm thức thiếu thốn cao lương mỹ vị và cuộc sống sung túc.
- Hiểu biết nông cạn về những điều kiện của người nghèo và công việc điều hành ra sao, vd: hệ thống chính phủ và mọi sự ảnh hưởng đến người nghèo.
- Lo ngại an nguy. Làm việc cho người nghèo phải chịu rủi ro bị gán ghép là người theo cộng sản chủ nghĩa và bị các nhóm lực lượng vũ trang canh phòng và quân sự điều tra khám xét.
- Bị quân khủng bố đánh thuê và quân đội quấy nhiễu suốt thời gian đình công và biểu tình.
- Tranh chấp giữa các đảng phái cấp tiến và bảo thủ trong quốc hội.
- Thiếu thời gian và nguồn lực khác, nhằm đáp ứng cảnh ngộ người lao động và nhu cầu của họ.
- Hệ thống và cơ cấu tồn tại trong nhà máy và chính sách phản tuyên truyền hạn chế giáo dục và tổ chức người lao động.

2. Tham dự viên Đông Á
- Với tư cách không phải công nhân, nên chúng tôi không thể nắm rõ tình hình thực tế của họ được. Tuy nhiên, chúng tôi tự nhận thấy chúng tôi là thành phần của các phong trào và cũng có vai trò trong đó.
- Chúng tôi sợ phải bỏ rất nhiều, thậm chí cả cuộc sống mình. Chúng tôi cảm thấy không có sự hỗ trợ đầy đủ từ Giáo hội, nhiều người hiểu lầm chúng tôi, và phần chúng tôi, chúng tôi thiếu hiểu biết về chính gia đình mình cũng như sự tham gia của họ trong phong trào.
- Tính bất định duy trì mức độ cam kết và tham gia phong trào lao động, bất kể khi mất liên lạc.
- Sự khó khăn giúp mọi người giải đáp các vấn đề tại những quốc gia khác.

3. Tham dự viên Nam Á
- Thuộc nhóm thiểu số tại nhiều quốc gia cũng là xuất xứ của chúng tôi, ước chừng vỏn vẹn 1% toàn thể dân số, cho nên khó chi phối đất nước là điều dễ hiểu. Tuy nhiên, linh mục cũng như giáo dân trước hết phải biết tới giáo huấn xã hội của Giáo hội. Chúng tôi có thể đến với người lao động nghèo, nhưng còn giới quản lý, và trên hết, chính phủ thì sao?
- Đối thoại với chính quyền chuyên chế về giáo huấn xã hội tựa như gỡ bỏ hết lợi tức của hệ thống tư bản. Có lẽ, tốt hơn hết nên bắt đầu với các hợp tác xã nhỏ tại những nơi bé nhỏ.
 
VietCatholic TV
Bài giáo lý hàng tuần thứ Tư 27/1/2021 của Đức Phanxicô: Cầu nguyện bằng Sách Thánh
Thế Giới Nhìn Từ Vatican
03:39 28/01/2021


Anh chị em thân mến, chúc anh chị em một buổi sáng tốt đẹp!

Hôm nay tôi muốn tập chú vào lời cầu nguyện mà chúng ta có thể bắt đầu bằng một đoạn Kinh Thánh. Những lời trong Sách Thánh không được viết ra để mãi bị giam cầm trên giấy cói, giấy da hay giấy thường, nhưng để được người cầu nguyện tiếp nhận, làm chúng đơm hoa trong lòng mình.

Lời Thiên Chúa đi vào cõi lòng ta.

Sách Giáo lý khẳng định rằng: “cầu nguyện nên đi kèm với việc đọc Sách Thánh” - không nên đọc Kinh thánh như một cuốn tiểu thuyết, mà phải kèm theo lời cầu nguyện - “để cuộc đối thoại diễn ra giữa Thiên Chúa và con người” (số 2653). Đây là nơi việc cầu nguyện dẫn anh chị em tới, vì nó là một cuộc đối thoại với Thiên Chúa. Câu Kinh Thánh đó cũng được viết cho tôi, cách đây nhiều thế kỷ, để mang lời Chúa đến với tôi. Nó được viết cho mỗi người chúng ta. Kinh nghiệm này xảy ra cho mọi tín hữu: một đoạn Kinh thánh, đã nghe nhiều lần rồi, bất ngờ, một ngày nào đó, nói với tôi, và soi sáng một hoàn cảnh sống của tôi. Nhưng điều cần thiết là tôi, ngày hôm đó, phải có mặt trong cuộc hẹn với Lời Chúa đó. Tôi phải ở đó, lắng nghe Lời Chúa. Mỗi ngày Thiên Chúa đi qua và gieo một hạt giống vào thửa đất cuộc đời chúng ta. Chúng ta không biết hôm nay liệu Người sẽ tìm thấy đất khô, đất cằn, hay đất tốt làm cho hạt giống đó mọc lên (xem Mc 4: 3-9). Việc chúng trở thành Lời hằng sống của Thiên Chúa cho chúng ta tùy thuộc vào chúng ta, vào lời cầu nguyện của chúng ta, vào tấm lòng rộng mở mà chúng ta dùng tiếp cận Kinh thánh. Đức Chúa Trời đi qua, liên tục và thông qua Kinh thánh. Và ở đây tôi xin trở lại với những gì tôi đã nói tuần trước, với những gì Thánh Augustinô đã nói: “Tôi sợ Thiên Chúa khi Người đi qua”. Tại sao ngài sợ? Sợ rằng ngài không lắng nghe Người. Sợ rằng tôi không nhận ra rằng Người là Chúa.

Qua lời cầu nguyện, một sự nhập thể mới diễn ra. Và chúng ta là “nhà tạm” nơi lời của Thiên Chúa muốn được chào đón và lưu giữ, để chúng có thể đến thăm thế giới. Đây là lý do tại sao chúng ta phải tiếp cận Kinh Thánh mà không có động cơ thầm kín, không khai thác nó. Tín hữu không biến Kinh Thánh thành điểm tựa cho quan điểm triết học và luân lý của riêng họ, nhưng vì họ hy vọng một cuộc gặp gỡ; người tín hữu biết rằng những lời đó được viết ra trong Chúa Thánh Thần, và do đó cũng trong cùng một Chúa Thánh Thần này, chúng phải được đón nhận và hiểu biết, để cuộc gặp gỡ có thể diễn ra.

Tôi hơi khó chịu khi nghe các Kitô hữu đọc những câu Kinh thánh như những con vẹt. “Ồ, vâng… Ồ, Chúa nói… Người muốn điều này…”. Nhưng anh chị em có gặp được Chúa, với câu đó hay không? Đó không phải là vấn đề chỉ thuộc về trí nhớ: đó là vấn đề thuộc ký ức của trái tim, nhằm mở cửa để anh chị em bước vào cuộc gặp gỡ với Chúa. Và lời đó, câu đó, dẫn anh chị em đến cuộc gặp gỡ với Chúa.

Do đó, chúng ta đọc Kinh thánh vì chúng “đọc chúng ta”. Và đó là một ơn thánh để có thể nhận ra chính mình trong đoạn văn ấy hoặc trong nhân vật ấy, trong tình huống này hoặc tình huống nọ.

Kinh thánh không được viết cho nhân loại cách chung, nhưng cho chúng ta, cho tôi, cho anh chị em, cho những người đàn ông và đàn bà bằng xương bằng thịt, những người đàn ông và đàn bà có tên riêng và tên họ, như tôi, như anh chị em. Và Lời Thiên Chúa, lời đầy Chúa Thánh Thần, khi được đón nhận với tấm lòng rộng mở, không để các sự vật y hệt như trước đây: không bao giờ. Một điều gì đó đang thay đổi. Và đó là ơn thánh và sức mạnh của Lời Thiên Chúa.

Truyền thống Kitô giáo rất phong phú về kinh nghiệm và suy tư về việc cầu nguyện bằng Sách Thánh. Đặc biệt, phương pháp “Lectio divina” đã được thành lập; nó bắt nguồn từ các giới đan sĩ, nhưng hiện nay nó cũng đã được thực hành bởi các Kitô hữu thường xuyên đi lại với các giáo xứ của họ. Trước hết, nó là vấn đề đọc một đoạn Kinh thánh một cách chăm chú: đây là Lectio divina, trước hết và quan trọng nhất là đọc đoạn Kinh thánh một cách chăm chú, hoặc hơn thế nữa: Tôi muốn nói với “một vâng phục” bản văn, để hiểu ý nghĩa trong và của chính nó. Sau đó, người ta bắt đầu đối thoại với Kinh thánh, để những lời đó trở thành một nguyên nhân cho việc suy gẫm và cầu nguyện: trong khi trung thành với bản văn, tôi bắt đầu tự hỏi nó “nói gì với tôi”. Đây là một bước tế nhị: chúng ta không được sa vào những giải thích chủ quan, nhưng chúng ta phải là một phần của lối sống Truyền thống, vốn liên kết mỗi chúng ta với Sách Thánh. Bước cuối cùng của Lectio divina là chiêm niệm. Ở chỗ này, các lời lẽ và suy nghĩ phải nhường chỗ cho tình yêu, như giữa những người yêu nhau đôi khi nhìn nhau trong im lặng. Bản Văn Kinh thánh vẫn còn đó, nhưng giống như một tấm gương, giống như một ảnh tượng để được chiêm niệm. Và nhờ cách này, có sự đối thoại.

Qua lời cầu nguyện, Lời Thiên Chúa đến ở trong chúng ta và chúng ta ở trong nó. Lời Chúa gợi hứng cho các ý định tốt và nâng đỡ hành động; nó đem lại cho chúng ta sức mạnh và sự thanh thản, và ngay cả lúc thách thức chúng ta, nó mang lại cho chúng ta sự bình yên. Vào những ngày "kỳ lạ" và khó hiểu, nó bảo đảm cho trái tim một cốt lõi tin tưởng và yêu thương bảo vệ nó khỏi các cuộc tấn công của kẻ ác.

Nhờ cách đó, Lời của Thiên Chúa trở thành xác thịt – tôi xin dùng kiểu nói này - nó trở thành xác thịt nơi những người tiếp nhận nó trong cầu nguyện. Trong một số bản văn cổ đại, có trực giác cho rằng các Kitô hữu đồng nhất hoàn toàn với Lời Chúa đến nỗi, ngay cả khi mọi Sách thánh bị thiêu rụi, "khuôn" của chúng vẫn được lưu giữ vì dấu ấn mà nó đã để lại trong cuộc đời các vị thánh. Quả là một phát biểu đẹp đẽ.

Đời sống Kitô hữu vừa là công trình vâng phục vừa là công trình sáng tạo. Một Kitô hữu tốt phải biết vâng phục, nhưng họ phải sáng tạo. Vâng phục, vì lắng nghe Lời Thiên Chúa; sáng tạo, bởi vì họ có Chúa Thánh Thần bên trong, Đấng thúc đẩy họ trở thành như vậy, dẫn dắt họ đi lên. Ở cuối một trong những dụ ngôn của Người, Chúa Giêsu đưa ra sự so sánh sau đây - Người nói, “bất cứ kinh sư nào đã được học hỏi về Nước Trời, thì cũng giống như chủ nhà kia lấy ra từ trong kho tàng của mình – cõi lòng mình - cả cái mới lẫn cái cũ” (Mt 13:52). Sách Thánh là một kho tàng vô tận. Xin Chúa ban cho tất cả chúng ta ơn biết rút ra nhiều điều hơn nữa từ đó, qua việc cầu nguyện.
 
Tiến sĩ George Weigel: Gương anh hùng của ĐTGM Gomez phê phán Biden bất kể Hồng Y Cupich ngăn cản
Thế Giới Nhìn Từ Vatican
03:57 28/01/2021

Trong bài “In unprecedented move, Cardinal Cupich criticizes USCCB statement on Biden”, nghĩa là “Trong động thái chưa từng có, Hồng Y Cupich chỉ trích tuyên bố của USCCB về Biden”, Thông tấn xã Catholic News, gọi tắt là CNA, viết như sau:

Hồng Y Blase Cupich, tổng giám mục Chicago, đã sử dụng Twitter để đưa ra những lời chỉ trích gay gắt về tuyên bố chính thức của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ, gọi tắt là USCCB, trong ngày lễ nhậm chức của ông Joe Biden.

Trong một liên khúc 4 Tweets vào hôm thứ Tư, Hồng Y Cupich nói rằng “Hội đồng Giám mục Công Giáo Hoa Kỳ đã đưa ra một tuyên bố thiếu cân nhắc vào ngày nhậm chức của Tổng thống Biden. Bên cạnh thực tế là dường như không có tiền lệ để làm như vậy, tuyên bố chỉ trích Tổng thống Biden đã gây ngạc nhiên cho nhiều giám mục, những người đã nhận được nó chỉ vài giờ trước khi nó được phát hành”.

Ông nói thêm: “Tuyên bố được soạn thảo mà không có sự tham gia của Ban Thường Vụ, cũng chẳng có một cuộc tham vấn tập thể là một quy trình bình thường đối với những tuyên bố thay mặt và nhận được sự tán thành của các giám mục Hoa Kỳ”.

“Những thất bại về thể chế nội bộ liên quan phải được giải quyết, và tôi mong muốn được đóng góp vào tất cả các nỗ lực cho mục tiêu đó, để khi được linh hứng từ Phúc âm, chúng ta có thể xây dựng sự hiệp nhất của Giáo hội, và cùng nhau thực hiện công việc chữa lành quốc gia trong thời điểm khủng hoảng này”, Hồng Y Cupich nói.

Những lời chỉ trích công khai đối với USCCB được đưa ra sau khi Hồng Y Cupich công bố một tuyên bố riêng trên trang web của mình không bao gồm những lời chỉ trích ông Joe Biden của USCCB. Điều này diễn ra sau một loạt các phản ứng đối với Hồng Y Cupich từ các giám mục Hoa Kỳ ủng hộ tuyên bố của USCCB.


Trên tờ First Things ngày 21 tháng Giêng, Tiến sĩ George Weigel là thành viên cao cấp của Trung tâm Đạo đức và Chính sách Công cộng Washington, và cũng là người viết tiểu sử Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II vừa có bài nhận định sau liên quan đến các trục trặc giữa các Giám Mục Hoa Kỳ về vấn đề này.

Nguyên bản tiếng Anh có thể xem tại đây. Dưới đây là bản dịch toàn văn sang Việt Ngữ.

Archbishop José Gomez: A Profile In Episcopal Courage

By George Weigel

Tổng Giám Mục José Gomez: Một diện mạo về lòng dũng cảm của Giám mục


Trong cuộc họp thường niên của các ngài vào tháng 11 năm ngoái, một số rất đông các giám mục Công Giáo của Hoa Kỳ nhận ra rằng việc Joe Biden được bầu vào chức vụ tổng thống đã đưa Giáo hội đến một điểm đáng quan ngại.

Vị Tổng thống vừa được đắc cử đã nói từ lâu, và với sự chân thành rõ ràng, về những cách thức mà đức tin Công Giáo của ông đã nâng đỡ ông trong những thời điểm đau khổ lớn lao, bao gồm cái chết của người vợ đầu tiên và của con trai ông. Ông thường xuyên tham dự thánh lễ và nổi tiếng là người thích khoe khoang về việc mang theo chuỗi hạt Mân Côi bên mình. Trong chiến dịch tranh cử năm 2020, ông trích lời Đức Thánh Cha Phanxicô, và thường nói về tình cảm của ông dành cho các nữ tu, cũng như viện dẫn học thuyết xã hội của Giáo hội như một nguồn gốc cho các quan điểm chính sách của ông.

Tuy nhiên, trong suốt sự nghiệp ở Thượng viện và tám năm làm phó tổng thống, Biden đã trở thành một người ủng hộ cứng rắn hơn bao giờ hết những cách giải thích cực đoan nhất về chế độ phá thai do phán quyết Roe chống Wade áp đặt lên đất nước vào năm 1973 và được củng cố bởi vụ Planned Parenthood kiện Casey vào năm 1992. Ông là một người ủng hộ nhiệt thành trong vụ Obergefell kiện Hodges, và rất hăng hái với “hôn nhân đồng tính”, và chính ông đã cử hành một đám cưới đồng tính như vậy khi còn là phó tổng thống. Bên cạnh đó không có sự tách biệt rõ ràng giữa các quan điểm chính sách gần đây của ông ta, và quan điểm của những người hô hào LGBT và “lý thuyết giới tính” hung hăng nhất. Hơn nữa, ông ta dường như không biết đến những mối đe dọa mà tất cả những điều này gây ra đối với tự do tôn giáo của các cơ sở Công Giáo và quyền lương tâm của người Công Giáo trong việc chăm sóc sức khỏe, giáo dục và các lĩnh vực khác. Trong chiến dịch tranh cử sơ bộ năm 2020, ông Biden đã đi xa đến mức nói rằng, với tư cách là tổng thống, ông ta sẽ hủy bỏ quyền miễn trừ mua bảo hiểm tránh thai Obamacare (bao gồm một số thuốc phá thai) mà chính quyền sắp mãn nhiệm đã cấp cho Dòng Tiểu Muội Của Người Nghèo, là các nữ tu đã từ chối bao gồm các biện pháp tránh thai và thuốc phá thai trong bảo hiểm y tế cho nhân viên của các chị.

Cuộc họp tháng 11, Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ, gọi tắt là USCCB, đã đạt được điều mà một giám mục sau này mô tả là một “sự đồng thuận như sấm sét” rằng tình hình đã đến một điểm uốn; một giám mục khác nói rằng cuộc họp kết thúc với một “nhiệm vụ rõ ràng, mạnh mẽ” để hành động. Vậy thì phải làm gì?

Chủ tịch Hội đồng Giám mục Công Giáo Hoa Kỳ, Đức Tổng Giám Mục José Gomez của Los Angeles, đã quyết định chỉ định một Nhóm Công Tác Liên Hệ Với Chính Quyền Mới, nhóm này sẽ đề xuất một kế hoạch hành động trước các thách thức chưa từng có đối với sự thống nhất về bí tích và luân lý của Giáo hội. Nhóm Công tác sẽ do phó chủ tịch USCCB, Đức Tổng Giám Mục Allen Vigneron của Detroit, chủ trì; các thành viên giám mục của nhóm sẽ bao gồm chủ tịch của các ủy ban thường trực USCCB có liên quan; và nhóm sẽ đưa ra các khuyến nghị của mình cho chủ tịch USCCB là Đức Tổng Giám Mục Gomez càng sớm càng tốt.

Trong hai cuộc họp, Nhóm Công tác đã nhanh chóng đạt được sự đồng thuận và đưa ra các khuyến nghị của họ cho Đức Tổng Giám Mục Gomez. Như Đức Cha Gomez sau đó đã báo cáo với các giám mục, Nhóm Công tác đã đề xuất hai sáng kiến. Đầu tiên là một bức thư gửi cho tân tổng thống từ Đức Tổng Giám Mục Gomez, viết với tư cách là một mục tử. Bức thư hứa hẹn sẽ hỗ trợ cho chính quyền mới trong các lĩnh vực thỏa thuận. Nó cũng sẽ xác định các chính sách của chính quyền, bao gồm phá thai, mà các giám mục tin rằng vi phạm phẩm giá con người, và nó sẽ thúc giục tân tổng thống đánh giá lại lập trường của mình về những vấn đề này. Sáng kiến thứ hai do Nhóm Công tác đề xuất là phát triển một tuyên bố của Hội Đồng Giám Mục về tính toàn vẹn Thánh thể của Giáo hội.

Điều thứ hai vẫn đang được phát triển — và sẽ được phát triển — nhưng Đức Tổng Giám Mục Gomez đã đồng ý với khuyến nghị của Nhóm Công tác rằng một đường lối đương đầu với tân tổng thống phải được ưu tiên thực hiện càng sớm càng tốt. Thay vì một lá thư, Đức Tổng Giám Mục Gomez đã quyết định đưa ra một tuyên bố công khai vào ngày ông Biden nhậm chức.

Tuy nhiên, một ngày trước lễ nhậm chức, Đức Hồng Y Blase Cupich của Chicago và Đức Hồng Y Joseph Tobin của Newark, cũng như Đức Tổng Giám Mục Christophe Pierre, Sứ thần Tòa Thánh tại Hoa Kỳ, đã gây áp lực mạnh mẽ để buộc Đức Tổng Giám Mục Gomez không được đưa ra bất cứ tuyên bố nào. Đức Tổng Giám Mục Gomez đã chống lại những áp lực đó và dự định đưa ra tuyên bố của mình vào lúc 9 giờ sáng trong ngày nhậm chức, tức là ba giờ trước khi tổng thống mới tuyên thệ. Sau đó, Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh đã can thiệp, yêu cầu trì hoãn việc đưa ra tuyên bố. Cách giải thích bác ái nhất về sự can thiệp chưa từng có này vào hành động được đề xuất của cả một Hội Đồng Giám Mục quốc gia là nó phản ánh mối quan ngại của Vatican rằng tuyên bố Công Giáo đầu tiên về vị tổng thống mới phải đến từ chính Đức Giáo Hoàng (như đã làm ngay sau trưa ngày 20 tháng Giêng, trong một thông điệp chúc mừng nhẹ nhàng). Cũng có thể suy đoán, không phải là vô lý, rằng những người tự nhận là đại diện cho Vatican, và có lẽ cho chính cả Đức Giáo Hoàng Phanxicô, đã cố gắng để làm Tổng Giám Mục Gomez phải im lặng.

Trong một bài báo trực tuyến được xuất bản ở Mỹ, một quan chức Vatican giấu tên nói rằng Tòa Thánh đã không biết về một tuyên bố sắp xảy ra của Đức Tổng Giám Mục Gomez cho đến vài giờ trước khi lịch trình đưa ra tuyên bố này bị rò rỉ. Người ta tự hỏi ai có thể đưa ra những lo ngại về một tuyên bố như vậy với các quan chức Rôma vào phút cuối và thúc giục sự can thiệp của Vatican vào các vấn đề công chúng sự vụ tại Mỹ? Có ai, ở hai bên bờ Đại Tây Dương, cho rằng sự can thiệp như vậy chính xác là điều mà các truyền thuyết Tin Lành da đen cổ kính (chưa kể phim hoạt hình Thomas Nast) đã cảnh báo hàng thế kỷ? Liệu Tòa Thánh có cố gắng ngăn chặn hoặc trì hoãn hay không việc công bố các tuyên bố của chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Đức (một số vị đã có những phát biểu công khai gần đây rất xa lạ với các vấn đề đã được thiết định trong giáo lý và thực hành Công Giáo)? Tại sao thuyết tân độc tôn giáo quyền Rôma (ultramontanism) chỉ áp dụng cho Hoa Kỳ?

Đây là những câu hỏi thú vị cho tương lai.

Trong sự kiện này, tuyên bố của Đức Tổng Giám Mục Gomez được đưa ra ngay sau khi Tổng thống Biden hoàn thành bài diễn văn nhậm chức. Đó rõ ràng là một tuyên bố mục vụ, không phải là một tuyên ngôn chính trị. Giọng điệu của nó hoàn toàn tôn trọng và xa lánh chủ nghĩa giáo sĩ trị. Nó ghi nhận lòng mộ đạo được lặp lại và bày tỏ công khai của tân tổng thống trong “thời kỳ chủ nghĩa thế tục đang phát triển và hung hăng trong văn hóa Mỹ”. Tuyên bố cũng cam kết làm việc với chính quyền sắp tới về các vấn đề mà các giám mục đã nêu bật trong ấn bản gần đây nhất trong bản hướng dẫn của các ngài có tựa đề Hình Thành Lương Tâm Cho Các Tín Hữu Công Dân, chẳng hạn như chính sách nhập cư, cải cách tư pháp hình sự, chống phân biệt chủng tộc và trao quyền cho người nghèo. Tuyên bố cũng hoan nghênh “Lời kêu gọi hàn gắn và thống nhất quốc gia của Tổng thống Biden” và đề xuất một cuộc đối thoại với tân tổng thống và tân chính quyền về các bước xây dựng nền văn hóa sự sống ở Hoa Kỳ.

Và tuyên bố đã nêu bật đúng mức tầm quan trọng đạo đức độc đáo của các vấn đề cuộc sống, nhấn mạnh rằng việc cho phép phá thai “không chỉ là vấn đề cá nhân, mà nó còn đặt ra những câu hỏi cơ bản và rắc rối về tình huynh đệ, tình liên đới và sự hòa nhập trong cộng đồng nhân loại”. Do đó, Đức Tổng Giám Mục Gomez đã viết rằng vấn đề phá thai “là một vấn đề công bằng xã hội”, vì người Mỹ “ không thể bỏ qua thực tế rằng tỷ lệ phá thai cao hơn trong số những người nghèo và các sắc dân thiểu số, và phá thai thường xuyên được sử dụng để loại bỏ những thai nhi có khuyết tật bẩm sinh”.

Theo bất kỳ tiêu chuẩn hợp lý nào, tuyên bố của Đức Tổng Giám Mục Gomez đều là cân bằng và cẩn thận. Nếu không có những tranh cãi nổ ra trước và sau khi tuyên bố được đưa ra, một số người có thể cho rằng tuyên bố này quá cân bằng và quá cẩn thận. Tuy nhiên, cuộc tranh cãi đã làm người ta chú ý hơn đến lập trường vững chắc, rõ ràng và dứt khoát của tuyên bố về “ưu tiên tối thượng” của các vấn đề cuộc sống — và do đó làm tăng tác động của những phần trong tuyên bố mà các Hồng Y bất đồng ý kiến có thể đã phản đối đến mức họ đã cố gắng đập tan toàn bộ tài liệu này.

Sau đó vào cuối ngày nhậm chức, Đức Hồng Y Cupich đã đưa ra một tuyên bố, theo sau là một loạt các tweet, chê trách tuyên bố của Đức Tổng Giám Mục Gomez là “thiếu cân nhắc”, gây ra một “sự ngạc nhiên đối với nhiều giám mục”, và đó là kết quả của “những thất bại thể chế trong nội bộ” của USCCB. Liệu những bản án khắc nghiệt này có phản ánh ý kiến ở Rôma hay chỉ là ý kiến ở Chicago thì vẫn chưa rõ ràng. Trong mọi trường hợp, họ không chịu suy xét kỹ lưỡng.

Gợi ý cho rằng Đức Tổng Giám Mục Gomez cách nào đó đã hành động độc lập với Hội Đồng Giám Mục và do đó, là vô trách nhiệm, là một gợi ý tự nó là không công bằng và vô trách nhiệm. Tuyên bố của Đức Tổng Giám Mục được soạn thảo theo các khuyến nghị của Nhóm công tác mà ngài đã chỉ định vào tháng 11. Những khuyến nghị đó lần lượt phản ánh sự đồng thuận rộng rãi giữa các giám mục được trình bày tại cuộc họp tháng 11 của USCCB. Hơn nữa, trong việc xác định các lĩnh vực thỏa thuận và bất đồng với chính quyền sắp tới, tuyên bố không vượt quá bất cứ điều gì USCCB đã nói trong nhiều năm, thậm chí nhiều thập kỷ. Gợi ý rằng có một điều gì đó chưa từng có ở đây là làm sai lệch lịch sử. Điều thực sự chưa từng có, như Đức Tổng Giám Mục Gomez đã chỉ ra trong tuyên bố của mình, là hoàn cảnh của một tổng thống Hoa Kỳ, người tuyên xưng mình là một tín hữu Công Giáo sùng đạo và chân thành nhưng lại công khai cam kết tạo điều kiện cho những tệ nạn đạo đức nghiêm trọng. Không thừa nhận sự thật đó và không giải quyết vấn đề đó với tổng thống mới, sẽ khiến các giám mục phải trả giá đắt về phương diện tự trọng của các ngài và đánh mất sự tín nhiệm của công chúng.

Không một giám mục nào tham dự cuộc họp USCCB tháng 11 và lắng nghe cẩn thận những lo ngại được bày tỏ ở đó có thể bị bất ngờ trước nội dung tuyên bố của Đức Tổng Giám Mục Gomez. Tuyên bố phản ánh khá chính xác các chủ đề chính của cuộc họp đó: Có nhiều vấn đề đạo đức nghiêm trọng trong cuộc tranh luận về chính sách công đương thời, nhưng các vấn đề liên quan đến sự sống, như chính Đức Thánh Cha Phanxicô đã nhấn mạnh, được ưu tiên hơn vì chúng đụng đến những vấn đề cơ bản liên quan đến phẩm giá con người và là những nguyên tắc đầu tiên của công lý. Một số người có thể ngạc nhiên rằng sao Đức Tổng Giám Mục Gomez lại có can đảm viết một lá thư thẳng thắn như vậy cho Tổng thống Biden, và ngài đã làm như vậy sau khi bị hai vị Hồng Y gây sức ép; nhưng bất kỳ sự ngạc nhiên nào như vậy đều tố cáo sự thiếu hiểu biết về người đàn ông này. Đức Tổng Giám Mục Gomez là một người trầm lặng và nhẹ nhàng, không tìm kiếm ánh đèn sân khấu; ngài không phải là một người viết các tweets tài ba; và ngài không thích đối đầu. Tuy nhiên, điểm đáng chú ý hơn, ngài là một người có đức tin sâu sắc và lòng đạo đức vững chắc, là người đã nhận thức rõ vào tháng 11 rằng tình hình đã đạt đến điểm uốn và rằng uy tín truyền giáo của Giáo hội đang bị đe dọa vì điều đó. Ngài đưa ra một diện mạo về lòng dũng cảm của Giám mục vào thời điểm một vài người khác - những người thực sự là ngoài lề trong bi kịch này - đang đòi hỏi (với hy vọng là người ta không nhận ra được sự tương tự) một sự tái diễn cách tiếp cận nuông chiều đối với các quan chức Công Giáo được Theodore McCarrick ủng hộ từ lâu, đặc biệt là trong cuộc bầu cử năm 2004.

Trong nhiều tháng qua, một sự đồng thuận đã xuất hiện giữa các giám mục Hoa Kỳ, bao gồm hầu như toàn bộ hàng giáo phẩm lãnh đạo USCCB: Duy trì một bề mặt giả tạo về sự thống nhất giữa các giám mục là điều không đáng để phải hy sinh những sự thật mà Giáo hội phải nói ra. Những điều đó bao gồm sự thật về sự toàn vẹn bí tích của Giáo Hội và sự mạch lạc của Thánh Thể; sự thật về phẩm giá và giá trị bất khả xâm phạm của cuộc sống mỗi con người từ khi thụ thai cho đến khi chết tự nhiên; sự thật về tự do tôn giáo đầy đủ và các quyền lương tâm của những người từ chối hành động chống lại nhân phẩm; và sự thật về mối quan tâm của Giáo hội đối với sức khỏe tâm linh của các quan chức Công Giáo, những người, với bất kỳ mức độ chủ quan nào, lại đang tạo điều kiện cho những tệ nạn luân lý nghiêm trọng.

Trong bài phát biểu nhậm chức thường gây xúc động của mình, Tổng thống Biden đã kêu gọi chúng ta “chấm dứt cuộc nội chiến giữa màu đỏ và màu xanh” và tuyên bố niềm tin của ông rằng “chúng ta có thể làm được điều này nếu chúng ta mở rộng tâm hồn thay vì chai cứng trái tim mình”. Tôi nghi rằng Đức Tổng Giám Mục José Gomez đã được trao cho một bản sao bài diễn văn của tổng thống trước khi ông ấy nói. Nhưng, ơn Chúa quan phòng, tuyên bố của Đức Tổng Giám Mục vào ngày nhậm chức là một lời mời của một mục tử đối với Tổng thống Biden hãy làm điều đó: hãy mở rộng tâm hồn mình để đón nhận sự trọn vẹn của chân lý Công Giáo. Đức Tổng Giám Mục, cũng như rất nhiều Hồng Y và giám mục đã ủng hộ ngài, xứng đáng được ghi nhận công lao to lớn vì đã can đảm làm điều đó, và sẽ tiếp tục làm việc để biến điểm uốn này thành một thời điểm đổi mới Phúc âm hóa Công Giáo, bất kể giá cả phải trả.


Source:First Things