Ngày 22-12-2017
 
Phụng Vụ - Mục Vụ
Cùng Mẹ đón Chúa đến
Lm Đan Vinh
04:54 22/12/2017
Chúa Nhật IV Mùa Vọng B
2 Sm 7,1-5.6b-12.14a.16 ; Rm 16,25-27 ; Lc 1,26-38

I. HỌC LỜI CHÚA

1. TIN MỪNG: Lc 1,26-38.

(c 26) Bà Ê-li-sa-bét có thai được sáu tháng, thì Thiên Chúa sai sứ thần Gáp-ri-en đến một thành miền Ga-li-lê, gọi là Na-da-rét, (c 27) gặp một Trinh Nữ đã đính hôn với một người tên là Giu-se, thuộc nhà Đa-vít, Trinh Nữ ấy tên là Ma-ri-a. (c 28) Sứ thần vào nhà Trinh Nữ và nói: “Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà”. (c 29) Nghe lời ấy, bà rất bối rối, và tự hỏi lời chào như vậy có nghĩa gì. (c 30) Sứ thần liền nói: “Thưa bà Ma-ri-a xin đừng sợ, vì bà đẹp lòng Thiên Chúa. (c 31) Và này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai và đặt tên là Giê-su. (c 32) Người sẽ nên cao cả và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao. Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đa-vít, tổ tiên Người. (c 33) Người sẽ trị vì nhà Gia-cóp đến muôn đời, và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận”.
(c 34) Bà Ma-ri-a thưa với sứ thần: “Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng !” (c 35) Sứ thần đáp: “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà. Vì thế Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ là thánh, sẽ được gọi là Con Thiên Chúa”. (c 36) Kìa bà Ê-li-sa-bét, người họ hàng với bà, tuy đã già rồi, mà cũng đang cưu mang một người con trai: Bà ấy vẫn bị mang tiếng là hiếm hoi, mà nay đã có thai được sáu tháng. (c 37) Vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được”.
(c 38) Bấy giờ bà Ma-ri-a nói: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa. Xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói”. Rồi sứ thần từ biệt ra đi.

2. Ý CHÍNH:

Câu chuyện truyền tin của sứ thần Ga-bri-el cho đức trinh nữ Ma-ri-a biểu lộ tình thương và sự trung tín của Thiên Chúa trong công cuộc cứu độ loài người. Thái độ lắng nghe Lời Chúa, tìm hiểu Ý Chúa và mau mắn “Xin Vâng” của Đức Ma-ri-a chính là thái độ mà các tín hữu cần có để chuẩn bị đón Chúa đến ban ơn cứu độ.

3. CHÚ THÍCH:

- (c 26) + Gáp-ri-en: là một trong bảy Tổng Lãnh thiên thần (x. Tb 12,15), trong đó ba vị được nêu rõ tên trong Cựu Ước là: Mi-ka-en, Ra-pha-en, và Gáp-ri-en. Tên của các vị này có ý nghĩa phù hợp với sứ mệnh của mỗi vị như sau: Mi-ka-en nghĩa là “Ai bằng Thiên Chúa?” (Đn 12,1), Ra-pha-en nghĩa là “Thiên Chúa chữa lành” (Tb 3,17) và Gáp-ri-en nghĩa là “Anh hùng của Thiên Chúa” (Đn 8,16).
- (c 27) + Trinh nữ: Từ này không xác định về đức trinh khiết của Đức Ma-ri-a, vì trinh nữ đơn giản chỉ là một cô gái chưa lấy chồng. Sự thanh khiết của Đức Ma-ri-a được khẳng định qua lời thưa với sứ thần: “Việc đó xảy ra thế nào được, vì tôi không biết đến người nam” (Lc 1,34). Sở dĩ trinh nữ Ma-ri-a được chọn cho thấy lời tuyên sấm của I-sai-a về một trinh nữ thụ thai và sinh con trai là Đấng Em-ma-nu-en, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta, đã được ứng nghiệm nơi Đức Ma-ri-a (x. Is 7,14 ; Mt 1,23). + Đã đính hôn: Từ khi đính hôn, Giu-se và Ma-ri-a đã được luật pháp công nhận là vợ chồng, và con cái sinh ra trong thời kỳ này được kể là con chính thức của hai người. Tuy nhiên, theo phong tục trong xã hội Do Thái thì việc kết hôn chỉ hoàn tất khi họ đàng trai tổ chức lễ cưới đón rước cô dâu về nhà chồng (x. Mt 1,18). + Thuộc nhà Đa-vít: Chi tiết này thêm vào nhằm chứng minh Đức Giê-su là Đấng Cứu Thế vì theo sấm ngôn của I-sai-a thì Đấng Cứu Thế phát xuất từ gốc Giê-sê là cha của vua Đa-vít (x. Is 11,1) và nơi sinh của Người là Bê-lem, quê hương của Đa-vít (x. Mk 5,1). + Ma-ri-a: hay Mi-ry-am, là tên gọi của nhiều thiếu nữ Do thái đương thời. Để phân biệt, người ta thường thêm một biệt danh sau tên gọi. Chẳng hạn: Ma-ri-a Mác-đa-la (x. Lc 8,2-3); Ma-ri-a Bê-ta-ni-a (x. Lc 10,39); Ma-ri-a mẹ Gia-cô-bê và Giô-xép (x. Mt 27,56); Ma-ri-a vợ ông Cơ-lô-pát (x. Ga 19,25); Ma-ri-a mẹ Gio-an (x. Cv 12,12) và bà Ma-ri-a thân mẫu Đức Giê-su (x. Cv 1,14).
- (c 28) + “Mừng vui lên”: Đây không phải là cách chào giữa những người dân bình thường, nhưng là lời chào đặc biệt chỉ dành cho những người được gặp Thiên Chúa (x Dcr 9,9). + “Đầy ân sủng”: Tước hiệu dành riêng cho Đức Ma-ri-a, một người trong sạch vẹn toàn. Ngài đã được chọn làm Mẹ Đấng Cứu Thế, nên đã được Thiên Chúa ban đặc ân Vô Nhiễm Nguyên Tội và luôn có Chúa ở cùng.
- (c 29) + “Bà bối rối và tự hỏi”: Khác với thái độ “bối rối sợ hãi” của Da-ca-ri-a (x. Lc 1,12), ở đây Ma-ri-a chỉ ngạc nhiên và băn khoăn về ý nghĩa của lời Chúa vừa mặc khải (x. Lc 1,34 và 2,19).
- (c 31) + Giê-su: nghĩa là “Cứu Chúa” (x. Mt 1,21) hay “Đấng Cứu Thế” (x. Lc 2,11).
- (c 32) + Con Đấng Tối Cao: Đây là tước hiệu thường được áp dụng cho các ông vua dòng tộc Đa-vít. Qua câu này, sứ thần ám chỉ Đức Giê-su là vua thuộc nhà Đa-vít. Người sẽ cai trị Ít-ra-en, và triều đại của Người sẽ vững bền mãi mãi.
- (c 34) + “Việc ấy xảy ra cách nào, vì tôi không ‘biết’ đến người nam!”: “Biết” theo nghĩa Thánh Kinh có nghĩa là “sự giao hợp vợ chồng”. Câu thắc mắc của Ma-ri-a không chứng minh việc Ma-ri-a đã khấn hay có ý khấn giữ mình đồng trinh như có người lầm tưởng. Qua câu này, Ma-ri-a chỉ thắc mắc làm sao thực hiện được việc thụ thai ngay lúc này được, khi mà Ma-ri-a mới chỉ thành hôn làm vợ ông Giu-se về mặt luật pháp, và chưa được Giu-se tổ chức lễ cưới để rước dâu về nhà.
- (c 35) + Sứ thần đáp: “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà...”: Sứ thần giải thích cho Ma-ri-a hiểu việc thụ thai của Ma-ri-a xảy ra do quyền năng Thánh Thần, để ứng nghiệm lời tuyên sấm của I-sai-a: Đấng Cứu Thế sẽ do một gái đồng trinh thụ thai và sinh ra (x. Is 7,14). + rợp bóng: hay tỏa bóng. Đây là Kiểu nói nhắc lại sự kiện đã từng xảy ra trong thời gian con cháu Gia-cóp vượt qua sa mạc để về miền Đất Hứa: Đức Chúa luôn hiện diện giữa dân Người bằng cách cho cột mây “rợp bóng” che phủ Nhà Tạm và Lều Hội Ngộ (x. Xh 40,34-38). Ngoài ra, “rợp bóng” cũng ám chỉ sự bang trợ của Đức Chúa, giống như chim phượng hoàng sải cánh bao phủ và che chở Ít-ra-en là con dân của Người (x. Tv 17,8).
+ “Đấng Thánh” sắp sinh ra sẽ là “thánh”: “Thánh” nghĩa là thuộc về Thiên Chúa, được hiến “thánh” dành riêng cho Thiên Chúa để thi hành sứ mạng cứu thế.
- (c 36) + Kìa bà Ê-li-sa-bét...: Sứ thần chứng minh quyền năng của Thiên Chúa qua việc bà chị họ Ê-li-sa-bét, tuy đã cao tuổi và bị hiếm hoi, nhưng đã được Thiên Chúa ban cho đặc ân thụ thai con trai và tới nay đã được sáu tháng.
- (c 38) +“Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa”: Khi tự nhận là “nữ tỳ của Chúa”, Ma-ri-a biểu lộ đức khiêm nhường và lòng tin yêu sâu xa đối với Thiên Chúa. + “Xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói”: Ma-ri-a đại diện nhân loại để đón nhận ơn cứu độ của Thiên Chúa. Thực vậy, ngay sau lời thưa “Xin Vâng”, Thánh Thần đã tác động làm cho Ma-ri-a thụ thai, mà không cần tri giao vợ chồng (x. Lc 1,34). Rồi Ngôi Lời “đã xuống thế làm người”, nhập vào bào thai ấy trở thành Đấng “Em-ma-nu-en”, nghĩa là “Thiên Chúa ở cùng chúng ta” (x. Mt 1,23). Như vậy, Đức Giê-su chỉ có một Ngôi là “Ngôi Con”, “Ngôi Hai” hay “Ngôi Lời” của Thiên Chúa, nhưng lại có hai bản tính: vừa có tính Thiên Chúa vừa có tính người phàm.

HỎI: Thắc mắc của Đức Ma-ri-a và của ông Da-ca-ri-a (x. Lc 1,18) có giống nhau hay không?:

ĐÁP: Cả hai cùng đưa ra thắc mắc, nhưng trong hai tâm trạng khác nhau: Thắc mắc của Da-ca-ri-a biểu lộ tâm trạng hoài nghi về quyền năng của Thiên Chúa, nên ông đã bị phạt phải cấm khẩu không thể nói được. Sự cấm khẩu này là dấu chỉ bà Ê-li-sa-bét chắc chắn sẽ có thai khác thường (x. Lc 1,20). Còn lời thắc mắc của Đức Ma-ri-a biểu lộ tâm trạng tin tưởng: Ma-ri-a muốn tìm biết thánh ý Chúa để xin vâng. Do đó, Mẹ đã được sứ thần ca tụng là Đấng “đầy ân phúc hằng làm đẹp lòng Thiên Chúa” (x. Lc 1,30) và được bà Ê-li-sa-bét khen ngợi là “diễm phúc, vì đã tin lời Chúa phán sẽ được thực hiện” (x. Lc 1,45).

4. CÂU HỎI:

1) Thánh Kinh cho biết có mấy Tổng lãnh thiên thần? Các Tổng lãnh thiên thần được nêu đích danh là những ai? Ý nghĩa của các tên gọi của các vị ấy là gì?
2) Tại sao Thiên Chúa lại chọn Ma-ri-a đang là một “Trinh nữ” làm mẹ Đấng Cứu Thế?
3) Lúc thưa “Xin vâng” để thụ thai Đấng Cứu Thế do quyền năng Chúa Thánh Thần, Đức Ma-ri-a đã kết hôn với thánh Giu-se chưa?
4) Câu thắc mắc của Đức Ma-ri-a khác với thắc mắc của ông Gia-ca-ri-a ra sao?
5) Sứ thần muốn nói gì qua câu: ”Quyền năng Đấng Tối Cao sẽ tỏa bóng trên bà”?

II.SỐNG LỜI CHÚA:

1. LỜI CHÚA: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa. Xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói”.

2. CÂU CHUYỆN:

1) ĐẾN VỚI CHÚA GIÊ-SU NHỜ MẸ MA-RI-A (AD JESUM PER MARIAM):

Vào một buổi chiều đông lạnh giá, PHUN-TƠN (FULTON OURSLER), một tín hữu bị mất đức tin đã bỏ nhà thờ nhiều năm, đang trong tâm trạng tuyệt vọng vì gặp quá nhiều vấn đề khó khăn nan giải. Khi đi ngang qua đại lộ Nhà thờ chính toà của thành phố Nữu Ước, tự nhiên ông cảm thấy có một sức mạnh vô hình nào đó cuốn hút ông đi vào nhà thờ và đẩy ông đến quỳ trước tượng Đức Mẹ. Sau một lát im lặng, tự nhiên Phun-tơn đã thốt ra một lời cầu nguyện như sau: “Lạy Mẹ Ma-ri-a, có thể chỉ một lát nữa thôi là con sẽ lại đổi ý để tiếp tục bài bác chế diễu các việc đạo đức con đang làm và quay trở lại con đường vô tín. Nhưng bây giờ con cảm thấy tâm hồn thật bình an, dù con đang gặp nhiều khó khăn nan giải. Xin Mẹ cầu cùng Chúa Giê-su ban thêm đức tin cho con”. Ngay lúc đó Phun-tơn cảm thấy một điều lạ lùng kỳ diệu xảy ra nơi bản thân, biến ông trở thành một con người mới: Ông đã có lại đức tin ! Từ đây, ông luôn sống kết hiệp với Mẹ Ma-ri-a để làm chứng cho Chúa Giê-su bằng một cuộc sống khiêm nhường, cậy trông phó thác và đầy vị tha bác ái. Chính nhờ Mẹ mà ông đã đến được với Chúa Giê-su và tin vào Người.

2) THỰC HÀNH YÊU THƯƠNG CỤ THỂ ĐỂ TRỞ NÊN CON CÁI CỦA THIÊN CHÚA:

Vào một buổi tối mùa đông lạnh lẽo trước lễ Giáng Sinh, một bé trai khoảng sáu bảy tuổi đang đứng phía ngoài cửa sổ của một cửa hàng quần áo. Cậu bé không có giày nên phải mang đôi dép cùn, còn quần áo của cậu đã bị cũ rách.

Một phụ nữ trẻ đi ngang qua trông thấy cậu bé và đọc được nỗi khao khát trong đôi mắt xanh của cậu. Chị liền đến bên nắm lấy tay cậu bé dắt vào trong cửa hàng, bỏ tiền ra mua cho cậu một đôi giầy mới và một bộ quần áo ấm rồi nói: "Bây giờ cháu có thể về nhà rồi và chúc cháu một lễ Giáng Sinh vui vẻ hạnh phúc".

Cậu bé chăm chú nhìn người phụ nữ trẻ và hỏi: "Cô có phải là Chúa không?".

Người phụ nữ nhìn cậu bé mỉm cười trả lời: "Không đâu cháu à. Cô chỉ là một trong số những đứa con của Chúa thôi".

Quả thực, mỗi người chúng ta đều là con của Thiên Chúa, là môn đệ của Chúa Giê-su. Chúng ta phải làm gì để người đời nhận ra chúng ta là con Thiên Chúa, là môn đệ thực sự của Chúa Giê-su giống như người phụ nữ trẻ trong câu chuyện trên ?

3) KHIÊM NHƯỜNG PHỤC VỤ: ĐIỀU KIỆN ĐỂ THÀNH CÔNG TRONG MỌI VIỆC:

Đọc Tam Quốc Chí, ai cũng mến mộ Trương Lương, một trong những vị tướng tài ba của Lưu Bang. Thuở nhỏ, Trương Lương đi dạo chơi ngoài bờ sông. Thấy một ông lão ăn mặc rách rưới đang nằm ngủ trên cầu. Ông lão ngủ say làm rơi một chiếc dép xuống sông. Thấy Trương Lương, ông liền ra lệnh: « Này thằng bé kia, mau xuống nước nhặt chiếc dép lên cho ta ». Trương Lương vui vẻ xuống sông nhặt chiếc dép rồi kính cẩn trao lại cho cụ già. Cụ cầm lấy, không một lời cám ơn. Loay hoay xỏ mãi mà không được, rồi cụ đánh rơi chiếc dép một lần nữa. Cụ lại quát bảo Trương Lương: « Thằng bé, xuống nước nhặt dép lên cho ta ». Trương Lương vẫn vui vẻ làm giúp cụ. Lần thứ ba cũng thế. Thấy vậy, ông lão tự nhủ: « Thằng bé này dạy được đây ». Thì ra ông lão là một vị cao nhân lỗi lạc đã nhận Trương Lương làm học trò, truyền dạy binh pháp cho ông. Nhờ thế, Trương Lương sau này trở nên một danh tướng văn võ song toàn, đã giúp cho Lưu Bang dựng nên nghiệp đế vương.
Trương Lương gặp được thầy giỏi phần nhờ cơ may, nhưng phần lớn là nhờ sự khiêm nhường sẵn sàng phục vụ tha nhân của ông. Đức Ma-ri-a cũng nhờ đức khiêm nhường thể hiện qua lời thưa « Xin vâng » với sứ thần truyền tin, nên Ngài đã được phúc trở thành mẹ của Đấng Cứu Thế.

3. THẢO LUẬN:

1) Noi gương Thánh Mẫu Ma-ri-a xưa, mỗi tín hữu chúng ta cần làm gì để luôn thưa “Xin Vâng” theo thánh ý Thiên Chúa, dù gặp phải nhiều tai nạn, rủi ro, thất bại hay những điều trái ý cực lòng?

2) Bạn nên làm gì để động viên người khác thưa xin vâng thánh ý Chúa khi gặp những điều rủi ro trái ý như: thi rớt đại học, có người thân mới qua đời, gặp tai nạn giao thông phải nằm điều trị trong bệnh viện, làm ăn thua lỗ thất bại...?

4. SUY NIỆM: LẮNG NGHE LỜI CHÚA VÀ XIN VÂNG Ý CHÚA NOI GƯƠNG MẸ MA-RI-A:

Hôm nay là Chúa Nhật 4 Mùa Vọng, Hội Thánh chọn Tin Mừng Lu-ca (Lc 1,26-38) về việc sứ thần đến truyền tin cho Đức Ma-ri-a, qua đó trình bày cho chúng ta về tình thương và sự trung tín của Thiên Chúa trong chương trình cứu độ loài người. Thái độ lắng nghe Lời Chúa, tìm hiểu Ý Chúa và mau mắn “Xin Vâng” của Đức Ma-ri-a chính là thái độ mà các tín hữu chúng ta cần thực hiện để chuẩn bị tâm hồn đón Chúa Giê-su đến ban ơn cứu độ cho chúng ta.

1) CẢM TẠ HỒNG ÂN CỨU ĐỘ CỦA THIÊN CHÚA:

- Trong Cựu Ước, sách Xuất Hành dã thuật lại: “Đám mây che phủ Lều Hội Ngộ, và vinh quang Đức Chúa đầy tràn Nhà Tạm” (Xh 40,34). Nhà Tạm là nơi dân Do-thái đặt Hòm Bia Giao Ước, trong hòm chứa hai phiến đá khắc ghi mười giới răn đã được Đức Chúa ban cho dân Ít-ra-en qua ông Mô-sê trên núi Xi-nai xưa. Hòm bia Giao Ước là hình ảnh của Đức Ma-ri-a của thời Tân Ước.

- Trong biến cố truyền tin, sứ thần Gáp-ri-en đã hiện đến chào kính Đức Ma-ri-a là đấng đầy ân sủng luôn được Thiên Chúa ở cùng. Rồi sứ thần báo tin vui Ma-ri-a đã được Thiên Chúa chọn làm Mẹ của Hài nhi Cứu thế Giê-su. Khi Ma-ri-a thắc mắc làm sao mình có thai được khi « không biết đến việc vợ chồng ». Bấy giờ sứ thần đã mặc khải cho Ma-ri-a về mầu nhiệm trinh thai: cô sẽ được thụ thai do quyền năng Thánh Thần, hầu ứng nghiệm sấm ngôn của I-sai-a: “Này đây người thiếu nữ mang thai, sinh hạ con trai, và đặt tên là Em-ma-nu-en” (Is 7,14).

- Câu chuyện sứ thần truyền tin cho Đức Ma-ri-a cho thấy tình thương và sự trung tín của Thiên Chúa trong chương trình cứu độ loài người. Trong những ngày này chúng ta hãy năng dâng những lời nguyện tạ ơn Thiên Chúa đã ban cho chúng ta Đấng “Em-ma-nu-en” nghĩa là “Thiên Chúa ở cùng chúng ta” (Mt 1,23), để chúng ta có thể gặp gỡ, tâm sự và đón nhận được hồng ân cứu độ do Người đến ban cho chúng ta.

2) KHIÊM NHƯỜNG XIN VÂNG Ý CHÚA:

Điểm nổi bật của Mẹ Ma-ri-a mà Hội Thánh muốn các tín hữu suy niệm và học tập trong mùa Vọng này là thái độ khiêm nhường thể hiện qua sự phó thác và xin vâng thánh ý Thiên Chúa như sau :

- Khiêm nhường : Trái với thái độ kiêu ngạo không vâng lời của E-và kết hợp với A-đam xưa trong vườn địa đàng, Đức Ma-ri-a là E-và Mới thời Tân Ước đã cộng tác với A-đam Mới là Chúa Giê-su để lắng nghe Lời Chúa, khiêm tốn tìm hiểu thánh ý Thiên Chúa và thưa “Xin Vâng”. Ngay sau lời thưa này, Chúa Thánh Thần đã tác động làm cho Ma-ri-a thụ thai, như lời kinh truyền tin: “Chốc ấy Ngôi Thứ Hai xuống thế làm người, và ở cùng chúng tôi”. Từ đây, Đức Ma-ri-a hằng ghi nhớ các biến cố xảy ra và “suy đi nghĩ lại trong lòng” (x. Lc 2,19). Mẹ đã cùng Thai Nhi đi thăm viếng gia đình Gia-ca-ri-a và làm cho thai nhi Gio-an nhảy mừng trong lòng mẹ là bà Ê-li-sa-bét (Lc 1,41). Sau này Mẹ còn “xin vâng” khi đứng dưới chân thánh giá dâng Con yêu là Chúa Giê-su lên cho Chúa Cha để đền tội thay cho loài người chúng ta.

- Phó thác: Qua biến cố truyền tin, chúng ta cũng noi gương Mẹ để cậy trông phó thác mọi sự trong tay Chúa quan phòng. Ngày nay việc giúp những người không tin nhận biết tin thờ Thiên Chúa, chừa cải các thói hư nơi bản thân và góp phần xóa bỏ các tệ nạn xã hội như xì-ke ma-túy, cờ bạc đĩ điếm, lừa đảo cướp giật... không dễ thực hiện. Nhưng thực ra lại không khó chút nào trước Thiên Chúa, vì: “đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được” (Lc 1,37). Vậy để việc tông đồ truyền giáo đạt kết quả, chúng ta cần noi gương Mẹ Ma-ri-a năng thưa chuyện với Chúa Giê-su và thực hành lời Người dạy, như trong tiệc cưới Ca-na Mẹ đã cầu bầu cho đôi tân hôn: “Họ hết rượu rồi” và đã dạy các người giúp việc đám cưới phải vâng lời Chúa Giê-su: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo” (Ga 2,3-5).

- Tất cả đều là hồng ân: Khi gặp sự may lành, chúng ta dễ dàng cúi đầu cảm tạ hồng ân Chúa ban. Nhưng ngay cả những lúc gặp cơn gian nan thử thách, chúng ta cũng vẫn phải cảm tạ và thưa “Xin Vâng”, vì biết rằng: mọi sự Chúa để xảy ra đều hữu ích cho phần rỗi chúng ta. Vì Chúa có thể « rút từ sự dữ ra sự lành », Chúa không bao giờ triệt đường sống của chúng ta như có người đã nói: “Chúa đóng cửa chính, nhưng lại mở cửa sổ” và lời thánh Phao-lô: “Tất cả đều là hồng ân” (x. 1 Cr 15,10).

5. LỜI CẦU:

- LẠY CHÚA, chỉ còn ít ngày nữa là tới đại lễ Giáng Sinh. Chung quanh chúng con, người người đang tấp nập mua sắm và trang hoàng nhà cửa để chuẩn bị mừng ngày Đại lễ. Nhưng có lẽ điều Chúa muốn chúng con làm lúc này là chuẩn bị tâm hồn của chúng con, để chúng con trở thành một hang đá thanh sạch và đầy tràn ánh sáng của Chúa, xứng đáng đón rước Chúa đến thăm vào Đêm Giáng Sinh. Xin Chúa giúp chúng con thật lòng ăn năn sám hối tội lỗi, quyết tâm khiêm nhường phục vụ tha nhân.

- Nhất là cho chúng con biết chia sẻ tình thương cho những người nghèo khổ như: Các cụ già cô đơn không nơi nương tựa, các người khiếm thị và khuyết tật, các trẻ mồ côi lang thang đầu đường xó chợ để kiếm sống, và hết những bệnh nhân bị yếu đau liệt giường không tiền thuốc thang chữa trị... Nhờ đó chúng con xứng đáng đón rước Chúa đến ngự trong lòng chúng con trong lễ Giáng Sinh và ban hồng ân cứu độ cho chúng con.

X. HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.- Đ. XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.
 
Loan báo Tin Mừng Giáng Sinh thế nào ?
Lm Đan Vinh
05:01 22/12/2017
Lễ Đêm Gíang Sinh
Is 9,1-6; Tt 2,11-14; Lc 2,1-14.

1. LỜI CHÚA:

“Này tôi báo cho anh em một Tin mừng trọng đại, cũng là Tin mừng cho toàn dân: Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành Vua Đa-vít. Người là Đấng Ki-tô Đức Chúa” (Lc 2,10-11).

2. CÂU CHUYỆN:

1) CHÚA CỨU THẾ ĐÃ GIÁNG SINH CHO CHÚNG TA:
Ở nước Nga thời trung cổ, có một hoàng tử tên là A-lếch-xích (Alexis) có lòng bác ái yêu thương những người nghèo khổ bệnh tật. Mỗi ngày hoàng tử dành nhiều thời giờ đến thăm hỏi và sẵn sàng rộng tay giúp đỡ những ai cần được trợ giúp. Có điều lạ là hoàng tử thấy dân chúng lại tỏ vẻ dửng dưng và thờ ơ khi thấy chàng đến thăm. Về sau hoàng tử được biết sở dĩ dân chúng không mấy phấn khởi khi gặp chàng vì chàng không đáp ứng được các nhu cầu thực tế của họ. Từ đó hoàng tử A-lếch-xích tìm cách giúp dân chúng cách thiết thực hơn.

Sau một thời gian, một hôm dân chúng lại thấy một người ăn mặc đơn sơ đến thăm họ. Anh ta thuê một túp lều trong hẻm sâu làm nơi trú ngụ. Hàng ngày anh đến từng nhà và khám bệnh bốc thuốc miễn phí cho các người nghèo. Chẳng bao lâu sau, anh ta gây được thiện cảm của mọi người chung quanh. Uy tín anh ngày một gia tăng khiến nhiều người nghe tiếng đã tìm đến nhờ anh giúp đỡ giải quyết những khó khăn đang gặp phải. Hôm nay anh dàn xếp được một cuộc tranh chấp đất đai giữa hai gia đình. Hôm sau, anh lại làm cho một đôi vợ chồng sắp ly hôn làm hòa với nhau và yêu thương nhau như trước. Anh động viên mọi người tương trợ lẫn nhau và nhờ đó ai cũng yêu mến anh vì anh đã hy sinh tận tình giúp đỡ cho họ.

Thật ra ông thầy lang ấy chính là hoàng tử A-lếch-xít. Hoàng tử đã rời bỏ cung điện phú quí, đến sống giữa đám dân nghèo đói dốt nát, và hòa mình với họ. Về sau khi biết được ông thầy lang chính là hòang tử A-lếch-xít hóa thân thì dân chúng lại càng quý trọng hòang tử gấp bội.

Hoàng tử A-lếch-xít trong câu chuyện trên là hình ảnh của Đức Giê-su Đấng Cứu Thế. Người đã giáng sinh trong cảnh nghèo hèn để chia sẻ cảnh nghèo khổ với lòai người chúng ta. Người đã yêu thương chúng ta và tình nguyện xuống trần gian để ban lại cho chúng ta sự sống đời đời.

2) NGƯỜI VỐN DĨ VÔ TỘI NHƯNG ĐÃ TRỞ THÀNH TỘI NHÂN VÌ CHÚNG TA:

Một vị quan lớn gửi thiệp mời các người thân quen đến dự tiệc mừng sinh nhật thất tuần của ông. Tất cả quan khách đến dự buổi liên hoan đều ăn mặc sang trọng và có xe ngựa sang trọng đưa rước. Một vị quan cao tuổi là bạn chí thân của quan chủ tiệc cũng đến dự. Do già yếu nên khi bước xuống xe, chẳng may ông bị trượt chân té xuống một vũng nước dơ khiến các gia nhân gần đó đều cười ồ lên. Trước tình trạng quần áo bị hoen ố nước dơ, vị quan cảm thấy xấu hổ trước trăm con mắt đang nhạo cười mình và quyết định lên xe ra về. Viên quản gia hiện diện đã đến năn nỉ hết cách mà vị quan kia nhất định không vào trong nhà dự tiệc. Bấy giờ chủ nhà được gia nhân cấp báo liền vội vàng chạy tới. Khi ngang qua vũng nước, ông lại cố tình té ngã vào vũng nước và quần áo ông cũng vấy bẩn không khác vị quan khách kia bao nhiêu. Lần này bọn gia nhân không ai còn dám cười nữa. Sau đó chủ nhà đã nắm tay vị khách quý mời vào phòng dự tiệc, và ông này không còn viện lý do gì để từ chối nữa.

Việc làm của chủ nhà trong câu chuyện trên là hành động tế nhị và đầy tình người, khiến chúng ta hiểu được phần nào lý do tại sao Đức Giê-su vốn là Con Thiên Chúa nhưng lại hạ mình xuống làm một phàm nhân. Người đã trở nên giống như chúng ta để ban ơn cứu độ cho chúng ta.

3. SUY NIỆM:

1) ĐÊM THÁNH VÔ CÙNG:

- Vào dịp lễ Giáng Sinh, chúng ta lại được nghe những bài hát du dương thánh thót có khả năng lay động lòng người, nhất là bài SAI-LÂN NAI, HÔ-LI NAI (Silent Night, Holy Night), lời Việt là “Đêm Thánh vô cùng, giây phút tưng bừng”. Quả thực, đêm Giáng Sinh thật là một Đêm thiêng liêng, vì là giờ phút linh thiêng, đất trời hòa hợp nhờ việc Con Thiên Chúa giáng sinh làm người. Mùa Vọng là thời gian trông mong Đấng Cứu Thế đến. Hôm nay, Thiên Chúa đã đáp lại sự mong mỏi của nhân loại bằng việc sai Con Một xuống thế làm người, đầu thai trong lòng Trinh Nữ Ma-ri-a, trở thành một con người “giống như chúng ta mọi đàng, chỉ trừ không có tội” (Dt 4,15).

- Làm sao hiểu được chuyện đó ? Làm sao Thiên Chúa lại trở thành một phàm nhân yếu đuối nghèo nàn ? Làm sao Đấng Vô Cùng lại có thể trở thành một con người hữu hạn ? Làm sao Đấng siêu thời gian lại đi vào trong thời gian và chịu sự chi phối của thời gian ? Làm sao Đấng Tạo Hóa hằng sống lại phải trở thành một loài thụ tạo hay chết ? Tóm lại: Tại sao Thiên Chúa lại giáng sinh làm người ? Chúng ta chỉ có thể trả lời rằng: Tất cả là do Tinh Thương.

2) GIÁNG SINH LÀ LỄ CỦA TÌNH THƯƠNG:

- Vì yêu thương loài người chúng ta và vì muốn cứu độ chúng ta, Con Thiên Chúa đã xuống thế để ở cùng chúng ta, để dạy loài người chúng ta nhận biết Đấng tạo dựng nên mình và mở ra cho loài người một con đường sống, để về trời hưởng hạnh phúc với Chúa Cha. Chúa Giê-su đã thể hiện tình thương của Thiên Chúa bằng việc thiết lập một Nước Trời là Hội Thánh, và đã chịu chết trên cây thập giá để đền tội thay cho loài người, rồi sống lại để trả lại sự sống cho loài người. Tóm lại đêm nay kỷ niệm “Con Thiên Chúa giáng trần làm con loài người, để con loài người được nên Con Thiên Chúa”.

- Như thế, lễ Giáng Sinh là lễ của tình thương. Tin mừng trong ngày lễ Giáng Sinh hôm nay công bố sứ điệp: Thiên Chúa yêu thương loài người nên đã sai Con Một xuống thế để công bố cho loài người biết tình thương bao la của Thiên Chúa. Người muốn chúng ta đáp lại tình thương của Ngài bằng việc yêu mến Ngài và yêu thương nhau.

3) DẤU CHỈ NHẬN BIẾT ĐẤNG THIÊN SAI LÀ SỰ NGHÈO KHÓ:

- Chúa Giáng Sinh là một Tin mừng cho mọi người thiện tâm trên trần gian. Dấu chỉ để các mục đồng nhận ra Người là “Một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ”.

- Các mục đồng sau khi được thiên thần báo tin đã lập tức lên đường tìm kiếm Hài Nhi và cuối cùng đã gặp được Người. Rồi họ lại đi loan Tin mừng cho kẻ khác. Đấng Cứu Thế đã chọn mang thân phận nghèo hèn đến với nhân loại, để chia sớt nỗi khổ đau với những người nghèo.

4) THI HÀNH SỨ VỤ LOAN TIN VUI GIÁNG SINH:

Ngày nay Chúa Giê-su vẫn tiếp tục đến với chúng ta qua những dấu chỉ khiêm tốn và nghèo hèn. Người trở thành một tấm bánh với vẻ bề ngoài tầm thường, Người hiện thân trong những kẻ tàn tật què quặt đui mù, Người đến trong những người nghèo khó bị người đời hắt hủi bỏ rơi.

- Trước dấu chỉ nghèo khó này, các chủ quán giàu có ở Bê-lem đã xua đuổi hai ông bà Giu-se Ma-ri-a khỏi nhà trọ của họ đang khi các mục đồng nghèo hèn lại vui mừng đón nhận Tin mừng Giáng Sinh của Người. Còn chúng ta sẽ đối xử thế nào đối với người nghèo là hiện thân của Chúa Giê-su?
- Qua cách ứng xử với tha nhân mà chúng ta biết mình thuộc hạng người nào: Là chủ quán giàu có ở Be-lem khi thiếu lòng từ tâm xua đuổi người nghèo ra đường giữa đêm khuya? Hay là các mục đồng nghèo khó, sẵn sàng đón nhận Tin mừng Chúa Giáng Sinh và đi tìm kiếm Chúa ? Chúng ta sẽ làm gì để giới thiệu Chúa là Tin Mừng Cứu Độ cho tha nhân chung quanh chúng ta ?

4. LỜI CẦU:

- LẠY CHÚA GIÊ-SU, Cách đây hơn 20 thế kỷ, Chúa đã giáng sinh làm người trong âm thầm lặng lẽ giữa đêm khuya, khi người đời đang chìm trong giấc điệp. Chúa đã đến với chúng con để ban ơn cứu độ cho chúng con. Chúa đến để dạy loài người con đường lên trời là đường chật hẹp, gai chông và ít người chịu đi, nhưng lại là đường duy nhất dẫn đến sự sống đời đời. Chúa đến để nối kết mọi người trên trần gian lại với nhau, trở thành anh chị em của nhau vì cùng có chung một Cha trên trời. Hôm nay mùa Giáng Sinh lại đến: Trần gian rực sáng, cờ xí giăng đầy, người người nô nức mừng Chúa giáng sinh trong những bữa tiệc vui vẻ sang trọng, rượu thịt ê hề. Nhưng những khách lữ hành năm xưa vẫn còn đang lỡ bước và đang tiếp tục bị xua đuổi trong đêm nay, vì các chủ quán năm xưa vẫn còn đó: Những ai đi xe hơi và ăn mặc bảnh bao sẽ được chủ nhà ân cần đón tiếp, còn người nghèo khó lại bị đuổi ra lề đường !

- LẠY CHÚA. Xin cho chúng con biết luôn nhìn thấy Chúa đang hiện thân trong những người nghèo khó, những cụ già neo đơn không người chăm sóc, những trẻ em mồ côi bụi đời… để chúng con ân cần thăm hỏi và sẵn sàng khiêm nhường phục vụ họ như phục vụ chính Chúa. Nhờ đó chúng con sẽ nên môn đệ đích thực của Chúa.- AMEN.

 
Chúng ta đi tìm Con Chúa ra đời
Lm Đan Vinh
05:05 22/12/2017
LỄ GIÁNG SINH ABC
THÁNH LỄ RẠNG ĐÔNG - Lc 2,15-20

I. HỌC LỜI CHÚA

1. TIN MỪNG: Lc 2,15-20.

Khi các thiên sứ từ biệt mấy người chăn chiên để về trời, những người này bảo nhau: “Nào chúng ta sang Bê-lem, để xem sự việc đã xảy ra, như Chúa đã tỏ cho ta biết” (c. 15). Họ liền hối hả ra đi. Đến nơi, họ gặp bà Ma-ri-a, ông Giu-se cùng với Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ (c. 16). Thấy thế, họ liền kể lại điều đã được nói với họ về Hài Nhi này (c. 17). Nghe các người chăn chiên thuật chuyện, ai cũng ngạc nhiên (c. 18). Còn bà Ma-ri-a thì hàng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng (c. 19). Rồi các người chăn chiên ra về, vừa đi vừa tôn vinh ca tụng Thiên Chúa, vì mọi điều họ đã được mắt thấy tai nghe, đúng như đã được nói với họ (c. 20).

2. Ý CHÍNH:

Bài Tin Mừng lễ Rạng Đông ghi lại thái độ của các mục đồng sau khi được sứ thần hiện đến loan báo tin vui về sự ra đời của Đấng Cứu Thế. Họ đã vội vã rủ nhau lên đường đi sang Bê-lem, để coi xem sự việc xảy ra mà Chúa mới cho biết. Theo sự chỉ dẫn của sứ thần, họ đã sớm tìm thấy Hài Nhi mới sinh và hai ông bà Giu-se Ma-ri-a. Họ liền thuật lại mọi sự từ khi được sứ thần loan báo tới khi tìm thấy Hài Nhi, rồi sau đó ra về trong hân hoan.

II. SỐNG LỜI CHÚA

1. LỜI CHÚA:

“Họ liền hối hả ra đi. Đến nơi, họ gặp bà Ma-ri-a, ông Giu-se, cùng với Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ. Thấy thế, họ liền kể lại điều đã được nói với họ về Hai Nhi này” (Lc 2,16-17).

2. CÂU CHUYỆN:

1) ÔNG GIÀ NO-EN SỨ GIẢ CỦA TÌNH THƯƠNG LUÔN SỐNG MÃI :

Tháng 9 năm 1897, một bé gái 8 tuổi tên là Vir-gi-ni-a đã viết cho một tờ báo Công Giáo Hoa Kỳ để hỏi về ông già No-en. Câu hỏi của cô bé là: Ông già No-en có thật không? Hôm sau, trên mục quan điểm của tờ báo, người ta đọc được câu trả lời của ông chủ nhiệm kiêm chủ bút như sau: "Vir-gi-ni-a yêu dấu của bác. Điều trước tiên bác muốn nói với cháu là: các bạn của cháu thật là sai lầm khi bảo rằng không có ông già No-en. Các bạn của cháu đã bị tiêm nhiễm bởi trào lưu hoài nghi. Họ nghĩ rằng chỉ có thể tin được những gì họ thấy tận mắt. Họ nghĩ rằng không có gì có thể có được nếu trí khôn nhỏ bé của họ không hiểu được… Chỉ có đức tin, chỉ có tình yêu mới có thể vén mở được bức màn bí mật của thế giới của chúng ta.”

Lá thư gửi cho cô bé Vir-gi-ni-a trên đây đưa chúng ta vào trung tâm điểm của ngày Giáng Sinh: Giáng Sinh là lễ của nhi đồng, bởi vì nhân vật chính của ngày lễ là một Em Bé. Một Em Bé cũng như muôn ngìn em bé sinh ra trên cõi đời này. Em Bé đó chính là niềm vui và hy vọng cho tất cả mọi người. Cùng với Em Bé đó, tất cả các em bé đều mang lại niềm vui cho mọi người trong mùa Giáng Sinh. Bầu khí Giáng Sinh là bầu khí của nhi đồng. Từ hoa đèn, âm nhạc cho đến quà cáp, tất cả đều hướng về các em nhi đồng... Người cho đã vui mà người nhận còn vui hơn: chính các em bé là những người đã dạy cho người lớn biết vui với niềm vui ban phát. Bao lâu con người còn có thể mở cửa tâm hồn, bao lâu con người còn có thể mở rộng bàn tay để ban phát, để chia sẻ thì bấy lâu ông già No-en của hy vọng, của quảng đại, của hân hoan vẫn còn sống mãi trong tâm trí của trẻ em và không biết bao nhiêu người sầu khổ.

2) CHÚA GIÁNG TRẦN ĐEM NIỀM VUI VÀ TÌNH THƯƠNG CHO KẺ NGHÈO HÈN:

Nhật báo Le Figaro (Pháp) số ra ngày 24/12/1995 đăng lời chứng của Nữ tu Emmanuel như sau:

“Tại một khu ổ chuột ở thủ đô Cairô (Ai Cập), người ta không cử hành lễ Giáng sinh được vì quá nghèo. Tôi đến gặp Đức thượng phụ Sinođa xin Ngài cho một linh mục đến dâng lễ tại đó. Tin vui loan ra, mọi người đều hăng hái quét dọn, vài miếng vải sáng màu được giăng lên, không có đèn điện, chỉ một vài cây nến sáng. Đêm khuya, tiếng hát mừng Chúa giáng sinh đã vang lên, mọi vật trong khu ổ chuột đều thức giấc: Lũ lừa kêu be be, gà thì gáy o o, mấy chú chó sủa lên inh ỏi… Thật là một bản nhạc giao hưởng mừng Chúa Giáng Sinh vô cùng độc đáo. Vị linh mục hôm ấy đã không giảng nhiều, Ngài chỉ vắn tắt vài lời: “Nếu Chúa Giáng trần một lần nữa, chắc chắn Người sẽ sinh ra tại nơi đây để trao ban tình thương cho anh chị em, chia sẻ nỗi đau buồn nghèo đói và đồng hành với anh chị em trong khu ổ chuột này”. Lễ xong, tôi phát cho mỗi người một quả quýt và một chiếc bánh No-en nhỏ. Mọi người chúc mừng nhau rồi ra về trong niềm vui hân hoan.”
Niềm vui giáng sinh đâu có nhất thiết đòi phải có bữa tiệc linh đình trong cảnh huy hoàng giàu sang, nhưng chủ yếu đến từ những tấm lòng đơn sơ nghèo hèn, chứa đầy tình Chúa tình người.

3. SUY NIỆM:

1) LỊCH SỬ HÌNH THÀNH CỦA HANG BE-LEM MÙA GIÁNG SINH:

Trong Mùa Giáng Sinh này, chúng ta thường thấy nhiều hang đá tại nhà thờ hay tư gia. Trong hang có Hài Nhi Giê-su đang nằm trong máng cỏ, bên cạnh là Mẹ Ma-ri-a và thánh cả Giu-se quì thờ lạy. Cũng có mấy con bò và lừa đang quì gần bên thở hơi ấm cho Hài Nhi mới sinh. Việc dựng các hang đá như trên đã có từ thế kỷ thế 13. Vào năm 1223, thánh Phan-xi-cô khó khăn, lúc đó đang là bề trên một tu viện bên Ý. Ngài cho dọn một hang đá trong vườn cây ở gần Gờ-réc-xi-ô. Bên trong hang đá, ngài đặt tượng Hài Nhi Giê-su nằm trên máng cỏ, bên cạnh là một con bò và một con lừa. Vào đêm khuya hôm lễ Giáng Sinh, thánh Phan-xi-cô cùng các tu sĩ và dân chúng lân cận kéo nhau đến đứng chung quanh hang đá. Bên cạnh hang có đặt một bàn thờ, và thánh lễ đã được cử hành trang nghiêm. Từ đó, việc trưng bày hang đá tại nhà thờ và tư gia càng ngày càng phổ biến trở thành tập tục chung của cả thế giới.

2) GIÁNG SINH LÀ MẦU NHIỆM “THIÊN CHÚA Ở CÙNG CHÚNG TA”:

Vì yêu thương nhân loại và muốn ban ơn cứu độ cho loài người chúng ta mà Con Thiên Chúa đã từ trời cao xuống nhập thể làm người. Người sinh ra trong cảnh nghèo hèn tại Be-lem, sống ba mươi năm ản dật tại Na-da-rét trong thân phận một người lao động vất vả trước khi đi rao giảng Tin Mừng Nước Trời. Người đã trở thành EM-MA-NU-EN nghĩa là “Thiên Chúa ở cùng chúng ta”. Quả thật: “Con Thiên Chúa đã trở nên loài người, để làm cho con loài người trở nên Con Thiên Chúa”.

3) TỪ NHẬP THỂ VÀ GIÁNG SINH ĐẾN TỬ NẠN VÀ PHỤC SINH:

Giáng Sinh là cách Thiên Chúa bày tỏ tình thương lớn lao của Ngài đối với nhân loại chúng ta. Thiên Chúa đã sai Con Một xuống thế làm người, trở nên giống như chúng ta mọi đàng, ngoại trừ không có tội. Chúa Giê-su đã yêu thương nhân loại đến cùng, và biểu lộ tình yêu của Người bằng việc đi rao giảng Tin Mừng Nước Trời, làm nhiều phép lạ cứu nhân độ thế, lựa chọn và huấn luyện các tông đồ, lập các Bí Tích và cuối cùng chấp nhận đi con đường “Qua đau khổ vào vinh quang” theo thánh ý Chúa Cha, chấp nhận chịu chết nhục nhã trên cây thập giá để đền tội thay cho chúng ta, và sống lại để phục hồi sự sống cho chúng ta. Người đã mở ra con đường lên trời cho loài người chúng ta, là con đường yêu thương, quên mình và hiến thân phục vụ. Người mời gọi chúng ta “bỏ mình, vác thập giá mình hàng ngày mà đi theo Người”. Nếu chúng ta cùng chết với Người, chúng ta sẽ cùng sống lại với Người, và sau này sẽ được về trời hưởng hạnh phúc với Người.

4) PHẢI LÀM GÌ ĐỂ NHẬN ĐƯỢC ƠN CỨU ĐỘ CỦA CHÚA GIÊ-SU ? :

Sau khi được sứ thần loan báo tin vui, các mục đồng đã vội vã lên đường đi Bê-lem để tìm Hài Nhi Cứu Thế. Sau khi gặp Người, họ đã thuật lại những gì mắt thấy tai nghe. Trong những ngày Mùa Giáng Sinh này mỗi người chúng ta phải làm gì để loan báo Tin Mừng Đấng Cứu Thế Giáng Sinh cho các bạn bè và những người chưa nhận biết Chúa: Một sự quan tâm người bên cạnh, một nụ cười làm quen và cái bắt tay thân ái, một lời động viên và một món quà giúp đỡ người bất hạnh…

5. LỜI NGUYỆN:

LẠY CHÚA GIÊ-SU. Chúa đã ban ơn cứu độ cho trần gian. Nhưng loài người chúng con chỉ đón nhận được ơn cứu độ của Chúa nếu biết thành tâm đi tìm kiếm Chúa. Chúa luôn phát ra tín hiệu để mời gọi và không ngừng chờ mong chúng con đáp trả. Xin cho chúng con biết noi gương các mục đồng: hối hả rủ nhau sang Bê-lem để tìm Hài Nhi Cứu Thế mới sinh mà họ mới được báo tin.

LẠY CHÚA. xin cho chúng con trở thành những ông già No-en đầy lòng nhân ái, luôn sẵn sàng đến với những người bất bạnh để chia sẻ tình thương cho họ. Ước gì niềm vui trong ngày mừng Chúa Giáng Sinh không dừng lại ở những trang trí hình thức bên ngoài, nhưng ở tình người được nhân lên mãi, được nối kết thành vòng tay lớn, xây dựng một thế giới ngày một bình an thịnh vượng và đầy tràn hạnh phúc theo thánh ý Chúa.- AMEN.

 
Đức Giêsu là ánh sáng chiếu soi cho mọi người trên thế gian
Lm Đan Vinh
05:09 22/12/2017
LỄ BAN NGÀY GIÁNG SINH
Is 52,7-10; Dt 1,1-6; Ga 1,1-18

1. LỜI CHÚA:

“Ngôi Lời là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và chiếu soi mọi người… Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta. Chúng tôi đã được nhìn thấy vinh quang của Người, vinh quang mà Chúa Cha ban cho Người, là Con Một đầy tràn ân sủng và sự thật” (Ga 1,9.14).

2. CÂU CHUYỆN:

1) NGƯỜI KHÁCH CUỐI CÙNG VIẾNG THĂM HANG ĐÁ:

Sau khi đám mục đồng đến thăm viếng Hài Nhi Giê-su trở về nhà, cánh đồng Be-lem vẫn còn chìm trong bóng tối và Hài nhi Giê-su đang thiếp ngủ trong máng cỏ. Bỗng cửa hang mở ra và một bà lão xuất hiện. Bà có thân hình gầy guộc với đầu tóc bạc phơ, da mặt nhăn nheo và áo quần cũ rách. Bấy giờ Mẹ Ma-ri-a đang ngồi bên máng cỏ chăm sóc Hài Nhi Giê-su, thấy bà lão xuất hiện, mẹ đưa cặp mắt lo sợ nhìn bà lão bấy giờ đang đến gần máng cỏ nơi Hài Nhi nằm. Con trẻ Giê-su liền mở mắt ra nhìn bà lão và nhoẻn miệng cười thật tươi khiến bà lão cũng mỉm cười theo. Rôi bà lão thò tay vào túi áo lấy ra một vật đặt xuống bên Hài nhi Giê-su. Sau khi ngồi một lúc, bà đứng dậy và ra ngoài cửa hang đi về. Ra đến ngoài, như được tăng thêm sức mạnh, bà trở nên nhanh nhẹn sải bước mau và khuất sau một ngã quẹo. Bấy giờ Mẹ Ma-ri-a mới nhìn vào vật bà lão vừa để lại và kêu lên: ”Ôi, một quả táo vàng!”

Bà lão ấy không ai khác hơn là E-và, nguyên tổ của loài người khi xưa đã phạm tội ăn quả cây trái cấm và mang lại án phạt cho nhân loại. Giờ đây bà đến trao tặng Hài nhi Cứu Thê Giê-su quả táo năm xưa mang hình quả cầu nhỏ, như một lời nhắc nhở Hài Nhi về sứ mạng cứu thế của Người là phải tái tạo một “Trời Mới Đất Mới” nơi đầy tràn tình yêu, công bình và hạnh phúc của Thiên Chúa.
Hài nhi Giê-su chính là A-đam Mới, đến trần gian với sứ mạng xóa bỏ tội lỗi và giải thoát loài người khỏi bị chết, được trở nên con Thiên Chúa và được hưởng sự sống đời đời. Trong lễ Giáng Sinh hôm nay, chúng ta hân hoan vui mừng đón Đấng Cứu Thế đến mở ra một kỷ nguyên vui mừng và hy vọng, thiết lập một Nước Trời tràn đầy sự thật, ân sủng và bình an.

2) ĐÓN MỪNG CHÚA GIÁNG SINH LÀ ÁNH SÁNG CHO TRẦN GIAN:

Trong suốt 500 năm, mỗi năm cứ vào đêm Giáng Sinh, dân chúng tại một thành phố kia đều tập trung, không phải để mừng lễ Chúa Giáng Sinh, nhưng để cùng nhau đón chờ Chúa quang lâm. Trước nửa đêm, họ đốt đèn, hát thánh ca, rồi cùng nhau đi rước đến tập trung tại một giáo đường đổ nát. Tại đây, họ dựng nên một hang đá và quỳ gối cầu nguyện xin Chúa đến. Chính những ánh nến trên tay và những bài thánh ca đã có sức mạnh xua đuổi cái lạnh của đêm đông Giáng Sinh. Ngoại trừ một số ít người đau liệt ở nhà, còn hầu như mọi người trong thành đều hiện diện ở đây; Họ đều tin rằng: nếu tất cả mọi người đều thành tín cầu nguyện, thì vào lúc nửa đêm, Đức Ki-tô Giê-su sẽ tái lâm như Người đã hứa trong Tin Mừng. Nhưng rồi trong thực tế, ngày tận thế mọi người mong đợi vẫn chưa khi nào xảy ra. Khi được hỏi: “Bạn có thực sự tin rằng Đức Ki-tô sẽ trở lại vào đêm Giáng Sinh này tại thành phố của bạn không?” thì nhân vật chính của câu chuyện trả lời: “Không, tôi không tin như thế!” Rồi một câu hỏi khác lại được nêu lên: “Vậy, tại sao bạn cứ phải cùng đoàn người đến đây hằng năm vào lễ Giáng Sinh như thế?” Người nầy mỉm cười trả lời: “Tôi cần phải hiện diện mỗi năm, vì có thể các năm vừa qua Chúa Ki-tô chưa đến. Nhưng nếu như năm nay Người đến, thì chẳng lẽ tôi lại là nguời duy nhất vắng mặt ở đây hay sao ?”.

3. SUY NIỆM:

1) Vì yêu thương mà Ngôi Lời đã hóa thành người phàm và cư ngụ giữa chúng ta: Trong hang đá Be-lem, một trẻ mới sinh được đặt nằm trong máng cỏ. Qua đó Thiên Chúa đã muốn nói với chúng ta tình yêu của Ngài bằng ngôn ngữ của loài người. Vì yêu thương Thiên Chúa đã vượt khoảng cách xa ngàn trùng để đến chia sẻ kiếp người với chúng ta. Ngài thể hiện tình thương bằng việc đến cắm lều ở giữa loài người và hiến thân mạng sống vì chúng ta. Thân xác bé thơ hôm nay đang rét run trong làn gió lạnh trong hang đá Be-lem, thì mai ngày sẽ run rẩy dưới những đòn roi, và chết nhục nhã trên cây thập giá. Tất cả đều nói lên tình yêu tột đỉnh của Thiên Chúa đối với chúng ta như lời Chúa phán: Không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người đã hi sinh tính mạng vì bạn hữu của mình (Ga 15,13).

2) Ngôi Lời của Thiên Chúa là Lời ban Ơn Cứu Độ: Tình yêu của Thiên Chúa không chỉ là cảm tính nhất thời, nhưng là một chương trình dài hạn. Lời Thiên Chúa nói với loài người không phải để làm vui tai, nhưng là mang lại ơn cứu độ. Chúa xuống thế làm người chính là chấp nhận nên bé nhỏ để chúng ta được lớn mạnh, chấp nhận nên nghèo khó để chúng ta được giàu có. Chúa nhập thể làm người để chúng ta được làm con Thiên Chúa.

3) Lời của Thiên Chúa là Ánh Sáng chiếu soi vào trần gian u tối: Tội lỗi là bóng tối bao phủ khiến loài người chúng ta bị mất phương hướng, mất ý nghĩa cuộc sống. Lời Thiên Chúa đã xuống thế làm người, mặc lấy xác phàm nhân loại để làm cho cuộc đời chúng ta có ý nghĩa. Ngài đã từ trời xuống thế để mở con đường về trời cho nhân loại chúng ta. Ngài đã chiếu ánh sáng vào đêm tối trần gian để ai đi theo Người sẽ không đi trong tăm tối nhưng có ánh sáng ban sự sống đời đời.

4) Làm gì để chiếu ánh sáng của Chúa trong Mùa Giáng Sinh năm nay?:

- Ánh Sáng chiếu soi trong u tối, và u tối đã không tiếp nhận Ánh Sáng: Đã hơn 20 thế kỷ nay, Ánh Sáng của Chúa Kitô đã chiếu soi vào trần gian u tối, nhưng hiện vẫn còn biết bao người chưa nhận biết Chúa hay chưa muốn tin nhận Người là Ánh Sáng đích thực từ trời đến ban ơm cứu độ.

- Trong thế giới hôm nay, quyền lực tối tăm của ma quỷ vẫn đang hoành hành. Bao tội lỗi và thói hư vẫn đang tồn tại và gia tăng, làm băng hoại nền luân lý tốt đẹp của nhân loại. Biết bao tín hữu đã đánh mất ý thức về tội: Họ coi việc phá thai, ly hôn, làm hôn thú giả, kết hôn giả… là những việc bình thường mà họ có quyền làm khi cần để đạt được mục đích, không cần biết các việc đó có phù hợp với giới răn của Chúa và lề luật Hội Thánh không ?

- Mỗi người chúng ta cần ý thức về tình thương cứu độ của Thiên Chúa: Thánh Nữ Tê-rê-sa Hài Đồng Giê-su đã nói: "Tất cả đều là Hồng Ân”. Hôm nay Hội Thánh cũng mời gọi các tín hữu chúng ta hãy ý thức về hồng ân của Thiên Chúa là đức tin vào Chúa Giê-su để đón nhân ơn cứu độ. Rồi còn phải chia sẻ đức tin ấy cho những người thân quen chưa nhận biết Chúa nữa.

- Chia sẻ đức tin bằng việc làm bác ái là chiếu sáng tình thương của Chúa cho tha nhân bên cạnh: Mỗi người hãy tự hỏi mình: Trong lễ Giáng Sinh năm nay, tôi đã chia sẻ niềm vui Giáng Sinh được cho những ai ? Ngoài gia đình và bạn bè, tôi đã trao tặng được món quà nào cho những người bệnh tật, đau khổ và bất hạnh là hiện thân của Chúa hay không ?

4. LỜI CẦU:

- Lạy Chúa Giê-su Hài Đồng. Giữa giá lạnh của mùa đông khắc nghiệt, xin cho con biết đi tìm Chúa đang ở trong những anh chị em nghèo khó không nhà, không cơm ăn áo mặc, phải ở nơi đầu đường xó chợ… để chia sẻ tình thương là sự quan tâm giúp đỡ họ.

- Lạy Chúa Giêsu. Xin cho con biết đón nhận tình thương của Chúa khi gặp những điều may lành như ý và cả khi gặp phải những điều trái ý cực lòng. Để con sẵn sàng cảm thông với những người nghèo khổ là hiện thân của Chúa bị bỏ rơi trên cây thập giá năm xưa, hầu con sẵn sàng thực thi ý Chúa Cha như Chúa đã cầu nguyện: "Lạy Cha, nếu có thể được, thì xin cho Con khỏi uống chén nầy. Nhưng xin đừng theo ý riêng Con, một xin vâng theo Thánh Ý Cha" (Lc 22,41).- AMEN.


 
Suy Niệm Lễ Đêm Giáng Sinh 2017
Lm. Anthony Trung Thành
20:01 22/12/2017
Tình cờ tôi đọc được câu chuyện hết sức cảm động về tình Cha trên Internet. Câu chuyện được kể lại như sau: Cha mẹ nó lớn tuổi mới cưới nhau. Hồi đó gia đình nghèo khó. Mẹ mất sớm, cha tần tảo nuôi 3 anh em nó nên người. Nhà gần sông, nhưng cha đau yếu, ít khi có được con cá mà ăn. Bữa nào có cá là thịnh soạn lắm với anh em nó rồi.

Mỗi lúc ăn cá, cha thường bảo: “Để tao ăn đầu và xương”.

Nó nhanh nhẩu: “Tại sao hả cha?”

Cha nó nói vẻ mặt nghiêm nghị: “Vì cha già rồi, hay đau đầu, nên ăn đầu thì nó sẽ bớt đau – cái này gọi là ăn óc bổ óc, hiểu không? Xương yếu, ăn xương thì sẽ cứng cáp hơn. Có vậy mà cũng không hiểu hả?”

Nó và hai đứa em đinh ninh là cha nói thật. Đến bữa nó nhanh nhẩu xẻ đầu và xương cho cha, ba anh em tranh nhau phần thịt.

Anh em nó lớn lên, có thể thay cha đi đò, đi sông, mò cua, thả cá, đời sống gia đình nó khấm khá hơn. Chúng đã hiểu và đủ nhận ra cha “nói dối” chuyện ăn đầu và xương cá. Vì thế mà cha nó đã được ăn thịt cá.

Bây giờ nó đã thành đạt, vợ đẹp, con ngoan. Dù cuộc sống hối hả, nhưng nó chẳng bao giờ phải “thích” ăn cái đầu hay miếng xương cá, vì vợ nó bỏ đi, chỉ mang phần thịt lên mâm cơm.

Hôm nay là ngày giỗ lần thứ 10 của cha nó. Nhìn di ảnh ba gầy còm, nở một nụ cười tươi sáng. Nhìn con cá chiên to đùng, vàng tươm mỡ vợ đặt lên bàn thờ, nó chợt bất giác rơi lệ. Một cơn đau từ đâu hiện về nhói lòng vô tận.

Nó phải giấu vợ con, quay mặt lau nước mắt. Nhưng nó không thể xóa đi được hình dáng cha già còm cõi, xiêu vẹo bước đi bên sông. Cha đi thả cá mùa nước nổi, rồi sau đó là những trận thương hàn triền miên hành hạ ông. Nó không thể xóa đi được cái ý nghĩ “nếu cha ăn nhiều thịt hơn, thì đã không già yếu như thế”.

Vừa khấn vái, nó lại bất giác kêu lên những tiếng “cha” từ trong cổ họng.

Đến lúc ra bàn ăn. Nhìn vợ đang xẻ thịt con cá, để bỏ đi phần đầu và xương. Nó giữ tay vợ lại: “Em, để anh ăn đầu, đừng bỏ đi”.

Vợ hiểu, nên bỏ đầu cá qua cho chồng. Chỉ có cô con gái nhỏ là thắc mắc “Sao hôm nay ba lại ăn đầu, nó lắm xương, nó sẽ làm đau ba đấy”.

Nó xoa đầu con gái, nuốt tiếng nấc đang chầu chực nơi cổ họng vào trong, bảo “Dạo này ba hay đau đầu, nên ăn đầu sẽ hết đau con gái à, cái này gọi là ăn đầu bổ đầu đấy con yêu”.

Nó vừa ăn, vừa cố cho những giọt nước mắt không tràn xuống bát cơm.

Là người con trong gia đình, nghe câu chuyện trên không ai mà không mủi lòng, thương cho người cha đã hy sinh hết mình vì con cái. Câu chuyện cũng diễn tả được cảm nhận của người con về tình thương của người cha đối với mình, cho dù sự cảm nhận đó có vẻ hơi muộn màng.

Hôm nay, toàn thể thế giới đang long trọng mừng lễ Giáng sinh, kỷ niệm sinh nhật lần thứ 2017 của Đức Giêsu, Con Thiên Chúa Giáng sinh làm người. Mầu nhiệm giáng sinh diễn tả tình yêu thương của Đức Giêsu đối với loài người. Tình thương và sự hy sinh của người cha trong câu chuyện trên phần nào phản ảnh tình thương và sự hy sinh của Đức Giêsu đối với loài người chúng ta. Đúng như lời trong Kinh Tin Kính, chúng ta tuyên xưng: “vì loài người chúng ta và để cứu rỗi chúng ta, Người đã từ trời xuống thế.” Thánh Phaolô cũng diễn tả sự hy sinh đó trong thư Philipphê rằng: “Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự.” (Pl 2,6-8).

Như vậy, khi chấp nhận làm người, Đức Giêsu chấp nhận những gì thuộc về con người: sinh, bệnh, lão, tử (ngoại trừ tội lỗi). Ngài được cưu mang trong cung lòng Đức Trinh Nữ Maria, sinh ra trong đêm đông lạnh lẽo, thiếu thốn. Tin mừng cho biết: “Bà sinh con trai đầu lòng, lấy tã bọc con, rồi đặt nằm trong máng cỏ, vì hai ông bà không tìm được chỗ trong nhà trọ.” (Lc 2, 7). Tiếp đó, Ngài được đặt tên, được cắt bì theo tục lệ Do Thái, được hai ông bà dâng trong đền thánh, phải lánh nạn sang Aicập vì bị vua Hêrôđê lùng bắt, làm thợ mộc và các công việc khác để phụ giúp Đức Mẹ và Thánh Giuse. Sau 30 năm đời sống ẩn dật, Ngài bắt đầu ra đi rao giảng Tin mừng, được dân chúng ủng hộ vì lời giảng dạy của Ngài có uy quyền, và vì đi liền với lời giảng dạy Ngài còn làm nhiều phép lạ. Các phép lạ Ngài làm đều phát xuất từ tình yêu thương: cho kẻ đói ăn, kẻ què đi được, người mù xem thấy, kẻ điếc được nghe, kẻ chết sống lại…Nhưng cũng có rất nhiều kẻ chống đối Ngài. Đa số những kẻ chống đối đó đến từ nhóm Luật sĩ và Biệt phái. Vì sự chống đối này, nên cuối cùng Ngài đã bị bắt, chịu các nhục hình, vác thập giá, chịu đóng đinh và chết tất tưởi trên thập giá. Trước khi về trời, Ngài đã thiết lập Giáo hội, thiết lập các Bí tích để ở lại với loài người. Không thể kể hết những gì Ngài đã dành cho chúng ta, đã hy sinh vì chúng ta. Tất cả những gì Ngài làm, Ngài chịu là “vì loài người chúng ta và để cứu độ chúng ta”. Đúng như lời Thiên thần loan báo trong Tin mừng hôm nay: “Đấng Cứu Thế sinh ra cho chúng ta.” (x. Lc 2,11). Đó cũng là tâm tình của Bài đọc 1, trích sách Sứ ngôn Isaia hôm nay: “Dân đang lần bước giữa tối tăm

đã thấy một ánh sáng huy hoàng; đám người sống trong vùng bóng tối, nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi…Vì một trẻ thơ đã chào đời để cứu ta, một người con đã được ban tặng cho ta.” (Is 9,1.5).

Trở lại câu chuyện trên đây chúng ta thấy, những đứa con khi lớn lên mới hiểu hết những gì mà người cha dành cho mình, hy sinh cho anh em mình, nên đã thương cha hơn, làm hết sức mình để bù đắp cho người cha. Nhưng khi đã trưởng thành, cuộc sống có điều kiện hơn một chút thì người cha lại không còn trên cõi đời này nữa.

Còn chúng ta thì sao? Đứng trước tình thương và sự hy sinh vô bờ bến của Đức Giêsu, chúng ta phải làm gì?

Chúng ta phải yêu mến Ngài, vì “Tình yêu đáp lại tình yêu”. Nhưng phải yêu mến Ngài như thế nào? Chúng ta phải yêu mến Ngài hết lòng, hết sức, trên hết mọi sự. Nghĩa là phải luôn đặt Chúa lên trên hết: Trên cha mẹ, trên của cải, trên chức quyền danh vọng và mọi thứ ở trần gian này. Yêu mến Chúa là phải tuân giữ các giới răn của Ngài. Đức Giêsu đã nói: “Ai yêu mến Thầy thì hãy giữ lời Thầy.”(Ga 14,21). Yêu mến Chúa là phải từ bỏ tội lỗi. Trong bài đọc II hôm nay, Thánh Phaolô khuyên rằng : Ân sủng của Thiên Chúa dạy chúng ta phải từ bỏ lối sống vô luân và những đam mê trần tục, mà sống chừng mực, công chính và đạo đức ở thế gian này (x. Tt 2,12).

Yêu mến Chúa, chúng ta cũng phải yêu thương tha nhân. Thánh Gioan Tông đồ nói: “Nếu ai nói: 'Tôi yêu mến Thiên Chúa' mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy” (1 Ga 4,20). Nhưng yêu thương tha nhân như thế nào?

Đức Khổng Tử nói: “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” (điều mình không muốn, thì cũng đừng làm cho người khác). Chắc chắn không ai trong chúng ta muốn người khác nói xấu, vu khống, bỏ vạ, cáo gian hay làm hại mình…thì chúng ta cũng đừng làm những điều đó cho tha nhân. Trong xã hội chúng ta đang sống, người ta thường dùng bạo lực để giải quyết vấn đề. Hằng ngày có biết bao nhiêu câu chuyện đau lòng liên quan đến bạo lực xảy ra đây đó trên đất nước chúng ta. Chẳng hạn: bà giết cháu, cha giết con, vợ giết chồng, bảo mẫu hành hạ trẻ em…Đó là những cách hành xử thiếu vắng tình thương. Là người kitô hữu, là con cái của Chúa, chúng ta không được làm như thế với tha nhân. Trái lại, chúng ta phải lấy tình thương đáp lại tình thương, lấy tình thương đáp lại hận thù. Thánh Phanxicô Assisi dạy chúng ta: “Đem yêu thương vào nơi oán thù. Ðem thứ tha vào nơi lăng nhục. Ðem an hoà vào nơi tranh chấp. Ðem chân lý vào chốn lỗi lầm.”

Kinh Thánh dạy: Điều mình muốn người khác làm cho mình thì cũng hãy làm cho người khác (x. Mt 7,12). Chắc chắn chúng ta luôn muốn điều tốt, điều lành, may mắn, hạnh phúc…đến với mình thì cũng hãy làm những điều đó cho tha nhân. Có lẽ cách tốt nhất là chúng ta thực hành lời dạy của Kinh Thương Người Có Mười Bốn Mối: cho kẻ đói ăn; cho kẻ khát uống; cho kẻ rách rưới ăn mặc; viếng kẻ liệt cùng kẻ tù rạc; cho khách đỗ nhà; chuộc kẻ làm tôi; chôn xác kẻ chết; lấy lời lành mà khuyên người; mở dậy kẻ mê muội; yên ủi kẻ âu lo; răn bảo kẻ có tội; tha kẻ dể ta; nhịn kẻ mất lòng ta; cầu cho kẻ sống và kẻ chết.

Nếu chúng ta làm được như vậy, chắc chắn chúng ta sẽ kéo dài tình thương của đêm Noel đến với mọi người. Nguyện xin Chúa Hài Đồng Giêsu giúp nhân loại hôm nay nhận biết và yêu mến Thiên Chúa và biết sống yêu thương nhau hơn. Amen.

Lm. Anthony Trung Thành
 
Tin Giáo Hội Hoàn Vũ
Thánh lễ an táng Đức Hồng Y Bernard Law, một ân nhân của người tị nạn Việt Nam
Đặng Tự Do
16:46 22/12/2017
Đức Hồng Y Angelo Sodano, niên trưởng Hồng Y Đoàn, đã cử hành thánh lễ an táng cho Đức Hồng Y Bernard Law, một trong những đại ân nhân của người tị nạn Việt Nam, tại Bàn Thờ Ngai Tòa Thánh Phêrô bên trong Đền Thờ Thánh Phêrô hôm thứ Năm 21 tháng 12.

Trong bài giảng của mình, Đức Hồng Y Sodano nói: “Thật không may, mỗi người trong chúng ta đôi khi có thể không trung thành với sứ mệnh của mình. Đó là lý do tại sao, vào đầu mỗi Thánh Lễ, chúng ta đọc “Kinh Cáo Mình”, với lời cầu nguyện bắt đầu như sau: “Tôi thú nhận cùng Thiên Chúa toàn năng và cùng anh chị em, tôi đã phạm tội nhiều.”

Đức Hồng Y Law đã qua đời tại một bệnh viện ở Rôma vào sáng Thứ Tư 20 tháng 12.

Đức Thánh Cha Phanxicô, như thông lệ đối với các thánh lễ an táng của các vị Hồng Y qua đời ở Rôma, đã đến vào cuối Thánh lễ để chủ sự nghi thức Phó Dâng và Tiễn Biệt (Commendatio and Valedictio). Trong nghi thức tang lễ Công Giáo, nghi thức Phó Dâng và Tiễn Biệt cuối cùng là những lời cầu nguyện chính thức ủy thác người đã chết cho lòng thương xót của Thiên Chúa.

Đức Giáo Hoàng đọc những lời cầu nguyện bằng tiếng Latinh, rảy nước thánh và xông hương trên chiếc quan tài của Đức Hồng Y. Nhưng ngài không đưa ra nhận xét gì về Đức Hồng Y hay cuộc đời của người quá cố.

Trong bài giảng của mình, Đức Hồng Y Sodano đã nói với một nhóm nhỏ chừng 200-250 người tháp tùng trong những giờ phút sau cùng rằng Đức Hồng Y Bernard Law đã cống hiến cuộc sống của mình cho Giáo Hội với 56 năm phục vụ như là một linh mục, giám mục và Hồng Y của tổng giáo phận Boston trước khi được bổ nhiệm làm Giám Quản Đền Thờ Đức Bà Cả ở Rôma.

Đức Hồng Y Sodano nói: “Chính ở đây, ở Rôma, ngài nhắm mắt trước thế giới này để lại mở mắt ra trong ánh sáng vĩnh hằng.”

Có 30 Hồng Y hiện diện tại lễ tang, bao gồm các Hồng Y Hoa Kỳ là Raymond Burke, Edwin O'Brien, James Harvey và Kevin Farrell.

Đức Hồng Y Pietro Parolin, Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh, và người tiền nhiệm của ngài, là Đức Hồng Y Tarcisio Bertone, cũng hiện diện trong thánh lễ.

Bà Callista Gingrich, tân đại sứ Hoa Kỳ, là người sẽ trình quốc thư lên Đức Giáo Hoàng Phanxicô trong vai trò đại sứ Mỹ tại Toà Thánh vào sáng thứ Sáu 22 tháng 12, và chồng bà, là cựu Chủ tịch Hạ viện Newt Gingrich, cũng tham dự tang lễ.

Đức Hồng Y Sean O'Malley, người kế nhiệm Đức Hồng Y Law ở Boston, nói trong một tuyên bố hôm thứ Năm: “Theo truyền thống Công Giáo, Thánh lễ an táng người Kitô hữu là thời điểm chúng ta nhận ra sự mỏng dòn của chúng ta, khi chúng ta thừa nhận rằng tất cả chúng ta cố gắng để được nên thánh trong một cuộc hành trình có thể được đánh dấu bởi những thất bại lớn nhỏ.”

Đức Hồng Y sẽ được chôn cất dưới tầng hầm Đền Thờ Đức Bà Cả ở Rôma, nơi ngài đã làm Giám Quản từ năm 2004 đến năm 2011.

Đám tang của Đức Hồng Y Law đã làm bùng lên những phản ứng tiêu cực của giới truyền thông. Đó là dịp để khơi lại những cáo buộc cho rằng ngài đã che đậy cho các linh mục lạm dụng tình dục tại tổng giáo phận Boston. Có thể Đức Hồng Y đã mắc những sai lầm trong cách thức đương đầu với những tai tiếng trầm trọng. Tuy nhiên, đối với người Việt Nam, ngài vẫn là một vị đại ân nhân.

Thật vậy, năm 1975, giữa làn sóng người Việt tị nạn đặt chân tới Hoa Kỳ, Ðức Giám Mục Law đã giúp định cư cho tất cả 166 Tu Sĩ và Chủng Sinh Dòng Ðồng Công. Thấu hiểu hoàn cảnh của Giáo Hội Việt Nam, vào năm 1991, Ðức Hồng Y Law đã viếng thăm Việt Nam và tại Hà Nội Ngài đã gặp Ðức Cố Hồng Y Phanxicô Nguyễn Văn Thuận.

Ngài cũng từng tham dự và đi kiệu cùng với khoảng 60, 000 giáo dân Việt Nam tại Ðại Hội Thánh Mẫu Dòng Ðồng Công vào năm 2002. Để nâng đỡ Giáo Hội Việt Nam trong hoàn cảnh bị thử thách, sau biến cố Tòa Khâm Sứ, ngày 22 tháng 11 năm 2009, Đức Hồng Y Bernerd Law đã tới Nhà Thờ Chính Tòa Hà Nội để đồng tế với Đức Tổng Giám Mục Giuse Ngô Quang Kiệt.
 
Hội Đồng Thần Học bộ Tuyên Thánh công nhận một phép lạ do lời cầu bầu của Chân Phước Giáo Hoàng Phaolô Đệ Lục
Đặng Tự Do
17:18 22/12/2017
Đức Giáo Hoàng Phaolô Đệ Lục, được Đức Thánh Cha Phêrô Phanxicô tuyên chân phước vào năm 2014, có nhiều hy vọng sẽ được tuyên thánh trong năm 2018.

Trong một bài báo có tựa đề “Năm của Thánh Phaolô Đệ Lục”, tạp chí hàng tuần của giáo phận Brescia, là tờ La voce del popolo, viết rằng vào ngày 13 tháng 12, các nhà thần học thuộc Bộ Tuyên Thánh Vatican đã công nhận một phép lạ do sự cầu bầu của Đức Giáo Hoàng Montini, sau khi Hội Đồng Tư Vấn Y Khoa của Bộ Tuyên Thánh xác nhận là phép lạ. Tại thời điểm này, nếu được các Hồng Y trong Bộ Tuyên Thánh, và Đức Giáo Hoàng đồng thuận Đức Giáo Hoàng Phaolô Đệ Lục sẽ được tuyên thánh.

Phép lạ liên quan đến sự chào đời của một bé gái tại thành phố Verona tên là Amanda. Năm 2014, thai nhi đã sống sót trong nhiều tháng mặc dù thực tế là nhau thai đã bị bể.

Đức Thánh Cha Phanxicô đã tuyên chân phước cho vị tiền nhiệm của mình vào ngày 19 tháng 10 năm 2014, khi kết thúc Thượng Hội Đồng Giám Mục Ngoại Thường về Gia đình.

Nhật báo của giáo phận Brescia viết “Những tin đồn nhất quán và những diễn biến nhanh chóng cho chúng ta thấy rằng năm 2018 chắc chắn sẽ là năm tuyên thánh cho Đức Giáo Hoàng Phaolô Đệ Lục”. Tất cả các thủ tục chính thức cuối cùng đã diễn ra vào ngày 13 tháng 12 tại ủy ban thần học. Phép lạ được cho là do lời cầu bầu của Đức Giáo Hoàng Montini về việc chữa lành một bào thai vào năm 2014 đã được chấp thuận. Một người mẹ ở Verona đang mang thai đến tuần thứ 26 thì nhau thai bị rách, có nguy cơ sảy thai, đã đến đền thánh “delle Grazie” để cầu nguyện cùng vị Giáo Hoàng vừa được tuyên Chân Phước vài ngày trước đó.

Sau đó, vào ngày 25 tháng 12 năm 2014, một bé gái sức khoẻ tốt đã được chào đời mặc dù các bác sĩ đã hoàn toàn bó tay vì nhau thai đã bị rách bể.

Tờ La voce del popolo kỳ vọng rằng Chân Phước Giáo Hoàng Phaolô Đệ Lục có thể sẽ được tuyên thánh vào tháng Mười năm 2018 khi xảy ra Thượng Hội Đồng Giám Mục về Thanh Niên từ ngày 3 đến 28 tháng 10.
 
Đức Thánh Cha gởi tặng các tù nhân 350 chiếc bánh Panettoni mừng Giáng Sinh
Đặng Tự Do
17:43 22/12/2017
Tờ Quan Sát Viên Rôma số ra ngày thứ Sáu 22 tháng 12 cho biết Đức Thánh Cha Phanxicô đã gởi tặng cho các tù nhân trong trại tù Rebibbia 350 chiếc bánh Panettoni để mừng Giáng Sinh.

Bánh Panettoni là một loại bánh truyền thống người Ý thường ăn trong các dịp lễ lớn. Loại bánh này không chỉ được ưa chuông tại Ý mà còn rất phổ biến cả ở các cộng đồng người Ý ở hải ngoại.

Nhà tù Rebibbia ở vùng ngoại ô nằm ở phía Đông Bắc Rôma đã được Đức Thánh Cha Phanxicô đến thăm và dâng lễ vào ngày Thứ Năm Tuần Thánh 2 tháng Tư 2015. Khi cử hành Thánh Lễ Tiệc Ly tại nhà nguyện “Padre Nostro” trong khuôn viên nhà tù, Đức Thánh Cha đã rửa chân cho một số nam tù nhân trong trại Rebibbia và cả một số nữ tù nhân đến từ một nhà tù phụ nữ gần đó.

Trước đó, vào Chúa Nhật thứ IV Mùa Vọng 18 tháng 12 năm 2011, Đức Thánh Cha Bênêđíctô thứ 16 cũng đã viếng thăm nhà tù Rebibbia. Chuyến viếng thăm của Đức Thánh Cha Bênêđíctô thứ 16 là một cuộc gặp gỡ rất xúc động. Ngài ân cần trò chuyện với các phạm nhân trong thời điểm gần Giáng Sinh khi họ cảm thấy nhớ nhà, bị bỏ rơi, xã hội không ai quan tâm đến họ.
 
Đức Phanxicô nói chuyện với nhân viên và giáo triều Rôma
Vũ Văn An
21:25 22/12/2017
Theo Religion News Service, năm 2014, đầu triều đại Đức Phanxicô, Vatican có khoảng 3,500 nhân viên và khoảng 1,100 Hồng Y, giám mục, linh mục, tu sĩ nam nữ giữ các chức vụ có tính quyết định. Hai lớp người này, dù đều thuộc lực lượng lao động của Vatican, nhưng thường được đối xử khác nhau: nhân viên và giáo triều. Chính vì thế, các bản tin chính thức từ Vatican tường trình hai buổi yết kiến khác nhau dành cho hai lớp người khác nhau này cùng vào ngày 21 tháng 12 vừa qua.

Việc làm, gia đình

Trước nhất là buổi gặp gỡ các nhân viên và gia đình của họ. Hãng tin Zenit nhận định rằng trong buổi gặp gỡ này, Đức Phanxicô tỏ ra là một ông chủ bình dân. Ít nhất thì đó là cảm tưởng của bất cứ ai chứng kiến đám đông nhân viên và gia đình hân hoan tụ tập tại Đại Sảnh Đường Phaolô VI ở Vatican để nghe ông xếp của họ chúc mừng lễ Giáng Sinh 2017.

Ngài cám ơn các nhân viên và gia đình họ vì việc họ làm, đôi khi rất khó khăn. Theo ngài, không có họ, “chiếc xe lửa” Vatican không tài nào chạy được. Chiếc xe lửa này “nặng lắm, lớn lắm, nhiều vấn đề lắm, nhiều chuyện lắm”. Mà chiếc xe lửa này không chạy, thì “công việc của Giáo Hội sẽ không xuông xẻ”, những công việc như "rao giảng Tin Mừng, giúp rất nhiều người, người bịnh, trường học, rất nhiều việc”.

Nói đến việc làm, ngài nhấn mạnh 2 điều: 1) “không ai bị bỏ đó mà không có việc làm”, việc làm đàng hoàng chứ không tạm bợ gì cả, một hình thức ngài coi là “bất hợp pháp”, trái với Học Thuyết Xã Hội của Giáo Hội. 2) Việc làm là đường nên thánh, đường hạnh phúc, đường phát triển vì việc làm đem lại phẩm giá.

Rồi ngài nói tới gia đình. Ngài nói khi ngài biết 1 gia đình lâm khủng hoảng, con cái rầu rĩ vì khủng hoảng, ngài rất đau khổ. Và ngài khẩn khoản “xin anh chị em cứu lấy gia đình”. Không dễ vì rất nhiều vấn đề: nhân cách, tâm lý, nhiều lắm. “Tuy nhiên, anh chị em hãy cố gắng xin được giúp đỡ kịp thời, để gìn giữ gia đình. Tôi biết trong số anh chị em, có một số ly thân; tôi biết thế và tôi đau khổ, tôi đau khổ với anh chị em… đời sống đã ra như thế”.

Nghĩ tới con cái các gia đình đó, ngài khẩn khoản “Nếu có điều gì xẩy ra, ít nhất anh chị em đừng để con cái phải đau khổ, vì khi cha mẹ cãi nhau, con cái đau khổ, chúng rất đau khổ. Và tôi khuyên anh chị em: đừng bao giờ cãi nhau trước mặt con cái, đừng bao giờ”.

Đức Phanxicô còn thêm điều thứ ba là ngồi lê đôi mách (gossip), vì nó với khủng bố, rất tai hại; điều thứ tư là tha thứ: ai cũng nên xin được tha thứ, chính ngài cũng vậy, đôi khi, cũng mất kiên nhẫn, bình tĩnh (tiếng Anh: “I fly off the handle”).

Và dĩ nhiên điều thứ năm: Chúc Lễ Giáng Sinh Hạnh Phúc, những người ngài gọi là “hợp tác viên” của ngài.

Những người phản bội

Gặp các nhân viên cấp cao, những người nắm giữ các địa vị then chốt trong guồng máy hành chánh của Tòa Thánh, tức Giáo Triều Rôma, giọng điệu của Đức Phanxicô có thay đổi, nghe nghiêm nghị hơn, thậm chí, có người chỉ lưu tâm tới những điều ngài “mắng mỏ”. Như hãng tin Zenit chẳng hạn chạy hàng tít “Đức Giáo Hoàng Phanxicô chỉ trích các viên chức Vatican chống lại các chương trình cải tổ của ngài ngày 21 tháng 12, trong thông điệp Giáng Sinh với Giáo Triều Rôma”.

Thực ra, đây không phải là lần đầu tiên, ngài làm thế. Từ năm 2014, nhân dịp Giáng Sinh, ngài đã liệt kê “các thứ bệnh thiêng liêng” của Giáo Triều rồi. Năm 2016, cũng nhân dịp này, ngài tấn công các đối kháng “ma quái” chống lại kế hoạch cải tổ của ngài.

Năm nay, ngài phê phán “những người phản bội” trong Giáo Triều Rôma và “não trạng bất quân bình và hạ cấp đầy mưu mô và bè phái”. Theo ngài, một số giới chức Vatican “khi bị âm thầm cho ra rìa, đã lầm lẫn tự tuyên bố mình là người tử vì đạo của hệ thống” thay vì nhìn nhận sự sai phạm của mình.

Lại có những người còn ở lại, nhưng chỉ lo thăng tiến bản thân, chứ không lo quay về với cam kết, trung thành, khả năng, tận tụy và thánh thiện, như phần đông các nhân viên Giáo Triều khác.

Có người cho rằng khi nói đến những người tự coi mình là tử đạo, Đức Phanxicô có ý ám chỉ Đức Hồng Y Gerhard Müller, nguyên tổng trưởng Giáo Lý Đức Tin, và cả hai ông Libero Milone, nguyên tổng thanh lý viên, và Guilio Mattietti, nguyên phó giám đốc Ngân Hàng Vatican.

Thực ra, mục tiêu của ngài không hẳn thế mà chỉ là để nhấn mạnh tới sự khó khăn của cuộc cải tổ, một sự khó khăn rất đúng như mô tả của vị giáo phẩm Bỉ thế kỷ 19, Đức Tổng Giám Mục Xavier de Mérode: “cải tổ Rôma giống như làm sạch tượng Sphinx của Ai Cập bằng chiếc bàn chải đánh răng”.

Chấp nhận quan điểm từ bên ngoài

Muốn cuộc cải tổ thành công, Đức Phanxicô khuyên Giáo Triều chấp nhận quan điểm từ bên ngoài. Bên ngoài đây là các quốc gia, các Giáo Hội đặc thù, các Giáo Hội Đông Phương, cuộc đối thoại đại kết, với Do Thái Giáo, với Hồi Giáo, và các tôn giáo khác, nói tóm lại “với thế giới bên ngoài”.

Với các quốc gia, Đức Phanxicô nhấn mạnh tới việc “xây dựng những cây cầu, nền hòa bình, và đối thoại”, sẵn sàng “mở rộng vòng tay, mở rộng cánh cửa, tìm cách lắng nghe, hiểu, giúp đỡ, hỗ trợ và can thiệp nhanh chóng và tôn kính trong mọi hoàn cảnh để rút ngắn khoảng cách và xây dựng lòng tin”. Theo ngài, các nhân viên ngoại giao vừa là nhà ngoại giao vừa là các mục tử, phục vụ cả các giáo hội đặc thù và các quốc gia nơi họ làm việc.

Về các giáo hội đặc thù, Đức Phanxicô cho rằng Giáo Triều Rôma không chỉ lấy Giám Mục Rôma làm điểm qui chiếu mà cả các giáo hội đặc thù và các mục tử của họ khắp thế giới nữa. Ngài ví nhân viên Giáo Triều như những ăng-ten, biết gửi đi và thu nhận: gửi đi ý muốn của Đức Giáo Hoàng và các Bề Trên một cách trung thành; thu nhận “các khát mong, vấn đề, yêu cầu, niềm vui và nỗi buồn của các giáo hội và thế giới, và chuyển về cho Giám Mục Rôma”. Ngài nhấn mạnh tới các cuộc thăm viếng Ad Limina của các giám mục: không chú trọng hình thức lễ nghi cho bằng đối thoại. Và cách riêng, sẵn sàng chào đón Phiên Họp Toàn Thể lần thứ 15 sắp tới của Thượng Hội Đồng Giám Mục về chủ đề “Người Trẻ, Đức Tin và Biện Phân Ơn Gọi”.

Về các Giáo Hội Đông Phương, Đức Phanxicô cho rằng mối liên hệ với các giáo hội này là “một phong phú hóa thiêng liêng và phụng vụ hỗ tương. Thực vậy, Giáo Hội Rôma sẽ không Công Giáo thực sự nếu không có sự phong phú vô giá của các Giáo Hội Đông Phương”. Duy trì sự hợp nhất với họ là điều tối thiết.

Việc hợp nhất với các giáo hội Kitô giáo khác cũng thế, cần phải “bước đi với nhau, để nhớ rằng khi ta cùng bước đi với nhau, nghĩa là khi ta gặp nhau như anh chị em, khi ta cầu nguyện với nhau, khi ta hợp tác với nhau trong việc công bố Tin Mừng, và khi phục vụ những người bé nhỏ nhất, là chúng ta đã hợp nhất với nhau rồi”, mọi dị biệt về thần học và giáo hội học sẽ được vượt qua trên nẻo đường này. Giáo Triều phải cổ vũ các cuộc bước đi chung này.

Riêng với Do Thái Giáo , Hồi Giáo và các tôn giáo khác, cuộc đối thoại phải dựa vào nguyên tắc: tôn trọng bản sắc ta và bản sắc người khác, can đảm chấp nhận dị biệt, và sự thành thật trong ý hướng.

Kết luận, Đức Phanxicô nhấn mạnh đến nét biện chứng của đức tin: “một đức tin không làm ta bối rối là một đức tin bị bối rối. Một đức tin không làm ta lớn lên là một đức tin cần lớn lên. Một đức tin không nêu vấn đề là một đức tin cần được đặt vấn đề. Một đức tin không khuấy động ta là một đức tin cần được khuấy động. Một đức tin không lay chuyển ta là một đức tin cần được lay chuyển. Thực vậy, một đức tin chỉ có tính tri thức hay hâm hấp chỉ là một ý niệm về đức tin. Nó chỉ trở nên có thực chất khi nó đụng tới trái tim ta, linh hồn ta, tinh thần ta và trọn hữu thể ta. Khi nó để Thiên Chúa sinh ra và tái sinh trong máng cỏ lòng ta. Khi ta để Ngôi Sao Bêlem dẫn ta tới nơi Con Thiên Chúa nằm, không phải nơi của vua chúa và giầu sang, mà là nơi của người nghèo và người khiêm hạ”.
 
Đức Hồng Y Maradiaga phản bác các cáo buộc tội tham ô
J.B. Đặng Minh An dịch
21:38 22/12/2017
Trong những ngày trước lễ Giáng Sinh, thế giới Công Giáo xao xuyến trước những cáo buộc từ tờ L'Espresso cho rằng Đức Hồng Y Oscar Andrés Rodriguez Maradiaga tham ô lên đến hàng triệu Mỹ Kim. Ngài thuộc dòng Salêsiêng, là Tổng Giám Mục Tegucigalpa, là nhà lãnh đạo Công Giáo cao cấp nhất của Honduras. Đức Hồng Y là một người bạn thân của Đức Thánh Cha Phanxicô, là Điều Hợp Viên của nhóm 9 vị Hồng Y cố vấn cho Đức Thánh Cha. Ngài là Chủ Tịch Caritas thế giới và từng là chủ tịch Liên Hội Đồng Giám Mục Mỹ Châu Latinh từ năm 1995 đến 1999 cũng như đã từng là phát ngôn viên Tòa Thánh trước Qũy Tiền Tệ Thế Giới và Ngân Hàng Thế Giới. Với những chức vụ quan trọng như trên, giới truyền thông thường gọi ngài là “vice pope” (phó Giáo Hoàng).

Tờ L'Espresso, hôm thứ Năm 21 tháng 12, cáo buộc rằng tuy là một nhà hùng biện đấu tranh cho người nghèo, mỗi năm Đức Hồng Y nhận từ Đại học Công Giáo Honduras 600,000 Mỹ Kim; và đã làm thiệt hại 1.2 triệu Mỹ Kim tiền của Giáo Hội khi đầu tư vào thị trường chứng khoán London.

Trước những cáo buộc nghiêm trọng này, Đức Hồng Y đã nhanh chóng dành cho Catholic News Agency (CNA) một bài phỏng vấn qua email. Dưới đây là bản dịch Việt ngữ. Nguyên bản có thể đọc tại đây: Cardinal Maradiaga responds to allegations of corruption


Đức Hồng Y Oscar Andrés Rodriguez Maradiaga đã bác bỏ những cáo buộc tội bất minh trong quản lý tài chính, và đưa ra lời giải thích cho những tố cáo theo đó ngài đã nhận được mức lương quá cao cho một vai trò chỉ có tính cách nghi lễ tại Đại học Công Giáo Honduras.

Trong một cuộc phỏng vấn qua email với CNA, Đức Hồng Y Maradiaga đã giải thích rằng “cách đây hơn một năm, chúng tôi phải sa thải một viên quản lý của trường đại học vì tội biển thủ” và “ngay sau đó, một bài báo phỉ báng nặc danh đã được lan truyền, với một loạt các lời vu cáo tương tự như những gì được xuất bản trong tuần này”.

Đức Hồng Y Maradiaga đã đề cập đến một báo cáo trên tờ L'Espresso của Ý. Theo báo cáo này, ngài đã nhận được 600,000 Mỹ Kim từ Đại học Tegucigalpa vào năm 2015, như là một loại “lương” cho chức vụ hiệu trưởng của trường. Đức Hồng Y cũng bị cáo buộc đã làm mất gần 1,2 triệu Mỹ Kim tiền quỹ Giáo Hội qua các khoản đầu tư tại một số công ty tài chính ở London.

Những cáo buộc này không phải là mới, bởi vì trang web ConfidencialHn đã tung ra vào tháng 8 năm 2016. Đức Hồng Y Maradiaga nói rằng Tổng Giáo Phận đã bắt đầu một trình tự pháp lý để tự bảo vệ mình, nhưng điều này “chưa có tác dụng nào trong việc làm rõ sự thật”.

Đức Hồng Y Maradiaga giải thích rằng Đại học Công Giáo Honduras là “thuộc quyền sở hữu của Tổng Giáo Phận.” Ngài nhấn mạnh rằng, trong nhiệm kỳ tổng giám mục và hiệu trưởng trường đại học, nhà trường đã tăng lên 11 khu học xá trải dài khắp Honduras.

Đức Hồng Y nói thêm rằng “trường đại học này nhằm mục đích trợ giúp các hoạt động mục vụ của Tổng Giáo phận”, và để hỗ trợ công việc đó, ngài nói rằng Tổng Giáo Phận, chứ không phải đích thân Đức Hồng Y, đã nhận được các khoản chi trả hàng tháng “có khi ít hơn cũng có khi nhiều hơn” con số 41,400 Mỹ Kim như đã nêu trong báo cáo.

Số tiền này, ngài nói thêm, đã được chuyển đến để “trả học phí cho các sinh viên, tài trợ cho việc xây dựng và tu bổ các nhà thờ và trợ giúp kinh tế cho các linh mục ở các giáo xứ ở nông thôn hay các linh mục gặp khó khăn trong cuộc sống.”

Đức Hồng Y Maradiaga nhấn mạnh rằng “các quỹ không được chuyển nhượng dưới tên tôi, nhưng nhân danh Tổng Giáo Phận”, và điều này các linh mục có thể làm chứng. Ngài nhấn mạnh rằng “với những quỹ này, chúng tôi cũng giúp đỡ rất nhiều người nghèo đang tìm kiếm sự trợ giúp hàng ngày”.

Cha Carlos Rubio của Tổng Giáo Phận Tegucigalpa nói với ACI Prensa, chương trình tin tức tiếng Tây Ban Nha của CNA, rằng Đại học Catholic Honduras tài trợ cho “tất cả các giám mục [Honduras], chứ không chỉ là Đức Hồng Y, để giúp các giáo phận. Cần nhớ rằng trường đại học này là trường Công Giáo và dưới sự bảo trợ của Giáo hội”

Cha Rubio nói: “Tất cả các giám mục nhận được sự tài trợ cho các giáo phận của các ngài, chứ không phải cho các cá nhân. Số tiền này là sự hỗ trợ từ trường đại học Công Giáo cho công cuộc truyền giáo của giáo phận.”

Đức Hồng Y Maradiaga xác nhận rằng có một chuyến thanh tra tông tòa đối với Đức cha Juan José Pineda, Giám Mục Phụ Tá của Tegucigalpa, nhưng ngài nhấn mạnh rằng chính Đức Giám Mục “thỉnh cầu Đức Thánh Cha tổ chức cuộc thanh tra tông tòa này, để bảo vệ thanh danh của ngài.”

Đức Cha Pineda từ lâu đã là chủ đề bàn tán liên quan đến những cáo buộc bất minh trong quản lý tài chính, và tin đồn rằng ngài tài trợ cho một người bạn bằng cách sử dụng các quỹ của Tổng Giáo Phận. Một số người cho rằng ngài đã xây một căn nhà trong khuôn viên Đại học Công Giáo Honduras cho người bạn này.

Một nhà truyền giáo Công Giáo làm việc tại Honduras nói với ACI Prensa rằng tình trạng của Đức Cha Pineda gây ra những tai tiếng cho Giáo Hội Honduras. Vị giám mục “sống với một người trợ lý”, mà không ai giải thích được một cách minh bạch, nhà truyền giáo nói.

“Đức Giám Mục Pinedo đã mua cho ngài một căn hộ ở trung tâm thành phố và một chiếc ô tô. Chiếc xe hơi, chúng tôi sợ rằng, xuất phát từ kho bạc của trường đại học hoặc giáo phận. Chúng tôi đã báo cáo mối quan hệ không hợp lý này với Vatican. Đức Giáo Hoàng biết mọi thứ”, nhà truyền giáo nói thêm.

Đức Hồng Y Maradiaga nói rằng Tổng Giáo Phận vẫn chưa biết kết quả của cuộc thanh tra tông tòa, nhưng ngài tự hỏi “tại sao những kết quả cuối cùng này đã đến được với L'Espresso”. Theo Đức Hồng Y, báo cáo của L'Espresso “nói một nửa sự thật, tối hậu còn tệ hơn những điều dối trá.”

Đức Hồng Y khẳng định rằng Hội đồng Tài chính của Tổng Giáo phận chưa bao giờ cho phép “bất kỳ khoản đầu tư nào” như đã nêu trong báo cáo của tờ L'Espresso.

Đức Hồng Y Maradiaga kết luận: “Tại sao những cáo buộc đã được đưa ra và đã bị bác bỏ cách đây hàng năm trời nay lại được tung ra, chỉ 8 ngày trước khi tôi nộp xin từ chức với Đức Giáo Hoàng Phanxicô, vì tôi đã đạt đến độ tuổi 75?”

Theo quan điểm của Đức Hồng Y, những tấn kích nhắm vào ngài hiện nay là một cố gắng gây nguy hại cho những cải cách của Đức Giáo Hoàng Phanxicô. Ngài nói: “Tôi sẽ tiếp tục phục vụ [những cải cách đó] bao lâu Đức Thánh Cha muốn như vậy.”
 
Tin Giáo Hội Việt Nam
Giáo xứ Vĩnh Hòa: Tĩnh tâm Mùa Vọng 2017
Văn Minh
07:53 22/12/2017
“Hướng cho cộng đoàn chuẩn bị tâm hồn đón ngày Đại lễ mừng Chúa Giáng Sinh được sốt sắng, đồng thời, giúp cho mỗi thành viên trong gia đình khám phá ra giá trị của Tin Mừng trong đời sống Hôn Nhân một cách đích thực”.

Vào các ngày 19/20/21/12.2017, cộng đoàn giáo xứ Vĩnh Hòa đã tổ chức ba buổi tĩnh tâm cho các em thiếu nhi và cộng đoàn trong giáo xứ.

Nhân dịp này, cha Gioakim Lê Hậu Hán, chánh xứ giáo xứ Vĩnh Hòa, đã mời cha Gioan Baotixita Nguyễn Quang Tuyến, Trung tâm Mục vụ/TGP Sài Gòn về chia sẻ cho cộng đoàn giáo xứ với chủ đề “Emmanuel” Thiên Chúa ở cùng chúng ta – ở cùng Gia đình.

Xem Hình

Tĩnh tâm ngày 19:: Vào lúc 17g30, thứ Ba ngày 19.12.2017, sau bài hát xin ơn Chúa Thánh Thần, cha Gioan Baotixita Nguyễn Quang Tuyến, đã mời gọi cộng đoàn cùng nhau tái khám phá Mầu Nhiệm Emmanuel trong khung cảnh gia đình người Kitô hữu hôm nay. Thông thường trong một gia đình (Family) gồm có bố mẹ và con cháu, và mọi thành viên trong gia đình đều mong sao cho gia đình của mình luôn được ấm êm và hạnh phúc. Trong cuộc sống của nền kinh tế thị trường hôm nay, người ta chạy theo lối sống hưởng thụ vật chất và tiền tài danh vọng mà chà đạp lẫn nhau, bất chấp mọi thủ đoạn xấu xa để mong sao đạt được mục đích cho riêng mình. Riêng đối với người Kitô hữu, gia đình là món quà tặng của Thiên Chúa thương ban cho nhân loại, gia đình là Giáo hội tại gia, là chất keo nối kết mọi người lại với nhau, và cùng nhau khám phá ra Mầu Nhiệm của Ba Ngôi Thiên Chúa. Thật vậy, để có một gia đình hạnh phúc ngay ở đời này và đời sau, mỗi người phải biết tôn trọng nhau và tạo bầu khí vui tươi ấm áp trong gia đình, nhất là bậc làm cha mẹ phải là tấm gương sáng cho con cháu về mặt đạo đức. Đặc biệt, là giữ được bữa ăn chung và giờ kinh tối trong gia đình. Qua đó, mọi người được sum vầy bên nhau, và dâng lên Chúa những vui buồn trong đời sống hằng ngày của gia đình của mình.

Để kết buổi chia sẻ, cha Gioan Baotixita mời những người đã có gia đình đang hiện diện trong Thánh lễ cùng nhau lập lại lời tuyên hứa khi lãnh nhận bí tích Hôn Phối: “Anh nhận em làm vợ, em nhận anh làm chồng, hứa sẽ giữ lòng chung thủy với em, với anh, khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi mạnh khỏe cũng như lúc đau yếu, để tôn trọng em suốt đời anh”.

Sau bài chia sẻ, cha xứ Gioakim chủ sự dâng Thánh lễ thứ Ba Tuần Ba – Mùa Vọng và kết thúc lúc 18g50 cùng ngày.

Tĩnh tâm ngày 20: “Tư duy tích cực” là chủ đề tĩnh tâm của cha Giuse Đặng Chí Lĩnh, đặc trách ơn gọi ĐCV Thánh Giuse Sài Gòn đã chia sẻ cho cộng đoàn giáo xứ Vĩnh Hòa trong Thánh lễ lúc 17g30, thứ Tư ngày 20.12.2017.

Cha Giuse đã chia sẻ cho cộng đoàn với ba ý sau: Tư duy tích cực về bản thân, tư duy tích cực về người khác, và tư duy tích cực về thế giới bên ngoài.

Tư duy tích cực về bản thân: Về bản chất, suy nghĩ tiêu cực cũng giống như suy nghĩ tích cực, nếu chúng ta thường xuyên suy nghĩ tiêu cực sẽ làm gia tăng lo âu, căng thẳng, và thất vọng. Ngược lại, chúng ta cần loại bỏ những tiêu cực trong đầu và khám phá những thành công mà bản thân mình đạt được, tin tưởng vào chính mình một cách mạnh mẽ, và tận dụng mỗi quan hệ trong gia đình và ngoài xã hội.

Tư duy tích cực về người khác: Nhìn người khác một cách bao dung độ lượng, không ghen ghét khi thấy người khác thành công, không chê bai hay làm điều xấu có hại cho người khác, không nịnh hót một cách giả tạo, hãy chân thành một cách đúng mực, đúng nơi và đúng lúc.

Tư duy tích cực về thế giới bên ngoài: Cần tôn trọng và sống theo qui luật tự nhiên, có trách nhiệm giữ gìn bảo vệ môi trường thiên nhiên cũng như vạn vật mà Đấng tạo hóa đã ban tặng cho con người, và cùng nhau xây dựng một thế giới xanh, sạch, đẹp và phát triển.

Thánh lễ nối tiếp với phần phụng vụ Thánh Thể và kết thúc lúc 1845. Trước khi ban phép lành cuối lễ, cha Giuse hát tặng cộng đoàn bài hát “Xanh trời Noel”.

Tĩnh tâm ngày 21: Vào lúc 18g00 ngày 21.12.2017, gần 400 em thiếu nhi cùng cha Giuse Đặng Chí Lĩnh, hiệp dâng Thánh lễ thứ Năm Tuần III Mùa Vọng.

Trong phần chia sẻ Lời Chúa, cha Giuse đã vấn đáp các em và em nào trả lời đúng sẽ được ngài tặng cho một đĩa nhạc thánh ca với chủ đề (Theo bước chân Chúa) do chính ngài là tác giả. “Các con có biết các con đang sống trong Mùa nào không?. Các em thưa; Dạ Mùa Vọng. Sau Mùa Vọng là Mùa nào?. Các em, sau Mùa Vọng là Mùa Giáng Sinh”. Cha Giuse nói sơ lược về lòng yêu thương bác ái của Đức Maria qua bài Tin Mừng Lc 1, 39-45. Đồng thời, ngài cũng chia sẻ cho các em về mẫu gương của Thánh Martinô Porres, với một đức tính khiêm nhường và luôn gần gũi mọi người, cũng chỉ vì tình yêu mến Chúa “hết lòng, hết sức, hết linh hồn mà phục vụ”. Thánh nhân đã sống đời khiêm hạ và bác ái với hết thảy mọi người. Đặc biệt, nơi các bệnh nhân đau yếu và những người nghèo khó và các trẻ em mồ côi. Kết thúc bài chia sẻ, cha Giuse cùng các em hát: “Bác ái là yêu người không phân biệt một ai. Không phân biệt sang giàu, hèn, nghèo hay khác chí hướng. Bác ái là yêu người yêu tất cả mọi người. Yêu trong tình yêu Chúa sẵn sàng vì Chúa yêu thương”

Sau lời nguyện hiệp lễ, ông Gioan Baotixita Nguyễn Văn Thơi, Chủ tịch HĐMVGX, thay mặt lên ngỏ lời cảm ơn quý cha xứ, quý cha Giuse giảng phòng, đã khơi dậy cho các em và cộng đoàn hiểu biết hơn về tình yêu thương bác ái, để qua đó mỗi người biết mở rộng lòng mình chia sẻ bác ái cho những người nghèo khổ bất hạnh trong cuộc sống. Đó là món quà đẹp và ý nghĩa nhất để dâng lên Chúa Hài Đồng trong Mùa Giáng Sinh này. Đáp từ, cha Giuse ngỏ lời cảm ơn và chúc cha xứ Gioakim, quý vị HĐMVGX, cùng cộng đoàn trong giáo xứ luôn ấm áp tình Chúa và tình người. Qua đây, ước mong giáo xứ ngày càng có nhiều ơn gọi hơn nữa ra đi làm chứng nhân cho Tin Mừng và phục vụ cho Giáo hội.

Thánh lễ khép lại lúc 19g15, cộng hân hoan lãnh nhận ơn bình an ra đi làm chứng nhân giữa lòng thế giới hôm nay.
 
Hình Ảnh Thánh Lễ Tạ Ơn – Đức Tân Giám Mục Thomas Nguyễn Thái Thành
William Nguyễn
19:36 22/12/2017


Hình Ảnh Thánh Lễ Tạ Ơn – Đức Tân Giám Mục Thomas Nguyễn Thái Thành tại nhà thờ Our Lady of La Vang, Santa Ana, CA ngày 20 tháng 12 năm 2017

Xem Hình Tại Đây

William Nguyễn
 
Tài Liệu - Sưu Khảo
Stille Nacht, heilige Nacht…Đêm thánh vô cùng
Lm. Daminh Nguyễn ngọc Long
11:04 22/12/2017
Hằng năm vào tháng Mười Hai, trước cùng trong mùa mừng lễ Chúa giáng sinh , bản nhạc Stille Nacht heilige Nacht thần thoại thời danh cùng phổ thông khắp nơi trên thế giới được hát vang lên, không chỉ trong thánh đường Công Giáo ,Tin Lành, mà còn cả ở nhà tư, nơi công cộng nữa.

Bản nhạc thời danh này là bản nhạc thánh ca được hát trong đêm mừng lễ Chúa giáng sinh. Nhưng dần dần trong dòng thời gian bài hát được ưa chuộng hát khắp nơi, cả trong những buổi trình diễn nhạc giáng sinh nữa. Nó trở thành bài thánh ca thần thoại thời danh trong dân gian.

Lời cùng âm điệu cung nhạc bản nhạc thời danh này gợi gây cảm hứng được dịch ra hay phổ lời bằng tiếng địa phương mỗi quốc gia dân tộc rộng rãi trên thế giới .

Bài nhạc thánh ca này không thể thiếu trong ngày lễ mừng Chúa giáng sinh, đêm 24. tháng 12. và ngày 25. tháng 12. Ngày lễ mừng Chúa giáng sinh mà không hát bài này, như còn thiếu điều gì, hay có người còn cho là chưa mừng lễ Chúa giáng sinh trọn vẹn đầy đủ!!!

Bài hát này tuy được hát hằng năm, hầu như thuộc lòng lời cùng âm điệu khắp nơi trên thế giới, nhưng nó vẫn luôn hằng sống động. Phải, nó luôn luôn có sức hấp dẫn gây mang đến cho người hát cùng người nghe tâm tình, tình cảm rung động cảm kích, cùng cảm giác thư thái bình an.

Bản nhạc không chỉ đi vào lịch sử âm nhạc, lịch sử dân gian , nhưng còn đi vào trái tim lòng con người.

Tác gỉa bài hát thánh ca thời danh này là một Linh mục được cử sai đến trợ giúp ở xứ đạo Công Giáo Thánh Nikolaus vùng Oberndorf bên nước Áo, và Ông thầy giáo đánh đàn nhà thờ Thánh Nikolaus.

Linh mục Joseph Mohr, người sáng tác viết lời bản nhạc Stille Nacht heilige Nacht sinh ngày 11. 12.1792 ở thành phố Salzburg nước Áo - Salzburg cũng là quê quán của nhạc sĩ thiên tài Wolgang Amadeus Mozart - Cha của Joseph đã bỏ vợ con trốn ra đi nửa năm trước khi Joseph sinh ra. Hai ông bà chỉ sống chung với nhau không có lễ cưới về phân đời cũng như phần đạo.

Vào thời lúc đó, cậu bé sau khi chào đời 4 tiếng đồng hồ đã được rửa tội với tên Joseph Mohr .

Theo Hlavac viết về tiểu sử của Joseph Mohr đã mô tả cậu Joseph này đã sống trải qua thời thơ ấu trong hoàn cảnh nghèo nàn tội nghiệp. Nhưng dẫu vậy thân phận nghèo nàn thời thơ ấu lại giúp cậu Joseph trở thành người tốt cùng thời danh.

Cha phó nhà thờ chính tòa Johann Nepomuk Hiernle đã nhìn ra nơi Joseph khả năng thiên phú còn tiềm ẩn, nên đã tận tình nâng đỡ cậu Joseph rất quảng đại. Chính cha phó nhận ra tài năng nơi cậu và hướng dẫn dậy học cùng tạo điều kiện cho Joseph có thể từ 1808 đến 1810 vào học ở đại học Kremsmuenster. Nhờ thế Joseph Mohr có cơ hội kiếm tiền nuôi sống mình bằng chơi dạy nhạc cụ và ca hát.

Tổng giám mục Hieronymus von Colloredo đề ra chương trình cải cách đổi mới việc đào tạo linh mục ở chủng viện. Theo đó không chỉ chú trọng huấn luyện về mục vụ , nhưng còn về trí thức, về tâm lý, về sức khoẻ, về thiên nhiên nông nghiệp. Vị Tổng giám mục chú ý nhiều đến thánh nhạc bên nước Đức.

Những điều này đã gây ấn tượng phấn khởi nơi Joseph Mohr rất mạnh, và cậu muốn đem áp dụng vào thực tế. Là người con ngoại hôn không có cha chỉ sống với mẹ, nên Joseph cần phép chuẩn của Giáo Hội để có thể được truyền chức làm linh mục. Và phép chuẩn đã có cho Joseph.

Ngày 20.08.1815 Joseph Mohr được truyền chức Phó tế và một ngày sau đó được phong chức Linh Mục lúc 23 tuổi.

Linh mục Mohr được sai cử trước hết làm mục vụ ở Ramsau vùng Bayern. Những năm sau đó đổi chỗ làm việc nhiều lần tiếp theo.

Theo những nguồn thuật lại Linh mục Mohr là người có tính tình hài hước vui vẻ, bình dân rất gần với dân chúng xứ đạo, cùng có trái tim tâm hồn với những người nghèo khổ. Ông thích chơi đàn Gitar, ca hát vũ múa vui nhộn, như sở trường của ông.

Năm 1817 được sai cử về trợ giúp nhà thờ Thánh Nocolaus ở Oberndorf, linh mục Mohr quen với Franz Xaver Gruber ( 1787 - 1863), là thầy giáo và là người đánh đàn nhà thờ. Hai người hiểu nhau rất thân tình. Họ trở nên bạn thân thiết với nhau.

Ngày lễ mừng Chúa giáng sinh 1818 Linh mục Mohr đã đưa lời bài hát do ông viết cho Gruber phổ nhạc, và cũng do chính Franz Gruber hát giọng Bass, Joseph Mohr hát giọng Tenor và Joseph Mohr chơi đàn Gitar đệm theo trước hang đá sau thánh lễ mừng Chúa giáng sinh..

Đó là lần đầu tiên bài Stille Nacht heilige Nacht được hát vang lên trong thánh đường vào ngày lễ mừng Chúa giáng sinh ở thánh đường Thánh Nikolaus bên nước Áo. Bài hát này ngày đó được hát không phải với ba phiên khúc nhưng với sáu phiên khúc.

Lời bài hát và âm điệu cung nhạc bài hát thuyết phục làm cảm động say mê mọi người trong nhà thờ từ ngày hôm đó.

Động lực nào đã thúc đẩy Linh mục Mohr sáng tác ra lời bài hát, không có bằng chứng chắc chắn rõ ràng. Một suy đoán tích cực là Fr. Gruber và J. Mohr đã viết bài nhạc này với đàn Gitar chơi đệm trong nhà thờ là điều trước đó chưa xẩy ra. Và trong dòng thời gian có nhiều suy luận, suy đoán mang tính cách trang điểm thêu dệt huyền thoại cũng như lịch sử mang tính cách thi vị của bài Stille Nacht heilige Nacht.

Một năm sau lễ mừng Chúa giáng sinh 1818 với bài hát thời danh thần thoại Stille Nacht heilige Nacht, Linh mục Joseph Mohr được thuyên chuyển khỏi Oberndorf. Sau đó Ông còn thay đổi nhiệm sở bẩy lần nữa. Nhiệm sở sau cùng của Ông từ năm 1837 ở Wagrain vùng Pongau. Nơi đây Linh mục Joseph Mohr qua đời ngày 04.12. 1848 vào tuổi 56 vì bệnh phổi.

Năm 2018 kỷ niệm 200 năm bản nhạc thời danh cùng phổ thông Stille Nacht, heilige Nacht được 200 tuổi. Vùng thánh phố Salzburg bên áo, quê hương của tác gỉa bản nhạc, đã thành lập Hội Stille Nacht. Và năm 2018 Hội sẽ tổ chức lễ hội trọng thể mừng kỷ niệm bản nhạc thần thoại thời danh được 200 tuổi.

Năm 2011 bản nhạc thời danh thần thoại này được công nhận liệt kê vào danh sách Di sản Văn hóa thế giới. Và lời bản nhạc được dịch hay phổ lời ra hơn 200 ngôn ngữ địa phương trên khắp thế giới. Tiếng Viẹt Nam có bản tiếng có bản Việt ngữ Đêm thánh vô cùng do cố nhạc sĩ Hùng Lân viết lời.

Lúc qua đời Linh mục Mohr, tác giả lời bản nhạc Stille nacht, heilige Nacht là người vô sản không có gì sở hữu.

Vì lúc còn sinh thời Ông đã đem những gì mình có trao tặng tất cả, chỉ còn vài bộ quần áo để mặc.

Ông đã qua đời, nhưng bài nhạc thần thoại bất hủ Stille Nacht heilige Nacht ca mừng Chúa giáng sinh của Ông đi vào lịch sử đời sống dân gian cho tới ngàn thu.

Lễ mừng Chúa giáng sinh 2017
Lm. Daminh Nguyễn ngọc Long



















 
Văn Hóa
Thăm thành phố cảng Montt, miền Nam quốc gia Chile
LM Trần Công Nghị
19:18 22/12/2017
NAM CHILE - Sau khi rời khỏi cảng San Antonio đi trên du thuyền 2 ngày dọc theo bờ biển phía đông của Chile, hôm nay chúng tôi tới cảng thành phố Montt. Cảng Montt là một thành phố cảng ở miền nam Chile, nằm ở cuối phía bắc kênh Sound Reloncaví trong vùng Los Lagos, cách thủ đô Santiago 1.055 km về phía nam. Diện tích tỉnh này là 1.673 km2 (646 sq mi) và có dân số là 176.0000 người. Được thành lập cuối năm 1853 do người Đức được cấp phép đến khai hoang miền nam Chile này.

Hình ảnh

Chúng tôi đi chung quanh thăm thành phố, đặc biệt là nhà thờ chính tòa danh tiếng xây bằng gỗ cả trăm nay trước nay vẫn còn đó, trên tháp chuông có lát đồng bên ngoài chống chọi với sương gió. Kiểu xây có nét của người Đức, nhiều tầng và gổ kiên trì.

Tiếp đến chúng tôi đi tham quan nhà thờ của các Cha Dòng Tên, cũng bằng gỗ và ngay trong khu Đại học Los Lagos thời danh. Vào trong nhà thờ chúng tôi được chiên ngưỡng các bức tượng tạc cả trăm năm trước hình thể thật sống động, nhất là tượng Pieta Đức Mẹ Maria ôm xác Chúa, ha tượng thánh Loyola thật sống động. Đặc biệt trong nhà thờ này còn trưng bầy các bộ áo lễ thêu kim tuyến hình Chúa và Mẹ Maria, các thiên thần... và mầu sắc thật điêu luyện và hết sức tỉ mỉ.

Thành phố này phát triển mạnh ngày nay cũng nhờ vào cửa ngõ để đi tới Nam Cực, nhiều khách sạn mới được dựng lên và con dường dạo bờ biển rất thêng thang cho người đi bộ và tha hồ ngắm các tầu du lịch đầu ngoài khơi. Các tổ chức gia thông rất hiện đại, có ngay một trung tâm xe bus rộng rãi, bán vé đi khắn nơi, bên trên là các tiện và quán ăn, bên dưới là chỗ đầu xe hơi, và bên ngoài là các trạm xe bus. Tôi ghé thăm tòa nhà trung tâm giao thông này gặp ngay một linh mục bản xứ với bộ trang phục linh mục như vẫn còn ở vào 50 thập niên trước. Tôi đã xin chụp hình chung làm kỉ niệm.

Puerto Montt sớm phát triển qua mặt các thành phố láng giềng có vị trí chiến lược: một là thành phố Llanquihue cửa ngõ vào Chiloé Archipelago, và thành phố hồ Nahuel Huapi ở phía Tây Patagonia .

Puerto Montt đã phát triển và nổi tiếng là nơi sản xuất cá hồi lớn thứ hai của thế giới trong năm 1990 và 2000. Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng Chile nuôi trồng thủy sản cá hồi vào cuối năm 2000 dẫn đến tình trạng thất nghiệp nghiêm trọng, và nay còn đang trong tình trạng phục hồi.

Di sản văn hóa của thành phố pha trộn các yếu tố văn hóa đặc biệt ảnh hưởng nặng chất Chiloe pha lẫn di sản của người Đức. Mặc dù thành phố đã thu hút một số lượng đáng kể người mới đến từ khắp nơi thuộc các vùng trong nước Chile nhất là trong 30 năm trở lại đây tìm việc làm.

Ban đầu, vị trí này được bao phủ bởi rừng rậm và được gọi Melipulli (có nghĩa là "bốn ngọn đồi" in Mapudungun). Đoàn thám hiểm đã được giao phó cho ông Philippe Bernardo, một nhà tự nhiên học người Đức và là người vẽ bản đồ, nhưng sau cái chết của ông vào năm 1851, ông Vicente Perez Rosales đã tiếp quản nhiệm vụ. Thân thành phố được chính thúc thành lập vào ngày 12 tháng hai năm 1853, sau khi chính phủ Đức tài trợ cho người nhập cư bắt đầu từ năm 1848. Thành được đặt tên theo tên Manuel Montt, Tổng thống của Chile (1851 - 1861), là người cho nhập cư người Đức.

Năm 1912, thành phố được kết nối bằng tàu hỏa với thủ đô Santiago, làm cho nó thành nơi quan trọng trên đường đi vào vùng Patagonia cũng như làm nó nhanh chóng phát triển thương mại và vận chuyển. Đến năm 1950 dân số cò khoảng 27.500 người và trên đà đô thị hóa.

Trận động đất diễn ra vào tháng 5 năm 1960 đã phá hủy Puerto Montt, hải cảng sụp đổ, nhà ga xe lửa cũng bị hoang tàn và phá hủy nhiều nhà cửa và xây dựng. Với thời gian nó phục hồi với bộ mặt một thành phố mới, trở thành hiện đại hơn.

Đến năm 1979, Puerto Montt được đề cử và trở thành Thủ đô của Vùng Los Lagos Region và là trung tâm chính trị và hành chính của Miền Nam Chile.

Nền kinh tế của thành phố Montt là dựa vào nông nghiệp, gia súc, và lâm nghiệp trên các hòn đảo xung quanh, đánh cá và nuôi cá hồi ở các vịnh và Thái Bình Dương. Thành phố được coi là trung tâm của một trong những ngành nuôi cá hồi lớn nhất trên thế giới. Các trại sản xuất giống, thủy sản và đóng gói chủ yếu nằm ở phía nam Puerto Montt. Cá hồi tươi được vận chuyển hàng ngày đến các thị trường thế giới và cá hồi đông lạnh được vận chuyển bằng đường biển đến tất cả các điểm đến. Sự tăng trưởng to lớn của khu vực, chủ yếu là hai đến việc mở rộng nhanh chóng của lâm nghiệp, gia súc và du lịch, đã chứng tỏ tiềm năng kinh tế to lớn của Puerto Montt.
 
Ảnh Nghệ Thuật
Trang Ảnh Nghệ Thuật Chiêm/Niệm/Thiền: Đêm Thánh
Diệp Hài Dung
09:24 22/12/2017
ĐÊM THÁNH
Ảnh của Diệp Hải Dung
(Hình chụp tại St. Mary’s Cathedral Sydney)

Giáng Sinh vọng tiếng chuông mừng lễ
Đêm Thánh vang ca nhạc mến thương
Ước nguyện Trời ban ơn cứu rỗi
Hòa bình thế giới được miên trường...
(Trích thơ của Duy Anh)
 
Trang Ảnh Nghệ Thuật Chiêm/Niệm/Thiền: Ánh Sao Mùa Giáng Sinh
Tấn Đạt
22:44 22/12/2017
ÁNH SAO MÙA GIÁNG SINH
Ảnh của Tấn Đạt
Đường dài mặc kệ nắng - sương,
Lần theo sao lạ tây phương tìm về
Nhiều lần đi lạc mỏi mê
Chờ khi trời tối tìm về hướng sao
Lòng thành chẳng ngại núi cao
Nắng ran sa mạc đêm vào giá sương
Tìm cho bằng được Chân Vương
Để tôn thờ Đấng dẫn đường ngôi sao.
(Trích thơ của Salam Phong)
 
Thánh Ca
Thánh Ca: Máng Cỏ Đêm Đông – Trình bày: Phương Thảo
VietCatholic Network
18:07 22/12/2017
Máy yếu hay Internet chậm xin nhấn vào nút Play bên dưới đây


 
Thánh Ca: Lễ Vật Giáng Sinh - Trình bày: Ca Sĩ Như Ý
VietCatholic Network
23:16 22/12/2017
Máy yếu hay Internet chậm xin nhấn vào nút Play bên dưới đây