Ngày 25-01-2022
 
Phụng Vụ - Mục Vụ
Một cách rất khác
Lm. Minh Anh
01:15 25/01/2022

MỘT CÁCH RẤT KHÁC
“Tôi đã nhiệt thành phục vụ Thiên Chúa”.

Một nhà tu đức nói, “Thập giá là cột thu lôi của ân sủng, làm tắt cơn thịnh nộ của Thiên Chúa, để chỉ còn lại ánh sáng tình yêu của Ngài cho những người tin! Trên đường Đamas, một Saolô hung hãn đã bị cột thu lôi ân sủng và tình yêu của Thiên Chúa quật ngã!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Hôm nay, Giáo Hội kính nhớ con người hung hãn đó, Phaolô, một người đã bị “ân sủng và tình yêu Thiên Chúa quật ngã”; đúng hơn, một vị thánh mà sự cải đạo của ngài, có thể nói, là một trong những sự kiện quan trọng nhất sau cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu vào những năm đầu của Hội Thánh. Ân sủng của Đấng Phục Sinh đã biến thất bại của con người này thành những ân phúc có tầm ảnh hưởng đến Kitô giáo ‘một cách rất khác!’.

Với bài đọc thứ nhất, Phaolô cho biết, trước khi Chúa Kitô hiện ra với ông, ông “đã nhiệt thành phục vụ Thiên Chúa”; tuy nhiên, việc phục vụ này thể hiện theo một cách rất phá hoại! Phaolô đàn áp những người tin Chúa Kitô, được coi là “Đạo mới”; thế rồi, cuộc hiện ra của Ngài trên đường Đamas với câu hỏi, “Saolô, Saolô, sao ngươi bắt bớ ta?”, kèm theo một lời dằn mặt lạnh lùng, “Đưa chân đạp mũi nhọn thì khốn cho ngươi!” đã khiến Phaolô dừng bước. Kể từ đó, Chúa Kitô đã biến đổi một “Saolô”, có nghĩa là tìm kiếm, đòi hỏi và khát vọng, thành một “Phaolô”, có nghĩa là hèn mọn, nhỏ bé và khiêm hạ. Phaolô đã đứng lên, loạng choạng tiến về phía trước, để rồi, với ân huệ của Thánh Thần, phục vụ Thiên Chúa theo ‘một cách rất khác’. Thay vì bắt bớ những ai tin Chúa Kitô, Phaolô loan báo tin mừng về tình yêu và ân sủng của Ngài.

Với sứ mệnh các tông đồ lãnh nhận qua Phúc Âm hôm nay, được Thánh Ca đáp ca tóm tắt, “Hãy đi rao giảng Tin Mừng khắp thế gian!”, Phaolô tiếp tục rao giảng Chúa Kitô cho mọi loài tạo vật, vốn “Không một tạo vật nào có thể phân rẽ chúng ta khỏi tình yêu của Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” như ngài viết trong thư Rôma. Cũng như với bài đọc hôm nay, Phaolô chia sẻ trải nghiệm của mình về cuộc gặp gỡ Chúa Kitô như một kinh nghiệm về ánh sáng, về sự yếu hèn khi phải lệ thuộc vào người khác, về những thất bại cần có; nhờ đó, Phaolô được biến đổi ‘một cách rất khác’ nếu không nói là hoàn toàn mới, bởi ân sủng của Thánh Thần!

“Một luồng ánh sáng chan hoà từ trời chói rạng quanh tôi. Tôi ngã xuống đất”; “Mắt tôi vẫn mở mà không thấy gì”. Một nghịch lý mang nhiều ý nghĩa! Không phải lúc nào mắt mở, cũng có thể nhìn thấy. Lúc Phaolô tưởng mình sáng nhất thì lúc đó, Chúa cho ông thấy sự tăm tối nhất của đời mình. Ngài biến ánh sáng của Phaolô thành đêm tối; Ngài bắt Phaolô phải nhắm mắt để thấy rằng, sự bốc đồng theo kế hoạch riêng của mình là mù tối, và tình yêu trong trái tim Ngài là vô biên. Dưới ánh sáng của tình yêu đó, Phaolô tiến về phía trước, không phải trên một con đường hạn hẹp như trước, nhưng là một đại lộ thênh thang xứng tầm vị tông đồ mai ngày; nói cách khác, Thiên Chúa quật Phaolô từ một con người chễm chệ trên lưng ngựa xuống tận đất; để sau đó, nâng Phaolô lên, đến tầm mức “vị tông đồ của dân ngoại”. Thế nhưng, hình ảnh người ta cầm tay dắt Phaolô là một trong những hình ảnh đẹp nhất của một ‘Saulô’ chập chững trong hành trình của một cuộc đời mới, nơi ‘một con người mới’ trong Chúa Kitô!

Anh Chị em,

Kiêu hãnh và tự phụ, Phaolô là hoạ ảnh mang dáng dấp của cả nhân loại hiện đại trước Corona; đó cũng là hoạ ảnh của mỗi người chúng ta. Như nhân loại, chúng ta tự tin, tự tôn và tự kiêu; một ‘Saolô’ mắt mở nhưng không thấy gì. Dịch bệnh nổ ra, mọi kế hoạch của con người bị quật ngã, một Đamas của nhân loại và của mỗi người, khiến chúng ta trở nên một ‘Phaolô’ khiêm tốn, nghèo hèn và cậy trông. Quan hệ của Phaolô với Thiên Chúa từ Đamas cũng trở nên sâu sắc hơn; từ đó, Phaolô bắt đầu liên hệ với những người khác theo cách Thiên Chúa liên hệ với họ. Cũng thế, với Corona, chúng ta ý thức rằng, càng gần Thiên Chúa, trái tim chúng ta càng rộng mở, và chân trời của chúng ta càng bao la; từ đó, chúng ta liên hệ với những người khác theo cách mang mọi người lại với nhau trong tất cả sự đa dạng của họ ‘một cách rất khác!’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin cho con biết mềm mại uốn mình theo Thần Khí, ngõ hầu con được biến đổi ‘một cách rất khác’, để mỗi ngày, khi càng gần Chúa, con càng hữu ích cho tha nhân hơn!”, Amen.

(Tgp. Huế)
 
Tin Giáo Hội Hoàn Vũ
Các con số thống kê mới về cuộc chiến chống phá thai và tình hình đi nhà thờ thời đại dịch
Vũ Văn An
00:03 25/01/2022

Các con số thống kê công bố trong tuần này vừa đem lại niềm vui vừa đem lại nhiều âu lo.



Vui vì theo John McCormack của National Review (www.nationalreview.com/corner/marist-poll-most-anericans-want-abortion-limits-that-roe-casey-wont-allow//), cuộc thăm dò của Dòng Marist cho hay: Hầu hết người Mỹ muốn có giới hạn phá thai mà các phán quyết Roe & Casey vốn không cho phép.

Thực vậy, một cuộc thăm dò ý kiến mới do Hội Hiệp sĩ Columbus ủy quyền thấy rằng phần lớn người Mỹ muốn có các luật lệ về phá thai vốn không được các tiền lệ phá thai RoeCasey của Tối cao Pháp viện cho phép.

Chế độ Roe cấm bất cứ giới hạn pháp lý nào đối với việc phá thai ít nhất là cho đến khi “khả năng sống còn” – tức lúc một thai nhi có thể sống sót ở bên ngoài tử cung – một điều xảy ra sớm nhất là khi thai nhi được 21 tuần thai kỳ. (Ngay cả sau khi khả năng sống còn, đòi hỏi của Roe về các trường hợp ngoại lệ sau khả năng sống còn đối với sức khỏe "tình cảm" và "tâm lý" nghiêm cấm các giới hạn thực sự đối với việc phá thai muộn).

Cuộc thăm dò mới đã cung cấp cho những người được hỏi sáu lựa chọn khác nhau khi được hỏi điều gì gần nhất đối với quan điểm của họ:



Cuộc thăm dò cho thấy 17 phần trăm người Mỹ muốn phá thai bất cứ lúc nào trong suốt thai kỳ, trong khi 12 phần trăm nói rằng chỉ nên cho phép phá thai trong sáu tháng đầu của thai kỳ.

Hai mươi hai phần trăm người Mỹ nói rằng chỉ nên phá thai trong ba tháng đầu của thai kỳ.

Và 49% người Mỹ nói rằng chỉ nên cho phép phá thai trong những trường hợp hiếm hoi hoặc không bao giờ.

Nói cách khác, cuộc thăm dò Marist cho thấy ít nhất 71% người Mỹ muốn giới hạn phá thai vượt quá những gì Roe / Casey cho phép.

Cuộc thăm dò của Marist vạch trần lý do khiến nhiều cuộc thăm dò khác về Roe v. Wade đã gây hiểu lầm. Hầu hết người Mỹ không biết nếu Roe bị lật ngược thì điều này có nghĩa gì, và hầu hết các cuộc thăm dò thực sự không đi sâu vào chi tiết việc người Mỹ muốn luật của họ ra sao. Đôi khi nhà thăm dò ý kiến làm cho vấn đề trở nên tệ hơn bằng cách cho thông tin sai lệch vào các câu hỏi thăm dò. Thí dụ, một cuộc thăm dò mới của CNN nói với những người được hỏi rằng Roe đã thiết lập quyền phá thai “ít nhất trong ba tháng đầu của thai kỳ”. Kết quả chênh lệch ủng hộ việc giữ Roe (69% đối với 30%) cho chúng ta biết rất ít về những gì người Mỹ thực sự nghĩ về việc phá thai.

Một kết quả còn nói với ta nhiều hơn trong cuộc thăm dò của CNN là việc phát hiện ra rằng “số người Mỹ nói rằng họ đang sử dụng vấn đề [phá thai] như một thử nghiệm tương đối thấp ở cả những người ủng hộ việc bãi bỏ Roe (25%) lẫn những người không muốn thấy nó bị bãi bỏ (18%)”.

Thăm dò cử tri sau cuộc bầu cử thống đốc Virginia năm 2021 cho thấy 8% cử tri Virginia nói rằng phá thai là “vấn đề quan trọng nhất” và nhóm cử tri này đã bỏ phiếu 58% chống 41% ủng hộ Glenn Youngkin của đảng Cộng hòa. Trong chiến dịch tranh cử, McAuliffe đặt vấn đề phá thai lên hàng đầu và là trọng điểm - và Đảng Dân chủ đã bỏ gần 4 triệu đô la để quảng cáo truyền hình có chủ đề về phá thai chống lại Youngkin.

Giảm đi nhà thờ vì COVID-19

Âu lo vì theo Wendy Wang thuộc Viện Nghiên cứu Gia đình (https://ifstudies.org/blog/the-decline-in-church-attendance-in-covid-america), cuộc thăm dò gần đây của Trung tâm Nghiên cứu Pew cho thấy dân số Kitô giáo của Hoa Kỳ đã giảm đều đặn trong thập kỷ qua. Ngày nay, 63% người Mỹ tự mô tả mình là Kitô hữu, giảm so với 75% chỉ một thập niên trước. Tỷ lệ người Mỹ tự xác định mình theo các tín ngưỡng không phải Kitô giáo (6%) vẫn ổn định, nhưng tỷ lệ người Mỹ thế tục tăng 10 điểm bách phân so với một thập niên trước.

Trong thời kỳ khủng hoảng, chẳng hạn như đại dịch COVID-19, người ta có thể nghĩ rằng nhiều người sẽ hướng về tôn giáo hơn, do cái chết, nỗi sợ hãi và sự cô lập mà đại dịch đã tạo ra. Thực vậy, dữ kiện thăm dò ý kiến khi đại dịch mới bùng phát cho thấy người Mỹ có nhiều xác suất nói rằng cuộc khủng hoảng COVID-19 đã củng cố niềm tin của họ thay vì làm suy yếu nó. Tuy nhiên, phản ứng ban đầu đối với cuộc khủng hoảng có thể không kéo dài, và một số người có thể nhụt chí, không muốn trở lại nhà thờ vì đại dịch kéo dài.

Theo các dữ kiện thu thập được vào tháng 4 / tháng 5 năm 2020 bởi Barna Group, một trong ba Kitô hữu thực hành đã bỏ nhà thờ hoàn toàn vì COVID-19. Tháng 6 năm ngoái, AP đã tung ra câu chuyện về nhiều nhà thờ phượng ở Hoa Kỳ đã bị đóng cửa vĩnh viễn do đại dịch. Điều còn tồi tệ hơn là con số thành viên Giáo Hội ở Hoa Kỳ giảm xuống dưới 50% lần đầu tiên vào năm 2020, theo các dữ kiện của Gallup từ năm 1940.

Một phân tích mới của Viện Nghiên cứu Gia đình sử dụng cuộc Thăm dò Gia đình Hoa Kỳ cho thấy, việc tham dự các hoạt động tôn giáo đã giảm đáng kể trong hai năm qua. Tỷ lệ những người thường xuyên đi nhà thờ giảm 6 điểm bách phân, từ 34% vào năm 2019 xuống 28% vào năm 2021 (1). Trong khi đó, tỷ lệ những người Mỹ thế tục không bao giờ hoặc hiếm khi tham dự các nghi lễ tôn giáo tăng 7 điểm bách phân.



Việc tham gia các buổi lễ tôn giáo được đo lường theo tiêu chuẩn của cuộc Thăm dò Gia đình Hoa Kỳ: “Ngoài đám cưới và đám tang, bạn có thường xuyên tham dự các buổi lễ tôn giáo không?” Chúng ta không biết liệu những người được hỏi có bao gồm việc tham dự nhà thờ trực tuyến như một phần của việc tham dự lễ nghi tôn giáo của họ hay không.

Trong khi đó, sự suy giảm tham gia tôn giáo thay đổi theo một số yếu tố nhân khẩu học. Những người Mỹ trẻ hơn hoặc lớn tuổi hơn có nhiều xác suất hơn những người ở nhóm tuổi trung niên giảm đi lễ nhà thờ. Mức giảm khoảng 10 điểm bách phân từ năm 2019 đến năm 2021 đối với những người dưới 35 tuổi cũng như những người trên 65 tuổi, nhưng chỉ giảm 4 điểm bách phân đối với nhóm trung niên. Người Mỹ da đen cũng có nhiều xác suất hơn những người khác giảm mạnh trong việc đi lễ ở nhà thờ. Năm 2019, 45% người Mỹ da đen đi lễ tôn giáo thường xuyên. Đến năm 2021, tỷ lệ này giảm xuống còn 30%, chênh lệch 15 điểm bách phân. Sự suy giảm trong các nhóm chủng tộc / dân tộc khác là từ 5 đến 6 điểm bách phân.



Sự sụt giảm đi lễ nhà thờ cũng rõ ràng hơn ở những người trưởng thành đã kết hôn mà không có con dưới 18 tuổi. Khoảng 30% người lớn đã kết hôn mà không có con tham gia các buổi lễ tôn giáo thường xuyên vào năm 2021, giảm từ mức 40% vào năm 2019. Điều này có lẽ liên quan đến tuổi tác, vì nhóm người lớn tuổi nhất trong 4 nhóm được phân loại theo tình trạng hôn nhân và có con dưới 18 tuổi (tuổi trung bình là 61).

Mặt khác, ý thức hệ dường như không liên quan đến việc giảm số người đi lễ ở nhà thờ. Những người bảo thủ thường có xu hướng tham gia các buổi lễ tôn giáo hơn những người ôn hòa và cấp tiến, nhưng sự sụt giảm số lượng người tham dự là tương tự nhau ở ba nhóm. Tương tự như vậy, không có sự khác biệt đáng kể theo thu nhập được tìm thấy trong việc giảm sút việc tham dự lễ nghi tôn giáo trong hai năm qua.

Khi ngày càng có nhiều vắc-xin và phương pháp điều trị COVID-19, câu hỏi nhức nhối là liệu chúng ta có thấy lượng người đi lễ ở nhà thờ tăng trở lại sau khi đại dịch qua đi hay không. Thật khó để dự đoán, nhưng nghiên cứu trước đây về cuộc Đại suy thoái năm 2007-2009 ảnh hưởng đến việc tham dự các lễ nghi tôn giáo có thể làm sáng tỏ. Vào thời điểm đó, nhiều người tin rằng cuộc khủng hoảng kinh tế sẽ dẫn đến lượng người đi lễ ở nhà thờ cao hơn. Tuy nhiên, dữ kiện cho thấy không có sự gia tăng nào về số người tham gia các hoạt động tôn giáo ở Hoa Kỳ kể từ sau cuộc Đại suy thoái. Hơn nữa, nghiên cứu cũng cho thấy cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 cũng không có bất cứ tác động rõ ràng nào đến mức độ tham dự các lễ nghi tôn giáo ở các nước châu Âu.

Có thể một số băng ghế trống được thay thế bằng những người thờ phượng trực tuyến, nhưng hiện không có dữ kiện nào để hỗ trợ điều này. Hơn nữa, việc thiếu tương tác trực tiếp có thể làm suy yếu các mối liên kết xã hội trong các nhà thờ khi đại dịch kéo dài. Như chúng ta đã biết, việc tham dự các buổi lễ tôn giáo không chỉ liên quan đến việc có một mạng lưới hỗ trợ xã hội mà còn mang lại lợi ích sức khỏe cộng đồng, chẳng hạn như ít trầm cảm hơn, tỷ lệ tự tử thấp hơn và ít sử dụng ma túy và rượu hơn. Các dịch vụ trực tuyến, với những người bị cô lập ở nhà, không có khả năng mang lại cùng mức lợi ích.

Ngoài ra còn có thiệt hại về tình cảm cho những người thực hành tôn giáo nhưng không còn tham dự các buổi lễ tôn giáo. Theo cuộc thăm dò Barna, những người được hỏi ngừng đi nhà thờ trong thời gian COVID-19 có nhiều xác suất cảm thấy bất an và lo lắng hơn những Kitô hữu thực hành không ngừng tham dự các buổi lễ trực tiếp.

Như Tyler Vanderweele và Brendan Case gần đây đã nhấn mạnh trên tờ Christian Today, “băng ghế trống là một cuộc khủng hoảng sức khỏe cộng đồng của Mỹ”. Hơn nữa, những người Mỹ tham dự các buổi lễ tôn giáo thường xuyên có nhiều xác suất kết hôn và sinh con hơn. Thoát khỏi đại dịch COVID-19, những người Mỹ theo đạo cũng có nhiều xác suất hơn những người Mỹ không theo tôn giáo trong việc mong muốn kết hôn và có con cái mạnh mẽ hơn. Sự suy giảm trong việc đi lễ không những có tiềm năng ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe cộng đồng mà còn cả sự ổn định của gia đình và sự gia tăng dân số ở Mỹ.
___________________________

(1). Các thuật ngữ “nhà thờ”, “buổi lễ tôn giáo” và “nhà thờ phượng” được sử dụng thay thế cho nhau.
 
Xem xét kỹ hơn các cáo buộc chống lại Đức Giáo Hoàng danh dự Bênêđíctô thứ 16
J.B. Đặng Minh An dịch
02:26 25/01/2022

Trong khi các phương tiện truyền thông đang ráo riết bôi nhọ Đức Giáo Hoàng danh dự Bênêđíctô thứ 16, Catholic World News có bài nhận định nhan đề “A closer look at Munich charges against former Pope”, nghĩa là “Một xem xét kỹ hơn các cáo buộc chống lại Đức Nguyên Giáo Hoàng.”

Nguyên bản tiếng Anh có thể xem tại đây. Dưới đây là bản dịch toàn văn sang Việt Ngữ.



Một cuộc điều tra độc lập về các trường hợp lạm dụng tình dục trong tổng giáo phận Munich đã đưa ra những lời chỉ trích đối với Đức Giáo Hoàng danh dự Bênêđíctô thứ 16 với các cáo buộc cho rằng ngài đã sơ suất trong một số trường hợp. Nhưng việc xem xét kỹ hơn bản báo cáo cho thấy bằng chứng về sự sơ suất của Đức Giáo Hoàng danh dự là rất yếu ớt.

Các tiêu đề liên quan đến báo cáo này, được công bố vào tuần trước bởi một công ty luật của Đức, hầu như luôn cố tình nêu bật những thất bại của Đức Hồng Y Ratzinger lúc bấy giờ. Nhưng rất ít phóng viên viết những câu chuyện đó có thời gian để tìm hiểu toàn bộ nội dung của bản báo cáo, bằng tiếng Đức và không có bản dịch sang tiếng Anh, dài tới hơn 1,000 trang – trong đó có tới 72 trang được dành để đề cập đến sự lãnh đạo của Đức Hồng Y Ratzinger, từ năm 1977 đến năm 1982.

Tất nhiên, từ lâu, Đức Nguyên Giáo Hoàng là mục tiêu nổi bật cho những chỉ trích của các phương tiện truyền thông. Và Đức Tổng Giám Mục đương nhiệm của Munich, Hồng Y Reinhard Marx, được giới truyền thông ưu ái hơn nhiều, và có lẽ do đó ít bị chỉ trích hơn vì những trường hợp được báo cáo là sơ suất của ngài. Đức Hồng Y Friedrich Wetter, người có nhiệm kỳ giữa Đức Bênêđíctô và Hồng Y Marx, gần như hoàn toàn bị phớt lờ trên các phương tiện truyền thông, mặc dù thời gian làm việc của ngài đã bị báo cáo vi phạm nhiều hơn cả hai vị.

Michael Hesemann, một chuyên gia về Giáo hội Đức, đã nghiên cứu chi tiết bản báo cáo - đặc biệt là các báo cáo liên quan đến Đức Ratzinger - và lưu ý rằng trong số bốn trường hợp mà ủy ban điều tra kết luận rằng Đức Giáo Hoàng tương lai đã sơ suất “không hành động”, không ai liên quan đến cáo buộc lạm dụng đã phạm lỗi trong nhiệm kỳ tổng giám mục của Đức Ratzinger, và không ai liên quan đến các cáo buộc lạm dụng trong tương lai. Nói cách khác, trong bốn trường hợp được trích dẫn chống lại Đức Hồng Y Ratzinger, không có trường hợp nào liên quan đến một nạn nhân cụ thể!

Một cách khách quan, báo cáo này nêu ra đến 65 trường hợp xảy ra trong nhiệm kỳ Tổng Giám Mục của Đức Hồng Y Ratzinger, trong đó trong 61 trường hợp khác, báo cáo thừa nhận rằng ngài đã phản ứng thích đáng và kiên quyết với các báo cáo lạm dụng, chỉ có 4 trường hợp báo cáo này cho rằng ngài có sơ suất.

Thứ nhất: Một linh mục đã bị kết tội lạm dụng rất lâu trước khi Đức Hồng Y Ratzinger đến, sau khi mãn hạn tù, đã được phép trở về Munich để sống trong thời kỳ hưu trí. Vị linh mục này không được giao nhiệm vụ mục vụ nào như báo cáo đề cập.

Thứ hai: Một linh mục khác từng bị kết án đã trở lại làm việc mục vụ ở Munich dưới thời Đức Hồng Y Ratzinger. Ông ta lại bị bắt vì thoát y, và bị tước bỏ nhiệm vụ mục vụ. Ông ta vẫn ở lại Munich, để được chữa trị tâm thần. Sau đó, ông được nhận vào làm giáo viên tôn giáo trong một trường tư thục, mà Đức Tổng Giám Mục không hề hay biết.

Thứ ba: Một giám mục ở một quốc gia khác đã yêu cầu Đức Hồng Y Ratzinger tìm chỗ ở cho cháu trai của mình, là một linh mục sẽ học ở Munich. Đức Hồng Y Ratzinger dù muốn dù không cũng phải tìm một ngôi nhà cho vị linh mục, như một cử chỉ lịch sử dành cho một đồng nghiệp. Không có bằng chứng nào cho thấy vị giám mục thông báo với Đức Hồng Y Ratzinger rằng cháu trai của ngài đã bị kết tội lạm dụng tình dục. Khi vị linh mục được tìm thấy tắm ở một hồ bơi mà không mặc quần áo, đầu tiên vị này bị cấm làm việc mục vụ, sau đó được lệnh rời khỏi tổng giáo phận.

Thứ tư: Một linh mục đã bị buộc tội - và sau đó sẽ bị kết tội - chụp ảnh các cô gái trẻ trong tư thế gợi dục. Đức Hồng Y Ratzinger đã loại ông khỏi công việc giáo xứ và chỉ định ông làm tuyên úy trong một viện dưỡng lão.

Trong 4 trường hợp này, báo cáo kết luận rằng Đức Hồng Y Ratzinger đã có sơ suất - đặc biệt là theo tiêu chuẩn ngày nay. Nhưng những hành động hay không hành động của Đức Hồng Y Ratzinger có thể so sánh với cách hành động của vô số giám mục khác, ở nhiều giáo phận khác, trong những năm ngài phục vụ ở Munich. Sự lãnh đạo của ngài ở Munich xảy ra rất lâu trước khi “Hiến chương Dallas” đưa ra một cách tiếp cận mới đối với các vụ lạm dụng tình dục vào năm 2002, mà cuối cùng đã trở thành một gương mẫu cho các chính sách trên toàn thế giới. Trên thực tế, những năm tháng của Đức Hồng Y Ratzinger ở Munich đã diễn ra ngay cả trước khi Bộ Giáo luật 1983 đặt ra các tiêu chuẩn mới để xử lý các tội phạm giáo sĩ nghiêm trọng nhất, bao gồm cả lạm dụng tình dục.
Source:Catholic World News
 
Giám Mục Ý tố cáo các trào lưu cấp tiến Đức tìm cách làm nhục Đức Ratzinger bất chấp thủ đoạn
J.B. Đặng Minh An dịch
02:29 25/01/2022

Đức Cha Massimo Camisasca, Giám Mục nghỉ hưu của Reggio Emilia cho biết Đức Hồng Y Ratzinger là người đầu tiên nêu bật mức độ nghiêm trọng của các vụ lạm dụng. Vị Giám Mục 75 tuổi, tác giả của 70 cuốn sách bao gồm lịch sử của Hiệp thông và Giải phóng đã bày tỏ sự ngỡ ngàng của ngài trước cáo buộc chống lại Đức Giáo Hoàng Danh dự, và tố cáo các trào lưu cấp tiến Đức, bao gồm cả một số Giám Mục Đức, tìm cách làm nhục Đức Ratzinger bất chấp thủ đoạn. Ngài đưa ra lập trường trên trong cuộc phỏng vấn với tờ Corriere della Sera, nghĩa là Tin Chiều của Ý.

Nguyên bản tiếng Ý có thể xem tại đây. Dưới đây là bản dịch toàn văn sang Việt Ngữ.



Tại sao Đức Cha lại tin chắc như thế?

“Hãy để tôi đưa ra tiền đề. Tất cả các giám mục Ý chúng tôi, tất nhiên, bao gồm cả tôi, đều tin chắc một cách sâu sắc rằng lạm dụng tình dục trẻ vị thành niên, cũng như các hành vi lạm dụng đạo đức và thẩm quyền, là một tội rất nghiêm trọng. Tất cả càng nghiêm trọng hơn nếu được thực hiện bởi một người thánh hiến, một tu sĩ, hay một nhà giáo dục”.

Nhưng nhiều người không muốn nhắc đến chuyện đó.

“Chắc chắn rồi. Nhưng Giáo hội ngày càng nhận thức được sự gia tăng về số lượng những tội ác này trong những năm cuối của triều đại Thánh Gioan Phaolô II. Chính Đức Hồng Y Ratzinger là người đầu tiên nêu bật mức độ nghiêm trọng của nó - trong số các nhà lãnh đạo thế giới, chính trị và văn hóa - và đưa ra các biện pháp”.

Các biện pháp nào, thưa Đức Cha?

“Bằng cách củng cố bộ phận pháp lý của Bộ Giáo lý Đức tin mà ngài lãnh đạo. Sau khi trở thành Giáo hoàng, ngài đã thực hiện những hành động đầy quyết tâm: bức thư rất nghiêm khắc gửi cho Giáo hội Ái Nhĩ Lan, yêu cầu sám hối và hoán cải, cũng như phải liên đới và cởi mở với các nạn nhân. Ngài gia tăng mức độ nặng nề của các hình phạt, cũng như thêm vào các hình phạt mới, và trao cho Bộ Đức tin những quyền điều tra mới và sâu rộng. Trước ngài chưa ai làm được như thế cả”.

Còn Đức Giáo Hoàng Phanxicô thì sao?

“Ngài tiếp tục đường lối này với nhiều sự can thiệp và thể hiện sự gần gũi của mình với các nạn nhân, yêu cầu các Giáo hội địa phương trang bị một ủy ban giáo phận để lắng nghe các nạn nhân và đào tạo các nhà giáo dục. Không có cơ quan thế giới nào làm được những gì Giáo Hội Công Giáo đang làm. Đó là một ý thức mới đã tồn tại trong nhiều thập kỷ. Không chỉ Giáo hội, xã hội dân sự cũng còn một chặng đường dài phía trước. Các vụ lạm dụng xảy ra chủ yếu trong các gia đình, trong thế giới thể thao và các hiệp hội thanh niên. Tại sao lại nổi cơn thịnh nộ chống lại Đức Hồng Y Ratzinger, về những sự kiện xảy ra gần 40 năm trước?”.

Đúng thế, quá bất công đối với ngài. Nhưng tại sao lại có vụ tấn công này, thưa Đức Cha?

“Lý do duy nhất đối với tôi dường như là sự không khoan dung của các thành phần cấp tiến trong Giáo hội và trong xã hội”.

Các thành phần cấp tiến trong Giáo hội là những ai, thưa Đức Cha?

“Đó là những người đang gây ra sự trôi dạt đức tin bằng Tiến Trình Công Nghị ở Đức. Họ là những người chưa bao giờ chấp nhận triều đại giáo hoàng của Đức Bênêđíctô XVI, sự khiêm tốn của ngài, sự trong sáng của ngài, thần học của ngài rộng mở sâu sắc và đồng thời bắt nguồn từ truyền thống, sự nhạy bén trong cách đọc hiện tại của ngài, cũng như cuộc chiến của ngài chống lại sự giảm thiểu lý trí, sự suy giảm giá trị của niềm tin trong xã hội, sự tháo thứ luân lý và chân lý. Họ không chấp nhận những điều đó.”

Những cáo buộc họ đưa ra rất nghiêm trọng. Đức Cha có chắc chắn rằng những cáo buộc này không được hỗ trợ bởi sự kiện, và bằng chứng?

“Tôi không hiểu tại sao các Giáo hội Pháp và Đức lại chọn con đường hình thành các ‘Ủy ban điều tra độc lập’, mà trên thực tế không phải là độc lập, bởi vì, ít nhất là một số thành viên của họ, đã bị lèo lái bởi thành kiến chống Công Giáo. Đồng thời, chúng ta không bao giờ được đo lường thái độ của nhiều thập kỷ trước với những tiêu chuẩn của ngày hôm nay, khi chúng ta có nhận thức trưởng thành hơn về mức độ nghiêm trọng của các sự kiện, và hệ quả là sự nhạy cảm đã phát triển ở mọi cấp độ xã hội. Chẳng hạn, khi tôi còn nhỏ, các thầy cô giáo đưa ra một số hình phạt thể xác nhất định, điều đó không bị coi là ngược đãi và được coi là hoàn toàn bình thường. May mắn thay, điều này không còn xảy ra ngày nay”.

Vai trò của Đức Thánh Cha Phanxicô trong tất cả những điều này là gì, thưa Đức Cha?

“Hoàn toàn không. Không có âm mưu nào của Đức Giáo Hoàng Phanxicô nhằm chống lại Đức Bênêđíctô. Đức Thánh Cha Phanxicô có một lòng kính trọng và tình cảm sâu sắc đối với người tiền nhiệm của mình”.

Theo Đức Cha, Đức Hồng Y Ratzinger sẽ được nhớ đến như thế nào?

“Giống như một người cha của Giáo hội. Ngài chắc chắn sẽ được nhớ đến như các Đức Giáo Hoàng Lêô Cả và Đức Giáo Hoàng Grêgôriô Cả vì khả năng diễn thuyết sâu sắc và đơn giản của ngài. Những thế kỷ trong tương lai sẽ tiếp tục được nuôi dưỡng bởi giáo huấn của ngài”.

Còn Đức Bergoglio thì sao, thưa Đức Cha?

“Giống như một vị Giáo hoàng đã kêu gọi toàn thể Giáo hội ý thức mình là một thiểu số, nhưng là một thiểu số tích cực, lắng nghe tiếng kêu cứu tuyệt vọng của những người nghèo, những người bị gạt ra ngoài lề xã hội, và ý thức rằng trong mọi hoàn cảnh chỉ có Chúa Kitô mới có thể cứu được chúng ta”.

Đức Cha có nghĩ rằng một ngày nào đó Giáo hội sẽ cho các linh mục được kết hôn không?

“Không có mối liên hệ nào giữa luật độc thân linh mục và ấu dâm. Thật không may, nhiều kẻ ấu dâm là những người đã kết hôn, đã có gia đình hẳn hoi. Sự tươi sáng của đời sống độc thân đến với chúng ta từ Tin Mừng, từ cuộc đời của chính Chúa Giêsu. Đó là sự lựa chọn để sống như Ngài. Nó đòi hỏi một sự trưởng thành về tình cảm phải được xác minh trong quá trình phân định. Các bề trên của các chủng viện và các nhà giáo dục là cần thiết, những người đảm nhận nhiệm vụ xác minh này. Chứng sợ tính dục ở thế kỷ 19 đã tạo ra các linh mục chưa trưởng thành và do đó không thể đánh giá sự trưởng thành của các ứng viên”.

Như thế, theo ý Đức Cha loại bỏ luật độc thân linh mục sẽ không giải quyết được gì?

“Cuộc khủng hoảng mà chúng ta đang trải qua đòi hỏi sự khám phá lại chứ không phải sự phủ nhận giá trị của cuộc sống độc thân. Trái tim của con người là một vực thẳm mà không phải lúc nào cũng có thể soi xét được. Sử dụng ngôn ngữ của Tin Mừng, tôi có thể nói rằng sự trinh tiết vì Nước Trời, ngày nay đang bị hủy hoại mạnh mẽ bởi sự khêu gợi đang xâm chiếm xã hội, bởi sự cô đơn và bởi sự mong manh của chính chúng ta. Nhưng sự sa ngã của một số người không thể phủ nhận sự thật và che khuất ánh sáng rằng luật độc thân linh mục không phải là cho dân Kitô, mà cho toàn thể nhân loại”.
Source:Corriere della Sera