Ngày 15-12-2020
 
Phụng Vụ - Mục Vụ
Thứ Tư 16/12: Nhận diện Đức Kitô - Suy Niệm của Lm. Nguyễn Trọng Thiên, SVD
Giáo Hội Năm Châu
01:41 15/12/2020

Bắt đầu từ 7g tối thứ Ba 15/12/2020 theo giờ Việt Nam

TIN MỪNG Lc 7:19-23

Hãy thuật lại cho ông Gio-an những điều mắt thấy tai nghe.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo thánh Luca.

Ông Gio-sai hai môn đệ đến hỏi Chúa Giêsu rằng: "Thầy có thật là Đấng phải đến không, hay là chúng tôi còn phải đợi ai khác?" Khi đến gặp Đức Giêsu, hai người ấy nói: "Ông Gioan Tẩy Giả sai chúng tôi đến hỏi Thầy: "Thầy có thật là "Đấng phải đến" không, hay là chúng tôi còn phải đợi ai khác?" Chính giờ ấy, Đức Giêsu chữa nhiều người khỏi bệnh hoạn tật nguyền, khỏi quỷ ám, và ban ơn cho nhiều người mù được thấy. Người trả lời hai người ấy rằng: "Các anh cứ về thuật lại cho ông Gioan những điều mắt thấy tai nghe: người mù được thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết chỗi dậy, kẻ nghèo được nghe tin mừng, và phúc thay người nào không vấp ngã vì tôi".

Đó là lời Chúa.
 
Trinh Nữ Sinh Con
Lm. Giuse Nguyễn Hữu An
06:38 15/12/2020
CN 4 VỌNG B
Trinh Nữ Sinh Con”

Mùa Vọng là mùa mong đợi, chờ đợi ở tương lai. Hy vọng hướng tới điều vui, tốt đẹp, tươi sáng hơn hiện tại. Trong phụng vụ nhắc đến hai điều: chuẩn bị tâm hồn đón mừng Lễ Giáng Sinh và mong đợi Chúa sẽ đến vào ngày quang lâm.

Đức Maria Vô Nhiễm là ngôi sao chiếu sáng trên con đường Mùa Vọng. Mẹ là “dấu hiệu của niềm hy vọng chắc chắn, và là dấu hiệu của sự an ủi“ (LG, số 68). Để đến được với Đức Giêsu, là ánh sáng đích thật, là mặt trời phá tan mọi bóng tối của lịch sử, chúng ta phải cần đến những ánh sáng gần gũi chúng ta hơn, cần đến những con người phản chiếu ánh sáng của Đức Kitô, và như thế, soi chiếu con đường chúng ta đi. Và ai là người có thể chiếu sáng hơn Đức Maria? Ai là người có thể tốt lành hơn Mẹ, là bình minh báo hiệu ngày cứu rỗi, để có thể trở thành ngôi sao hy vọng cho chúng ta? (x. Thông điệp Spe Salvi, số 49).

Mùa Vọng, nhìn lên Đức Trinh Nữ Maria, người đã chia sẻ niềm hy vọng của dân Ítraen và đã góp phần vào việc thực hiện niềm hy vọng ấy.

Một Trinh Nữ thụ thai, sinh con, đồng trinh trọn đời, một giáo lý độc đáo nhất chỉ có trong Kitô giáo. Trang Tin Mừng hôm nay được đọc trong các Lễ Đức Maria, nói lên sự thánh hiến tuyển chọn của Thiên Chúa đối với một thụ tạo được đặc ân vĩ đại nhất. Tin Mừng này được công bố muốn hướng chúng ta đến Mầu Nhiệm Nhập Thể Làm Người của Con Thiên Chúa.

Để chuẩn bị cho Ngôi Hai xuống thế làm người, Thiên Chúa đã dọn sẵn cung lòng Đức Maria trinh khiết vẹn tuyền, xứng đáng cho Con Thiên Chúa ngự đến. Thiên Chúa đã sai Sứ thần Gabrien đến Nadarét để truyền tin cho Đức Mẹ.

Sứ thần cung kính thưa với Mẹ rằng: “Mừng vui lên, hỡi Ðấng đầy ơn phước, Thiên Chúa ở cùng bà!" (Lc 1,28). "Ðấng đầy ơn phước" là tên gọi đẹp nhất của Mẹ Maria, tên gọi mà Thiên Chúa đã ban cho Đức Mẹ, để chỉ cho biết rằng từ muôn thuở và cho đến muôn đời, Đức Mẹ là Ðấng được yêu thương, được Thiên Chúa tuyển chọn, được tiền định để đón nhận hồng ân quý giá nhất, là Chúa Giêsu "tình thương nhập thể của Thiên Chúa" (x.Thông điệp Thiên Chúa là tình yêu, số 12).

Tước hiệu “Bà đầy ơn phước” xác nhận lòng Đức Mẹ không có chỗ dành cho tội lỗi vì luôn được đầy tràn ơn phước của Thiên Chúa.

“Thiên Chúa ở cùng Bà”: Ở đâu có Thiên Chúa, ở đó bóng tối của tội lỗi không thể có mặt. Mẹ luôn sống trong ân sủng và tình yêu của Thiên Chúa.

“Bà có phúc hơn mọi người phụ nữ” vì Mẹ là người duy nhất không vướng mắc tội tổ tông. Mẹ đẹp thánh thiện. Mẹ đẹp cao quý. Mẹ tuyệt mỹ vì niềm tin đơn sơ và cuộc sống khiêm nhường. Nét đẹp ấy thoang thoảng như như một hương thơm hảo hạng toả ra lôi cuốn. Nét đẹp ấy mặn mà như thứ muối thiêng liêng. Nét đẹp ấy lung linh như ánh sáng dịu mát. Nét đẹp ấy huyền diệu như âm nhạc dịu êm mời gọi con người nâng tâm hồn lên tới Chúa.

Sứ thần Gabrien cũng mời gọi Đức Maria hãy vui lên vì giờ cứu độ của Thiên Chúa đã đến. Sứ thần tiếp: “Này bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai và đặt tên là Giêsu. Đức Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng Đavít tổ tiên Người. Người sẽ trị vì nhà Giacóp đến muôn đời, và vương quyền của Người sẽ vô cùng vô tận” (Lc 1,31-33). Là một tâm hồn luôn luôn nghiền ngẫm Kinh Thánh, chắc hẳn Đức Maria nhớ lại lời Chúa đã dùng ngôn sứ Nathan mà thề hứa với vua Đavít xưa.

Nhưng điều Mẹ không hề bao giờ nghĩ tới là mình có thể có vai trò gì trong việc thực hiện lời tiên tri ấy. Chuyện “không thể được” đầu tiên là làm sao mình có thể sinh con được vì đã quyết “không biết đến chuyện vợ chồng” để sống trọn vẹn cho một mình Thiên Chúa mà thôi? Sau khi được sứ thần giải thích rằng “đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được”, Mẹ đã khiêm nhường thưa lại: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói” (Lc 1,38). Và thế là Ngôi Hai Thiên Chúa đã xuống thế làm người trong lòng Đức Trinh Nữ. Và thế là Đức Maria khiêm nhường đã trở thành thánh mẫu của Thiên Chúa. “Cuối cùng, sau những thế kỷ dài chờ đợi cho lời hứa được thực hiện, thì với Đức Maria người thiếu nữ Sion cao sang, thời gian đã nên trọn và nhiệm cuộc mới được thiết lập khi Con Thiên Chúa mặc lấy bản tính nhân loại nơi Người để giải thoát con người khỏi tội nhờ các mầu nhiệm của thân xác Con Chúa” (Hiến chế tín lý về Giáo Hội, số 55).

Bài Tin Mừng hôm nay thường gọi dưới tựa đề là " Sứ Thần truyền tin cho Đức Mẹ". Nhưng Sứ Thần và Đức Mẹ đều không phải là nhân vật chính. Nhân vật chính là Đức Giêsu. Trang Tin Mừng này giới thiệu căn tính của Đức Giêsu. Đó là nội dung chính của Truyền Tin. Qua lời của Sứ Thần mà chúng ta biết Giêsu là “Con Đấng Tối Cao", là “Đấng Thánh, là Con Thiên Chúa”.

Đức Maria sẽ nhận được một sự can thiệp diệu kỳ của Thiên Chúa. Mẹ sẽ đón lấy quyền năng sáng tạo của Thánh Thần "Thánh Thần sẽ ngự trên Bà và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên Bà.". Vì thế Đấng Mẹ sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa. Nếu việc thụ thai Gioan Tẩy Giả đòi hỏi một phép lạ, thì việc thụ thai Đức Giêsu đòi hỏi một phép lạ lớn hơn nhiều, đó là Ngài được thụ thai bởi một Trinh Nữ. Đức Giêsu không chỉ là Đấng Mêsia mà dân Do thái hằng mong đợi, Ngài còn là Đấng cao cả, thánh thiện hơn nhiều; Ngài là "Con Thiên Chúa" theo nghĩa viên mãn chưa từng có.

Sau tiếng Xin Vâng đầu tiên, Ngôi Hai Thiên Chúa đã làm người trong cung lòng Đức Trinh Nữ Maria. Mầu nhiệm nhập thể đã bắt đầu ngay từ giây phút này. Lời thưa "Xin vâng" của Mẹ đã thay đổi cả lịch sử nhân loại. Từ đó Mẹ hoàn toàn kết hiệp với công trình của Con Mẹ. Từ đó vai trò Trung Gian của Mẹ đã khởi đầu. Từ đó, Mẹ trở nên Mẹ của tất cả những ai hiệp nhất trong Đức Kitô (Gal 3,28).

Đức Trinh Nữ Maria là Mẹ trọn đời đồng trinh bởi vì đã được Thánh Thần chiếm ngự cả hồn xác. Thánh Giuse nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa nơi người vợ của mình, nên cũng hiến dâng chính mình để phục vụ công trình cứu độ của Thiên Chúa. Sống trinh khiết vì Nước Trời là ơn của Thánh Thần chứ không phải do gồng mình mà sống được, vì thế nó là dấu chỉ rằng Nước Trời đang hiện diện, quyền năng của Thiên Chúa đang hành động trong con người và giữa con người. Mầu nhiệm “Trinh nữ sinh con” do Ngôn sứ Isaia loan báo đã thành sự trọn vẹn nơi thân mẫu Chúa Giêsu, nên Giáo hội vẫn tuyên xưng Đức Trinh Nữ Maria là Mẹ trọn đời đồng trinh.

Đức Mẹ xin vâng ý Chúa.Tuân phục là một nhân đức quan trọng, quý hơn cả lễ vật và có liên quan đức tin: có tin tưởng thì mới vâng lời. Đức Mẹ là người tuyệt đối tín thác vào Thiên Chúa nên cũng tuyệt đối tuân phục Ngài. Đức tuân phục là một trong ba lời khấn của các tu sĩ, nhân đức này phải được dựa trên nền tảng kiên cố là đức khiêm nhường.

Mẹ sống hoàn toàn cho tiếng xin vâng trong sự tín thác, đặt trọn cuộc đời mình dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Khởi đi từ làng quê Nadarét cho đến đỉnh đồi Gôngôtha, hiệp thông với Con yêu dấu từ thuở ấu thơ đến khi bị treo trên cây thập giá, Mẹ đã diễn tả lời xin vâng ấy theo dọc chiều dài cuộc đời của con mình. Mẹ vui lòng đón nhận mọi biến cố vui-buồn-sướng-khổ theo thánh ý Thiên Chúa. Mẹ trở nên mẫu gương cho tất cả chúng ta tiếp tục thưa xin vâng trong bí tích Thánh tẩy.

Cảm tạ Chúa đã ban cho chúng ta một người Mẹ cao cả, thánh thiện, đáng yêu, đáng mến. Mẹ cầu bàu cho chúng ta trước tôn nhan Chúa. Mẹ dẫn chúng ta đến với Chúa.

Xin Chúa cho chúng con được trở nên con ngoan thảo của Mẹ, để Mẹ dễ dàng tỏ cho chúng con thánh ý Chúa và hướng dẫn chúng con biết sống đẹp lòng Chúa hàng ngày.Amen.
 
Mỗi Ngày Một Câu Danh Ngôn Của Các Thánh
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.
16:40 15/12/2020

5. Người lo công việc tu đức thì nên bắt chước người buôn bán, mỗi buổi tối tính sổ sách, coi ngày hôm nay linh hồn làm ăn lời hay lỗ.

(Thánh Ephraem)

Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.

(Trích dịch từ tiếng Hoa trong "Cách ngôn thần học tu đức")


----------

http://www.vietcatholic.org

https://www.facebook.com/jmtaiby

http://nhantai.info
 
Mỗi Ngày Một Câu Chuyện
Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.
16:45 15/12/2020
9. BỘ RÂU VIẾNG TANG GIA

Trên mặt của La Nhữ Bàng có rất nhiều râu, đến chừng trung niên thì có rất nhiều râu bạc trắng.

Một hôm, ông ta đi viếng nhà nọ có tang, người chủ sự tang lễ nhìn thấy ông ta thì kinh ngạc hỏi:

- “Tuổi của ông không lớn, tại sao lại có nhiều râu bạc như thế?”

Nhữ Bàng trả lời:

- “Đây là râu đi viếng tang gia mà !”-

Khách khứa cười ồ lên.

(Tuyết Đào Hài Sử)

Suy tư 9:

Người ta đến phúng điếu, đến chia buồn thì nên nhìn đến tấm lòng thành thật của họ, chứ đừng nhìn vẻ bên ngoài râu nhiều râu ít của họ, vì như thế sẽ khiếm nhã và bất lịch sự.

Tuổi không lớn nhưng tâm hồn thì đã trưởng thành vì là người đã biết suy nghĩ, tuổi không lớn nhưng kinh nghiệm nhiều vì biết tích lũy những thành công cũng như thất bại trong cuộc sống, tuổi không lớn nhưng đã biết học được rất nhiều trong sách vở và trong cuộc sống của mình, những người tuổi không lớn nhưng đã thành danh trong xã hội ngày xưa và ngày nay thì rất nhiều...

Tu đức của người Ki-tô hữu không hệ tuổi nhiều hay ít, nhưng hệ tại cách giáo dục của Giáo Hội (cha sở, các tu sĩ nam nữ và những người có trách nhiệm) và sự cầu nguyện của họ, bởi vì những người luôn cầu nguyện thì có đời sống tu đức cao hơn những người khác, cũng một sự việc nhưng người luôn cầu nguyện thì giải quyết khác với người không hoặc ít cầu nguyện: người cầu nguyện sẽ giải quyết rất ôn hòa đầy bác ái, người không cầu nguyện sẽ giải quyết theo tự ái của mình...

Thiên Chúa không đánh giá con người qua râu nhiều hay râu ít, nhưng Ngài thường nhìn rõ bên trong tâm hồn hơn là bên ngoài, mà những người luôn cầu nguyện thì biết điều này hơn những người khác, cho nên họ có đời sống đúng theo tinh thần Phúc Âm của Chúa.

Trưởng thành không phải lớn lên theo tuổi mà là theo sự giáo dục, hiểu biết khôn ngoan và kinh nghiệm của họ.

Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.

(Dịch từ tiếng Hoa và viết suy tư)


-----

http://www.vietcatholic.org

https://www.facebook.com/jmtaiby

http://nhantai.info
 
Những cuộc đời được đổi thay
Lm Minh Anh
22:38 15/12/2020
NHỮNG CUỘC ĐỜI ĐƯỢC ĐỔI THAY
“Chính Ta là Thiên Chúa đã làm những sự ấy”.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng có sức biến đổi! Được như thế, là nhờ sức mạnh có khả năng biến đổi con người vốn được nhìn thấy ngang qua những việc làm của Chúa Giêsu. Chính bởi quyền năng Thiên Chúa, Chúa Giêsu đã hoàn tất mọi sự cách tốt đẹp; nhờ đó, ‘những cuộc đời được đổi thay’.

Bài đọc Isaia cho thấy Chúa là một Thiên Chúa yêu thương, phép tắc, không ai sánh tày, “Chính Ta là Chúa, và không có Chúa nào khác; Ta đã dựng nên ánh sáng và tối tăm; dựng nên hạnh phúc và tai hoạ; chính Ta là Thiên Chúa đã làm những sự ấy”. Trong muôn vàn công trình Thiên Chúa thực hiện, việc ban Đấng Cứu Độ cho muôn dân vẫn là công trình vĩ đại nhất; Thánh Vịnh đáp ca lặp lại tâm tình đó, “Trời cao, hãy đổ sương mai! Ngàn mây, hãy mưa Đấng Công Chính! Đất hãy mở ra và trổ sinh Đấng Cứu Độ!”.

Qua Chúa Giêsu, Thiên Chúa đang tiếp tục ‘tạo tác, tôn tạo và tái tạo’. Người tạo tác vì Người là Đấng sáng tạo; tôn tạo vì Người luôn muốn những gì tốt đẹp được tốt đẹp hơn; và Người còn tái tạo những gì đã hỏng hóc, hư mất. Tin Mừng hôm nay kể lại những gì Chúa Giêsu viện dẫn để trả lời cho Gioan khi hai môn đệ ông được sai đến hỏi Ngài, Ngài có phải là Đấng phải đến không. Chúa Giêsu không trả lời trực tiếp, nhưng bảo, hãy về kể lại cho Gioan câu chuyện của ‘những cuộc đời được đổi thay’; kìa, người mù xem thấy, kẻ què được đi, người phung được sạch, người điếc được loan báo tin mừng và người chết sống lại… Đó là những câu chuyện của lòng thương xót, câu chuyện của ‘tạo tác, tôn tạo và tái tạo’ mà Thiên Chúa đã làm qua Chúa Giêsu.

Mặc dầu các phép lạ thể chất của Chúa Giêsu đã gây kinh ngạc về mọi mặt, nhưng chúng không chỉ là những gì thuộc quá khứ, được thực hiện một lần và không còn xảy ra. Sự thật là, những hành động biến đổi tương tự vốn vẫn liên tục xảy ra ngay hôm nay mà nhờ chúng, ‘những cuộc đời được đổi thay’ dưới muôn vàn hình thức. Điều này hẳn đã xảy ra với cuộc sống mỗi người chúng ta. Phải, nhờ quyền năng biến đổi của Chúa Kitô, chúng ta được đổi mới mỗi ngày. Chính Ngài đã mở mắt, mở tai chúng ta để chúng ta có thể thấy và nghe Ngài; Ngài đã dỡ bỏ những gánh nặng và tật bệnh xác hồn để mỗi người có thể đứng lên và đi tới; Ngài đã đưa chúng ta từ những cái chết tuyệt vọng đến cuộc sống mới hy vọng. Như thế, tất cả chúng ta, mỗi người đều trải nghiệm được quyền năng cứu độ của Thiên Chúa qua Chúa Giêsu trong cuộc đời mình.

Tiếp đến, sự biến đổi cuộc sống của chúng ta, đến lượt, phải trở thành một minh chứng liên tục cho quyền năng của Thiên Chúa và sức mạnh của Tin Mừng. Những người khác cần nhìn thấy làm thế nào, chúng ta được biến đổi; và nhất là, mỗi người cần trở nên một cuốn sách mở ra quyền năng của Chúa, để nhờ ân sủng Người, thế giới có thêm ‘những cuộc đời được đổi thay’.

Một bác sĩ tâm thần của nhà tù thất vọng thốt lên, “Tôi có thể chữa lành chứng điên của một người, nhưng không chữa được sự xấu xa của người ấy; cách duy nhất để khiến một người xấu trở nên tốt là cho họ tiếp xúc với Phúc Âm”. Charles Darwin, người có công với thuyết tiến hoá, cũng thừa nhận điều này; ông viết cho một thừa sai, “Công việc các ngài đã làm cho một ngôi làng trong vài tháng nhiều hơn gấp bội so với tất cả những nỗ lực của chúng tôi trong nhiều năm; chưa bao giờ chúng tôi có thể thu phục được một người say rượu, nhưng qua sự phục vụ tận tuỵ của các ngài, tôi không còn tìm thấy một người say nào trong làng!”. Sau đó, Darwin trở lại thăm hòn đảo Tierra del Fuego ở cực nam Nam Mỹ; những gì ông thấy trước đó, là một bộ tộc man rợ và thú tính… thế nhưng, sau khi một nhà truyền giáo đã làm việc giữa họ, họ được khai hoá; ông ngạc nhiên về sự đổi thay đó. Darwin thừa nhận, “Tin Mừng thực sự đã làm cho ‘những cuộc đời được đổi thay’”, và ông đã đóng góp rất nhiều với các thừa sai cho đến khi qua đời.

Anh Chị em,

Như một phương dược bổ dưỡng, Tin Mừng đang ướp lấy chúng ta mỗi ngày, chúng ta may mắn hơn thổ dân Nam Mỹ kia nhiều; và như thế, mỗi người phải được chữa lành và nhất định phải đổi thay. Cùng lúc, chúng ta trở nên một cuốn sách mở; qua đó, người khác có thể đọc thấy quyền năng biến đổi của Phúc Âm; và như vậy, tựa hai môn đệ của Gioan đã đến với Chúa Giêsu, những ai đến với chúng ta cũng có cơ may trở nên ‘những cuộc đời được đổi thay’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cảm tạ Chúa về bao cách thức Chúa đã biến đổi cuộc đời của con, nhất là biến đổi con bằng Lời Chúa; xin dùng con như một công cụ cho quyền năng biến đổi của Chúa; và qua con, Chúa sẽ chạm đến những cuộc đời, đó cũng sẽ là ‘những cuộc đời được đổi thay’”, Amen.

(Tgp. Huế)
 
Tin Giáo Hội Hoàn Vũ
Đức Hồng Y Raymond Burke: Virus Vũ Hán và Great Reset là thảm họa cho Giáo Hội và Thế giới
J.B. Đặng Minh An dịch
07:06 15/12/2020




Đức Hồng Y Raymond Burke đã cảnh báo rằng chủ nghĩa duy vật Mácxít hiện nay dường như đang “thống trị” Hoa Kỳ, và sáng kiến “Great Reset”, tức là “Đại Tái Lập”, của Diễn đàn Kinh tế Thế giới đang “thao túng các công dân và các quốc gia thông qua sự thiếu hiểu biết và sợ hãi”.

Để hiểu được những ý tưởng của Đức Hồng Y nguyên Chánh Tòa Ân Giải Tối Cao, xin được giải thích thêm như sau:

Sau khi lý thuyết cộng sản sụp đổ trên quy mô toàn thế giới, một lý thuyết mới lại xuất hiện có tên là “Great Reset”, do Giáo sư Richard Florida chủ xướng. Trên quan điểm của một nhà nghiên cứu về đô thị học, ông cho rằng nếu cứ tiếp tục như hiện nay, chỉ trong vài thập niên nữa, những người trẻ sẽ không thể kiếm đâu ra nhà để mướn.

Từ một nhận định khá vụn vặt và chưa chắc có khả năng xảy ra, ông khái quát hóa, và đề ra một thuyết mới gọi là Great Reset. Nói cho dễ hiểu reset là xoá bàn làm lại, là bác bỏ toàn bộ trật tự của thế giới hiện nay. Trong trật tự mới này, nhà nước được trao nhiều quyền hơn, nghĩa là nhiều quyền cơ bản các công dân đang được hưởng hiện nay bị xóa bỏ, trao cho nhà nước để thực hiện các quy hoạch tổng thể cho xã hội.

Tuy khác về nội dung nhưng cả lý thuyết cộng sản lẫn lý thuyết tân cộng sản “Great Reset” đều có hai điểm chung. Thứ nhất chúng muốn “reset”, nghĩa là “xóa bàn làm lại”, là lật nhào trật tự cũ thay bằng một trật tự mới. Thứ hai, chúng muốn triệt hạ niềm tin Kitô. Lý do dễ hiểu: niềm tin Kitô không thể tương hợp với chương trình nghị sự của chúng. Niềm tin Kitô không tán thành bạo lực cách mạng trong đấu tranh giai cấp. Niềm tin Kitô cũng không tán thành phá thai, không tán thành giết chết người già là những phương thế “Great Reset” đề nghị như một trong những cách thức chủ yếu để “điều hòa xã hội”.

Những người chủ trương thuyết “Great Reset”, mà chúng tôi tạm dịch là “Đại Tái Lập”, xem đại dịch COVID-19 như một cơ hội độc đáo, có một không hai, để cổ vũ cho thuyết này. Do đó, hồi tháng 5 năm nay, trong Diễn đàn Kinh tế Thế giới thuyết này được đưa ra và đang được thực thi từng phần bất cứ nơi nào khả thi. Một thí dụ điển hình là tại hàng loạt các quốc gia, ngay cả ở nhiều tiểu bang của Hoa Kỳ, những kẻ theo thuyết Đại Tái Lập đã lấy lý do tình trạng khẩn cấp do đại dịch coronavirus gây ra để đóng cửa các nhà thờ triền miên.

Chỉ 72 tiếng đồng hồ sau khi thủ tướng Canada và ứng cử viên tổng thống Joe Biden lên tiếng ủng hộ Great Reset, một thỉnh nguyện thư yêu cầu dừng ngay đề nghị này đã thu được chữ ký của 80,000 chính trị gia và các nhà khoa bảng trên thế giới.

Tuy nhiên, nhiều người vẫn đang mê man với thuyết tân cộng sản này. Cụm từ Great Reset được xem là một thuật ngữ thánh thiêng đến mức nếu ta viết từ ấy trên các mạng xã hội thì khả năng rất cao là thông điệp của chúng ta bị xóa bỏ khỏi các mạng ấy, hay nó sẽ trở thành nạn nhân của những tấn công hằn học từ nhiều phía.

Trong bài giảng Lễ Đức Mẹ Guadalupe ngày 12 tháng 12, Đức Hồng Y Burke cho biết “nhiều quốc gia khác” cũng đang ở trong “cơn khủng hoảng tương tự” và con người bị dẫn dụ tới suy nghĩ rằng họ phải tìm kiếm nơi một căn bệnh và cách phòng ngừa của nó để hiểu và định hướng cuộc sống của họ, chứ không phải là tìm kiếm nơi Thiên Chúa và kế hoạch của Ngài cho ơn cứu rỗi nhân loại.

Nguyên bản tiếng Anh có thể xem tại đây. Dưới đây là bản dịch sang Việt Ngữ.

Mở đầu bài giảng, Đức Hồng Y nói:

Ngợi Khen Chúa Giêsu Kitô!

Chúng ta đến với Đức Mẹ Guadalupe trong ngày lễ của Mẹ với tâm hồn phiền muộn và nặng trĩu. Quốc gia của chúng ta đang trải qua một cuộc khủng hoảng đe dọa tương lai tự do và dân chủ của chính nó. Sự truyền bá chủ nghĩa duy vật Mácxít trên toàn thế giới, vốn đã mang đến những hủy diệt và chết chóc cho cuộc sống của rất nhiều người, và đã đe dọa nền tảng của quốc gia chúng ta trong nhiều thập kỷ qua, giờ đây dường như đang nắm quyền thống trị đối với quốc gia của chúng ta. Để đạt được lợi ích kinh tế, với tư cách là một quốc gia, chúng ta đã tự cho phép mình trở nên phụ thuộc vào Đảng Cộng sản Trung Quốc, một ý thức hệ hoàn toàn trái ngược với nền tảng Kitô mà trên đó các gia đình và quốc gia của chúng ta vẫn còn được an toàn và thịnh vượng. Tôi đề cập đến Hoa Kỳ, nhưng rõ ràng là nhiều quốc gia khác cũng đang phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng tương tự rất đáng báo động.

Sau đó, lại có một thứ virus Vũ Hán bí ẩn về bản chất và cách phòng chống mà các phương tiện thông tin đại chúng hàng ngày đang ra rả cung cấp cho chúng ta những thông tin trái ngược nhau. Tuy nhiên, điều rõ ràng là nó đã được sử dụng bởi một số lực lượng nhất định, thù nghịch với định chế gia đình và tự do của các quốc gia, để thúc đẩy chương trình nghị sự xấu xa của họ. Những lực lượng này nói với chúng ta rằng chúng ta hiện là đối tượng của cái gọi là “Đại Tái Lập”, hay “Tiêu Chuẩn Mới”, trong đó thống trị thế giới bằng sự thao túng các công dân và các quốc gia thông qua sự thiếu hiểu biết và sợ hãi. Bây giờ, chúng ta được cho là phải tìm kiếm nơi một căn bệnh và cách phòng ngừa của nó để hiểu và định hướng cuộc sống của chúng ta, chứ không phải là tìm kiếm nơi Thiên Chúa và kế hoạch của Ngài cho ơn cứu rỗi của chúng ta. Phản ứng của nhiều Giám mục và linh mục, và của nhiều tín hữu đã cho thấy sự thiếu hiểu biết một cách tồi tệ về giáo lý đúng đắn. Rất nhiều người trong Hội Thánh dường như không hiểu về cách Chúa Giêsu tiếp tục công việc cứu rỗi của Ngài trong thời kỳ dịch bệnh và các thảm họa khác.

Hơn nữa, Giáo hội Mẹ thánh thiện của chúng ta, Hiền Thê không tì vết của Chúa Kitô, qua đó Chúa Kitô luôn tác động để ban ơn cứu rỗi đời đời cho chúng ta, đang bị bao vây bởi các báo cáo về sự băng hoại đạo đức, dường như đang tăng lên mỗi ngày, đặc biệt là trong các vấn đề liên quan đến Điều răn thứ sáu và thứ bảy. Tại quốc gia của chúng ta, các báo cáo về Theodore McCarrick thật sự đã cám dỗ nhiều người Công Giáo mộ đạo quay sang chất vấn các mục tử của họ, là những người, theo kế hoạch của Chúa Kitô dành cho Giáo hội, là những người hướng dẫn an toàn cho họ bằng cách dạy bảo họ các chân lý đức tin, hướng dẫn họ thế nào là thờ phượng Đức Chúa Trời cho xứng hợp và cầu nguyện với Ngài, và bằng cách hướng dẫn họ tuân theo các kỷ luật truyền thống của Hội Thánh.

Quá thường, các tín hữu chẳng nhận được hồi đáp hoặc chỉ nhận được một phản hồi không dựa trên những chân lý bất biến về đức tin và luân lý. Họ nhận được phản hồi dường như không phải từ những mục tử, nhưng từ những người quản lý thế tục. Sự bối rối liên quan đến những gì Giáo Hội thực sự dạy bảo và đòi hỏi nơi chúng ta, phù hợp với giáo huấn của Giáo Hội, tạo ra sự chia rẽ lớn hơn bao giờ hết trong Nhiệm Thể Chúa Kitô. Tất cả những điều này làm tê liệt Giáo hội trong sứ mệnh làm chứng cho chân lý thánh thiện và tình yêu của Thiên Chúa vào thời điểm mà thế giới cần Giáo hội như một ngọn hải đăng hơn bao giờ. Khi tiếp xúc với thế giới, Giáo hội muốn hòa mình vào thế giới một cách sai lầm, thay vì kêu gọi thế giới hoán cải để tuân theo luật Thiên Chúa được viết trên trái tim mỗi con người và được bày tỏ trọn vẹn trong Sự Nhập Thể Cứu Chuộc của Con Thiên Chúa.

Dĩ nhiên, những rắc rối đau buồn này là một thách đố chông gai đối với đời sống Kitô hữu thường nhật của chúng ta. Tác động của cuộc khủng hoảng trên thế giới và trong Giáo hội rất sâu sắc đối với tất cả chúng ta. Nhiều người đang phải chịu đựng những đau khổ đau đớn nhất, về thể chất, tình cảm và tinh thần, mà hoàn cảnh đó chắc chắn gây ra. Vào thời điểm mà chúng ta cần gần gũi nhau nhất trong tình yêu Kitô, các thế lực thế gian lại muốn cô lập chúng ta và khiến chúng ta tin rằng chúng ta cô đơn và phụ thuộc vào các thế lực thế tục; điều đó sẽ khiến chúng ta trở thành nô lệ cho các chương trình nghị sự giết người và vô thần của chúng.

Nhưng chúng ta không đơn độc. Với đức cậy, chúng ta mang trái tim nặng trĩu của mình đến với Mẹ Đồng trinh của Thiên Chúa, Mẹ của chúng ta trong Giáo hội. Mẹ lôi kéo chúng ta đến với Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội của Mẹ, và chúng ta hành hương đến với Mẹ trong ngày Lễ Trọng Đức Mẹ Guadalupe. Mẹ nói với chúng ta như khi Mẹ nói với Thánh Juan Diego, lúc thánh nhân dường như cũng đang bị đánh bại bởi căn bệnh hiểm nghèo của người chú Juan Bernardino của mình, là người mà thánh nhân đang sống chung và là người mà thánh nhân đang chăm sóc. Thánh nhân cũng đang bị đánh bại trước thử thách quá lớn khi phải gánh vác công việc lớn lao mà Đức Mẹ muốn giao phó cho ngài. Trước những biểu hiện bất lực và bất khả thi của thánh nhân, Đức Mẹ đã đáp lại:

Ta không có ở đây sao? Ta là người có vinh dự được làm mẹ của con. Con không ở trong bóng che của Mẹ và dưới sự bảo vệ của Mẹ sao? Mẹ không phải là nguồn vui của con sao? Con không ở trong áo choàng của Mẹ, không ở trong vòng tay của Mẹ sao? [1]

Đức Mẹ cũng nói những lời này với chúng ta ngày hôm nay.

Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội là người phụ nữ mặc áo mặt trời với hài nhi được tiền định để giải cứu thế giới khỏi sức mạnh của ma quỷ. Mẹ bày tỏ cho chúng ta biết chân lý, mà Sách Khải Huyền đã làm chứng rằng, khi vừa hạ sinh Con Thiên Chúa, “Con bà được đưa ngay lên Thiên Chúa, lên tận ngai của Người”. [2] Mẹ bảo đảm với chúng ta rằng qua sự Nhập thể Cứu chuộc của Con Thiên Chúa, Chúa Cha thực sự đã hoàn thành lời hứa về ơn cứu rỗi đời đời của Ngài, lời hứa được lặp lại qua những lời của Tiên tri Dacaria: “Này đây, Ta sẽ đến ở giữa các ngươi, Chúa phán”. [3]

Chúng ta hợp nhất trái tim nặng trĩu của chúng ta với Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội của Mẹ Thiên Chúa, Mẹ của chúng ta, Đấng mà Tổng Lãnh Thiên Thần Gabriel đã thật chính đáng khi gọi là đấng “đầy ân sủng”. [4] Giữa chập chùng bao nhiêu những sự dữ, Đức Mẹ Đồng Trinh của Thiên Chúa đón nhận tâm hồn chúng ta và đưa tâm hồn chúng ta đến với nguồn chữa lành và sức mạnh, là Thánh Tâm Chúa Giêsu, là Thiên Chúa và là con người, là Chúa Con và là Con Mẹ. Mẹ hướng dẫn chúng ta nâng tâm hồn lên cùng Trái Tim vinh quang bị đâm thâu qua của Chúa Giêsu, Đấng duy nhất có thể ban ơn cứu rỗi cho chúng ta.

Chính vì những lúc gian truân như thế này mà Đức Mẹ đã mong muốn ngôi nhà của Mẹ được xây dựng ở đây, là nơi Mẹ đã thu hút vô số linh hồn đến với Con Mẹ, Đấng Cứu Rỗi của chúng ta, với những lời như: “Hãy làm bất cứ điều gì Ngài bảo các anh”. Nơi tôn nghiêm này của Mẹ là một ngọn hải đăng thu hút chúng ta đến ơn cứu rỗi đời đời. Chính chúng ta, và Giáo Hội Hoàn Vũ cũng được mời gọi trở nên hình ảnh của một ngọn hải đăng phản chiếu rực rỡ ánh sáng của chân lý và tình yêu Thiên Chúa trong thế giới này, và phản chiếu thực tại của Chúa Kitô đang ngự bên hữu Chúa Cha trong vinh quang, và đồng thời đang ở giữa chúng ta.

Đúng là tâm hồn chúng ta đang nặng trĩu đấy, nhưng Chúa Kitô, qua sự chuyển cầu của Mẹ Đồng trinh của Ngài, đang nâng tâm hồn chúng ta lên với Ngài, đổi mới lòng tin cậy của chúng ta nơi Ngài, Đấng đã hứa ban cho chúng ta ơn cứu rỗi đời đời trong Giáo hội. Ngài sẽ luôn trung tín với những lời hứa của Ngài. Ngài sẽ không bao giờ bỏ rơi chúng ta. Chúng ta đừng để bị lôi cuốn bởi các thế lực của thế gian và bởi các tiên tri giả. Chúng ta đừng từ bỏ Chúa Kitô và tìm kiếm ơn cứu rỗi của chúng ta ở những nơi mà ơn cứu rỗi sẽ không bao giờ được tìm thấy. Chúng ta đừng bao giờ quên những lời mà Đức Mẹ đã tự nhận mình trong lần hiện ra đầu tiên với Thánh Juan Diego:

Hãy biết, và biết chắc chắn rằng con thân yêu nhất và là con trai út của mẹ, rằng Ta thực sự là Đức Trinh Nữ Maria muôn đời hoàn hảo, là người có vinh dự làm Mẹ của một Thiên Chúa thật duy nhất, Đấng mà nhờ Người tất cả chúng ta được sống, Đấng Tạo dựng loài người, Chúa của muôn loài xung quanh chúng ta và Chúa của những gì gần gũi với chúng ta, Chúa của Trời, Chúa của Đất.

Mẹ rất muốn người ta xây ngôi nhà nhỏ thánh thiêng của Mẹ ở đây, nơi đó Mẹ sẽ chỉ cho người ta thấy Ngài, Mẹ sẽ tôn vinh Ngài khi xin Ngài ra tay, Mẹ sẽ ban Ngài cho tất cả mọi người với tất cả tình yêu của Mẹ, Ngài là ánh mắt từ bi của Mẹ, Ngài là ơn phù trợ của Mẹ, Ngài là ơn cứu rỗi của Mẹ. [6]

Cầu mong cho Đền thờ Đức Mẹ Guadalupe ở đây luôn là một khí cụ xứng đáng để Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội của Đức Maria thu hút trái tim của chúng ta đến với Mẹ và đưa họ đến Trái Tim đã vinh quang bị đâm thâu qua của Chúa Giêsu, là nguồn mạch duy nhất để chữa lành và là sức mạnh trong cuộc sống này và cho đến cuộc sống đời đời.

Dưới lớp áo yêu thương của Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội của Đức Mẹ Guadalupe, giờ đây chúng ta hãy nâng trái tim nặng trĩu lên với Trái Tim Chúa Giêsu vinh quang bị đâm thâu qua. Với lòng tin tưởng rằng lời hứa cứu rỗi của Chúa dành cho chúng ta sẽ được hoàn thành, chúng ta hãy hoàn toàn dâng trái tim mình cho Ngài trong Hội Thánh của Ngài. Chúng ta hãy tin tưởng rằng trong Trái Tim Ngài, chúng ta sẽ tìm thấy ơn khôn ngoan và sức mạnh để sống trong những thời điểm khó khăn hiện nay với đôi mắt của chúng ta hướng về Ngài, và hướng đến ơn cứu rỗi mà qua đặc ơn làm Mẹ Thiên Chúa của Đức Trinh Nữ Maria, Ngài đã mang đến cho chúng ta trong thế giới.

Trái tim của Chúa Giêsu, ơn cứu rỗi của những người tin cậy nơi Ngài, xin thương xót chúng con.

Đức Mẹ Guadalupe, Mẹ của Hoa Kỳ và là Ngôi sao của Tân Phúc âm hóa, xin cầu cho chúng con.

Thánh Giuse, Quan thầy của Hội Thánh, xin cầu cho chúng con.

Thánh Juan Diego, xin cầu cho chúng con.

Nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Amen.

[1] “No estoy yo aquí, yo, que tengo el honor de ser tu madre? No estás bajo mi sombra y resguardo? No soy yo la fuente de tu alegría? No estás en el hueco de mi manto, en el cruce de mis brazos?” “El Nican Mopohua,” tr. Instituto Superior de Estudios Guadalupanos, in Carl A. Anderson y Eduardo Chávez, Nuestra Señora de Guadalupe. Madre de la civilización del amor (México, D.F.: Random House Mondadori, S.A. de C.V., 2010), tr. 220, n. 119. [Nican Mopohua]. Bản dịch tiếng Anh: “The Nican Mopohua,” trong Carl A. Anderson và Eduardo Chávez, Our Lady of Guadalupe: Mother of the Civilization of Love (New York: Doubleday, 2009), tr. 179, không. 119. [Nican Mopohua Eng].

[2] Kh 12: 5.

[3] Dacaria 2: 10.

[4] Lc 1: 28.

[5] Ga 2: 5.

[6] Know it, be sure, my son, the smallest, that I am truly the always perfect Holy Virgin Mary, that I have the honor of being the Mother of the most true God for whom one lives, the Creator of people, the Owner of closeness and immediacy, the Owner of heaven, the Owner of the earth.

I very much want, very much desire, that here my sacred house be erected, where I will show it, I will praise it by making it manifest, I will give it to the people in all my personal love, to Him who is my compassionate gaze, to Him who is my help, to Him who is my salvation. ” Nican Mopohua, p. 214, nn. 26-28. English translation: Nican Mopohua Eng, p. 173, us. 26-28.


Source:Edward Pentin
 
Tuyên bố của ĐTGM Salvatore J. Cordileone của TGP San Francisco: Không thể cho Joe Biden rước lễ
J.B. Đặng Minh An dịch
16:39 15/12/2020

Đức Tổng Giám Mục Wilton Gregory của tổng giáo phận Washington DC, người vừa được tấn phong Hồng Y hôm 28 tháng 11, đã gây ra những phản ứng mạnh khi tuyên bố rằng ngài sẽ cho ông Joe Biden được rước lễ trong tổng giáo phận của ngài; và sẽ đối thoại trực tiếp với Joe Biden. Trước đó, Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ đã cho biết về việc thành lập một ủy ban đặc nhiệm về các vấn đề liên quan đến Joe Biden.

Theo Đức Tổng Giám Mục Charles Chaput, tuyên bố này từ vị Hồng Yda đen đầu tiên của Hoa Kỳ có thể “gây ra tai tiếng cho các Giám Mục và các linh mục, và cho nhiều người Công Giáo đang quyết tâm trung thành với giáo huấn của Hội Thánh. Nó gây thiệt hại cho Hội Đồng Giám Mục, cho ý nghĩa của tính đồng đoàn, và cho kết quả công việc vận động của Hội Đồng với chính quyền tương lai”.

Viện dẫn sách giáo lý Công Giáo, và quyết định của Bộ Giáo Lý Đức Tin, Đức Tổng Giám Mục Charles Chaput cũng bác bỏ khả năng có thể cho ông Joe Biden được rước lễ.

Đức Tổng Giám Mục Samuel Aquila của Denver đã lên tiếng công khai ủng hộ tuyên bố này của Đức Tổng Giám Mục Charles Chaput.

Ngày 14 tháng 12, Đức Tổng Giám Mục Salvatore J. Cordileone của tổng giáo phận San Francisco đã ra tuyên bố sau.

Nguyên bản tiếng Anh có thể xem tại đây. Dưới đây là bản dịch toàn văn sang Việt Ngữ.



Trong một bài báo gần đây được đăng trên tờ First Things (tiếng Anh, tiếng Việt), Đức Tổng Giám Mục Charles Chaput, Tổng Giám Mục Hiệu Tòa của Philadelphia, đã đưa ra một giải thích minh bạch rất có giá trị về một số nguyên tắc đạo đức và giáo lý nền tảng đang được đặt ra rất nhiều trong thời đại của chúng ta, đó là, tệ nạn phá thai cực kỳ nghiêm trọng, giáo huấn nhất quán của Giáo Hội Công Giáo về sự xứng đáng để rước lễ, và trách nhiệm của người Công Giáo trong đời sống công cộng.

Ngoài bản ghi nhớ vào tháng 7 năm 2004 của Bộ Giáo lý Đức tin (Sự xứng đáng để Rước lễ: Các Nguyên tắc Chung) và Sách Giáo lý của Giáo Hội Công Giáo mà ngài trích dẫn trong bài báo của mình, chính các giám mục Hoa Kỳ cũng đã khẳng định lại những giáo lý vượt thời gian này trong thư mục vụ năm 2006, “Hạnh phúc cho những ai được gọi đến bữa ăn tối của Ngài”: Chuẩn bị đón nhận Chúa Kitô một cách xứng đáng trong Bí tích Thánh Thể. “

Tôi đồng ý tối đa với Đức Tổng Giám Mục Chaput khi ngài nói, “Đây không phải là vấn đề ‘chính trị’, và những người mô tả nó như vậy hoặc là không hiểu biết hoặc cố tình gây ngộ nhận về vấn đề này. Đây là vấn đề thuộc trách nhiệm duy nhất của các giám mục trước Chúa về tính toàn vẹn của các bí tích”. Đặc biệt đáng quan ngại là hoàn cảnh của những người Công Giáo, những người nổi bật trong đời sống công cộng, chính vì ảnh hưởng to lớn của họ đối với việc hình thành các thái độ văn hóa và các giá trị đạo đức của xã hội chúng ta. Đó là nguyên nhân của một vụ tai tiếng không nhỏ khi những người này tự xưng là những người Công Giáo giữ đạo trong khi lại vận động cho những căn nguyên trực tiếp vi phạm phẩm giá vốn có của đời sống con người, và là một trong những chân lý tự nhiên cơ bản không thể thiếu trong giáo lý cốt lõi của đức tin Công Giáo.

Tôi cầu nguyện rằng bài báo kịp thời và sâu sắc này của Đức Tổng Giám Mục Chaput sẽ thúc đẩy một cuộc thảo luận và giải quyết những vấn đề này một cách thẳng thắn và trung thực hơn giữa các mục tử của Giáo hội và những giáo dân nổi bật trong đời sống công cộng ở đất nước chúng ta.

+ Đức Tổng Giám Mục Salvatore J. Cordileone

Tổng Giám Mục San Francisco.



Source:Archdiocese of San Francisco.
 
Top Stories
Hung Hoa: le plus grand diocèse du Vietnam appelle les catholiques à évangéliser
Églises d'Asie
09:38 15/12/2020
Le 8 décembre au nouvel évêché de Son Tay, près de Hanoï, dans le nord du Vietnam, près de 2 000 catholiques vietnamiens ont célébré la solennité de l’Immaculée Conception et la messe d’ouverture d’une année jubilaire, à l’occasion du 125e anniversaire du diocèse de Hung Hoa. Mgr Alfonse Nguyen Huu Long, évêque de Vinh et responsable de la Commission sur l’évangélisation de la Conférence épiscopale vietnamienne, a rappelé qu’à la fondation du diocèse en 1895, on comptait près de 17 000 catholiques pour 11 paroisses et 25 prêtres. Aujourd’hui, ils sont 258 000 pour 116 paroisses, soit 3,9 % de la population locale.

Les catholiques du diocèse de Hung Hoa, dans le nord du Vietnam, ont été invités à suivre l’exemple des fidèles de l’ethnie Hmong au service de l’évangélisation, alors que le diocèse célébrait le 125e anniversaire de sa fondation, le 8 décembre 1895. Près de 2 000 personnes ont participé à la messe d’ouverture d’une année jubilaire lancée pour le diocèse de Hung Hoa en l’honneur des 125 ans du diocèse. La célébration a été célébrée en plein air malgré le froid, au nouvel évêché de Son Tay (près de Hanoï). Mgr Pierre Nguyen Van Vien, administrateur apostolique du diocèse de Hung Hoa, présidait la messe, célébrée le jour de la solennité de l’Immaculée Conception, la patronne du diocèse, aux côtés de trois autres évêques et d’environ 150 prêtres. Dans son homélie, Mgr Alfonse Nguyen Huu Long, évêque de Vinh et responsable de la Commission épiscopale sur l’évangélisation de la Conférence des évêques du Vietnam, a rappelé que les catholiques de Hung Hoa ont reçu le catholicisme il y a environ 400 ans, et qu’à la fondation du diocèse en 1895, on comptait près de 17 000 catholiques pour 11 paroisses et 25 prêtres.

Aujourd’hui, le diocèse couvre neuf provinces et une partie de Hanoï, avec 258 000 catholiques pour 116 paroisses, soit environ 3,9 % de la population locale. « Aujourd’hui, l’évangélisation est une mission urgente à laquelle nous devons tous participer, parce que les catholiques ne représentent qu’une petite proportion de la population totale », a poursuivi Mgr Long, en précisant que même si le diocèse est servi par 162 prêtres, 420 religieux et religieuses et 3 880 catéchistes, on n’a compté qu’environ 1 700 nouveaux baptisés cette année à Hung Hoa. L’évêque a ajouté que cette situation n’est pas reluisante pour ceux qui n’ont jamais amené personne à l’Église durant leur vie, parce qu’ils peuvent être comparés à des figuiers sans fruits. « J’aimerais appeler chacun d’entre vous à entreprendre cette mission d’évangélisation comme notre priorité, tout au long de cette année jubilaire. »

20.000 catholiques Hmong à Hung Hoa

Le père Pierre Nguyen Truong Giang, responsable adjoint du Comité pastoral pour les minorités ethniques du diocèse, reconnaît que l’évangélisation est un enjeu majeur pour l’Église locale, alors que près de la moitié des nouveaux baptisés de cette année sont issus de la communauté Hmong, qui compte environ 20 000 catholiques. Le père Giang, curé de la paroisse de Lao Chai, dans la province de Lao Cai, se dit attristé de voir que l’ethnie majoritaire, la communauté Kinh, qui compte 230 000 personnes, n’amène que peu de personnes à l’Église. « Les Kinhs devraient suivre le bon exemple des catholiques Hmong », ajoute-t-il. Mgr Vien, qui assume la responsabilité du diocèse depuis septembre dernier, a déjà effectué plusieurs visites pastorales auprès des communautés catholiques minoritaires vivant dans les régions reculées de neuf provinces locales. Il souligne que le diocèse compte de nombreux groupes ethniques et religieux avec une grande variété culturelle, et que les catholiques de Hung Hoa ont l’opportunité de témoigner de la Bonne Nouvelle auprès de nombreuses personnes d’autres religions.

« J’ai été vraiment impressionné quand j’ai célébré le baptême de 51 villageois Hmong de la paroisse de Phinh Ho, en novembre », confie l’évêque, qui reconnaît les nombreux efforts des prêtres, religieuses et missionnaires locaux au service de l’évangélisation. Joseph Sung Say Chu, un responsable laïc de la paroisse de Phinh Ho, de l’ethnie Hmong, explique que le 8 décembre, il a parcouru 270 km avec d’autres paroissiens pour participer à la messe. « Les Hmongs vivent dans la pauvreté, mais ils sont pratiquants et ils parlent de leurs valeurs catholiques avec les autres », assure ce père de cinq enfants. Joseph Chu ajoute que les missionnaires Vincentiens ont travaillé avec leur communauté pendant plusieurs décennies, en construisant des routes, des ponts et des sanitaires qui ont amélioré leurs conditions de vie. Aujourd’hui, les deux paroisses de Tram Tau et de Giang La Pan comptent 10 prêtres Vincentiens pour environ 5 000 catholiques de l’ethnie Hmong, dans la province montagneuse de Yen Bai. Avant la messe d’ouverture de l’année jubilaire, des catholiques des ethnies Dao, Hmong Muong, Tay et Thaï ont organisé des chants et des danses traditionnelles. Les évêques présents ont également inauguré le nouvel évêché de Son Tay.

(Source: Églises d'Asie - le 15/12/2020, Avec Ucanews, Hanoï)
 
Tin Giáo Hội Việt Nam
Thánh Lễ Chúc Phong Viện Phụ của Đan Viện Thánh Mẫu Khiết Tâm, Phước Lý, Xuân Lộc
Nt Teresa Ngọc Lễ, O.P
11:22 15/12/2020
Sáng Thứ Bảy ngày 12 tháng 12 năm 2020, Đức Cha Giuse Đinh Đức Đạo, Giám Mục Xuân Lộc đã chủ tế Thánh Lễ và Nghi Thức Chúc Phong Viện Phụ cho Đan sĩ Linh Mục Maria Vinh sơn Liêm Nguyễn Hồng Thanh tại Đan viện Thánh Mẫu Khiết Tâm Phước Lý.

Xem Hình

Cùng đồng tế với Đức Giám Mục Giáo Phận trong Thánh Lễ có các Viện Phụ, linh mục đan sĩ của Hội Dòng Xi-tô Thánh Gia Việt Nam, quý Cha trong và ngoài Giáo Phận, cũng như quý Cha các Dòng tu có sự liên hệ với Tân Viện Phụ Maria. Thánh Lễ càng tăng thêm bầu khí sốt sắng với lời tạ ơn Thiên Chúa và cầu nguyện cho Tân Viện Phụ của quý đan sĩ, quý tu sĩ, Ông Bà Cố và gia đình của Tân Viện Phụ, và các khách mời như chính những tâm tình mời gọi của Đức Cha Giáo Phận với cộng đoàn trước khi bước vào Thánh Lễ. “Chúng ta họp nhau nơi đây, cử hành Thánh Lễ để tạ ơn Thiên Chúa vì đã ban cho Đan viện có Viện phụ mới, để tiếp tục hành trình hướng dẫn Đan viện theo ý Chúa…Cầu nguyện cho Tân Viện Phụ được Chúa tuôn đổ mọi ơn lành.” Đặc biệt, để làm nổi bật sự nối kết hiệp thông toàn Giáo phận với Đan viện, Ngài thêm “Giáo phận hiệp ý dâng lời tạ ơn, và cầu nguyện cùng với Đan viện.”

Trong bài giảng Thánh Lễ khởi đi từ bài Tin Mừng Luca 22, 24-27, Đức Cha Giuse đã suy niệm về chủ đề “quyền bính và sự phục vụ”, “tinh thần và tình yêu mật thiết với Chúa Giêsu của người lãnh đạo”.

Nếu các môn đệ của Chúa Giêsu, trước đó còn đang sống theo tinh thần thế gian với việc tìm kiếm quyền bính để cai trị, thì Chúa Giêsu đã dạy cho các môn đệ hiểu được người “lớn nhất” theo Tin Mừng là người thế nào, họ làm gì. Người “lớn nhất”, người lãnh đạo trong Giáo Hội của Chúa Giêsu là người đi tới tận cùng ý nghĩa của “quyền bính là để phục vụ.” Tiếp sau đó, lấy hình ảnh của hai cụm từ “đầy tớ” và “vô dụng” trong Luca 17,10, Đức Cha tiếp tục bài giảng suy niệm và liên hệ tinh thần của người lãnh đạo khi họ vẫn thưa với Chúa “Chúng tôi là những đầy tớ vô dụng”. “Đầy tớ”, là trước hết, đặt mình vào trong tương quan với “ông chủ”. Người đầy tớ không tự làm theo ý mình, nhưng theo ý chủ, thi hành những phận vụ phải làm, được giao. Và như thế, “tinh thần của người lãnh đạo sẽ được nâng lên bậc mới, nói lên tương quan của chúng ta với Chúa: không chỉ là đồng hình, đồng dạng với Chúa, mà còn là đồng cảm với Chúa nữa.” Còn “vô dụng” thì sao? Đức Giám Mục diễn giải “khi chúng ta bầu chọn ai đó làm lãnh đạo, thì người đó không có khả năng, chúng ta không có khả năng sao? Không phải thế, người được là có khả năng, nhưng “vô dụng” ở đây được hiểu như là, nếu con không làm, “ông chủ” sẽ bảo người khác làm, có người khác làm thay, chứ không phải chỉ là mỗi một mình chúng ta mới có thể làm được.” Và như vậy, “chúng ta biết rằng, tất cả những gì chúng ta làm cũng là nhờ Chúa giúp, tất cả đều nhờ hồng ân Chúa ban.”.

“Người lãnh đạo phải có được tình yêu mật thiết với Chúa” là ý suy niệm tiếp theo lấy từ Tin Mừng Gioan 21, 15-19. Đức Cha chia sẻ “Tất cả đời sống lãnh đạo trong Giáo Hội phải được nối nguồn với Chúa Giêsu. Chính khi được nối nguồn với Chúa Giêsu, con tim của người lãnh đạo sẽ sáng rực. Và như thế, chúng ta sẽ chiếu sáng cho người khác bằng ánh sáng của Chúa, chứ không phải bằng ánh sáng của mình.”

Đặc biệt trong bài giảng hôm nay, Đức Cha tâm tình rằng, những chia sẻ của ngài không phải chỉ để dành nhắn gửi đến Tân Viện Phụ, nhưng còn muốn chia sẻ đến các cha xứ, các bậc cha mẹ trong vai trò mỗi người, dù khác nhau về đối tượng phục vụ, nhưng tất cả đều cùng đi trong một tinh thần, linh đạo phục vụ như Chúa muốn.

Sau bài giảng, Đức Cha đã chủ sự Nghi thức Chúc phong Viện Phụ với sự tham dự hiệp thông của quý Viện phụ, quý Viện trưởng, quý cha và toàn thể cộng đoàn. Trong nghi thức Chúc Phong đặc biệt này, cộng đoàn lần lượt được mời gọi hiệp thông tâm tình cầu nguyện trong từng phần của nghi thức diễn ra.

Nghi thức Chúc phong Viện Phụ bắt đầu bằng việc giới thiệu vị được tiến cử với Đức Giám Mục. Tiếp sau việc chấp nhận lời giới thiệu và lời thỉnh cầu chúc phong Viện phụ của hai linh mục đan sĩ của Đan viện, Đức Giám Mục đã thẩm vấn Vị được giới thiệu tiến cử. Nghi thức được chuyển tiếp với Kinh Cầu Các Thánh, để nhờ các Thánh chuyển cầu, Thiên Chúa sẽ tuôn đổ mọi ơn lành đặc biệt trên Vị sắp được Chúc Phong Viện Phụ. Sau đó, Đức Giám Mục đã đọc Lời nguyện Chúc Phong, khẩn nài Thiên Chúa tuôn đổ mọi ơn lành xuống trên tiến chức. Các nghi thức còn lại được cử hành diễn tả sứ mạng của Tân Viện Phụ như trao sách Thánh Luật (ghi lại những Luật thánh do các Tổ phụ truyền lại), trao Nhẫn (biểu tượng lòng trung tín, gìn giữ Đan viện của ngài trong tình huynh đệ), trao Mũ và Gậy (trở nên như người chủ chăn, chăm sóc anh em, giống như Đấng đến để phục vụ, chứ không phải để được phục vụ). Trước khi kết thúc nghi thức Chúc Phong, Đức Giám Mục- trong vai trò chủ phong- đã trao ôm bình an cho Tân Viện Phụ, biểu lộ sự hiệp thông và niềm vui. Tân Viện Phụ cũng nhận được những tình yêu thương từ Viện phụ Trưởng, quý Viện Phụ, quý Cha Viện trưởng trong Hội Dòng Xi –tô Thánh Gia qua việc biểu tỏ sự trao ôm bình an.

Sau Nghi thức Chúc Phong, Thánh Lễ tiếp tục với phần Cử hành Thánh Thể. Đứng cạnh Đức Cha chủ tế lúc này đã có thêm sự hiện diện của Tân Viện Phụ Maria, như nói lên ý nghĩa mang tính hiện thực, bởi từ nay, ngài sẽ hy tế chính mình nhiều hơn, để thông hiệp và cộng tác vào Hy Tế Cứu Chuộc của Chúa Giêsu Kitô, Đấng đã tự hiến cho đến tận cùng vì đàn chiên của Ngài.

Trong niềm vui và lòng biết ơn, trước khi nhận lãnh phép lành cuối lễ từ Đức Cha, Tân Viện Phụ Maria đã dâng lên Đức Cha Giáo Phận lời tri ân trong hồng phúc mà ngài vừa lãnh nhận. Vị Tân Viện Phụ cũng cám ơn đến tất cả quý Viện Phụ, Viện trưởng, quý Cha, quý đan sĩ, quý tu sĩ, Ông Bà Cố và gia đình, cũng như mọi ân nhân, khách mời của Đan viện và của ngài.

Đáp lại những tâm tình tri ân của Tân Viện Phụ, Đức Cha Giáo Phận cũng đã trao tặng Tân Viện Phụ món quà tinh thần quý giá và thật ý nghĩa là tượng gỗ Chúa Giêsu Mục Tử. Đồng thời, Đức Cha cũng đã cám ơn Đan viện Xi-tô Thánh Mẫu Khiết Tâm Phước Lý, cùng với tất cả các đan sĩ khi sự hiện diện và lời cầu nguyện của họ đã góp phần làm cho Giáo Phận Xuân Lộc có thêm sức sống của ân phúc, làm lan tỏa tình yêu của Chúa đến mọi người trong Giáo phận.

Phép lành cuối lễ của Đức Giám Mục Giáo Phận đã kết thúc một Thánh Lễ thật đặc biệt với biết bao hồng ân và niềm vui. Thế nhưng, Thánh Lễ ấy vẫn nối dài nơi những ai tham dự trực tiếp hay gián tiếp, đặc biệt trên Tân Viện Phụ của Đan Viện Xi-tô này.

Khẩu hiệu của Tân Viện Phụ Maria Vinh Sơn Liêm Nguyễn Hồng Thanh đã chọn cho sứ vụ mới của ngài: “Totus Dei et Fratum – Tất cả cho Chúa và cho Anh Em”.

Nt. Teresa Ngọc Lễ, O.P
 
Thông Báo
Phân ưu: Thân mẫu LM Nguyễn Trung Tây, SVD, qua đời tại Saigon
VietCatholic Network
13:59 15/12/2020
PHÂN ƯU
Trong niềm tin vào Chúa Kitô Phục Sinh, thành kính thông báo

Bà Cố Maria Hà Thị Phúc
là Thân mẫu LM Gioakim-Micae Nguyễn Quang SVD
(Cộng tác viên VietCatholic, bút danh Nguyễn Trung Tây)
Bà Cố sinh ngày 31-12-1924 tại Sài Thị, Hưng Yên, Việt Nam
Đã được Chúa gọi về lúc 6:23 chiều ngày 15.12.2020
tại Giáo Xứ Lộc Hưng, Tổng Giáo Phận Sài Gòn, Việt Nam.

Xin thành kính chia buồn với Cha Quang và Đại Tang Quyến:
Ông Cố: Gioakim Nguyễn Quang Hoạch (Qua đời)
Trưởng Nữ: Quả Phụ Maria Nguyễn Thị Thơm, Các Cháu và Chắt, Việt Nam và Hoa Kỳ
Thứ Nữ: Maria Nguyễn Thị Tho (Qua đời)
Trưởng Nam: Gioakim Nguyễn Quang Trung (Qua đời)
Thứ Nữ: Maria Nguyễn Thị Vị, Chồng, Các Cháu và Chắt, Việt Nam
Thứ Nữ: Maria Nguyễn Thị Vinh, Hoa Kỳ
Thứ Nam: Gioakim Nguyễn Quang Chính, Hoa Kỳ
Thứ Nam: Gioakim Nguyễn Quang Định, Vợ và Cháu, Hoa Kỳ
Thứ Nam: LM Gioakim-Micae Nguyễn Quang SVD; bút danh Nguyễn Trung Tây
Thứ Nữ: Maria Nguyễn Thị Tuyết, Chồng và Các Cháu, Hoa Kỳ


Xin Chúa thương đón nhận Linh Hồn Maria vào Thiên Quốc muôn đời.

LM Trần Công Nghị
và VietCatholic Network
 
Văn Hóa
Hồng Ân Belem
Đinh Văn Tiến Hùng
10:54 15/12/2020
“Trong vùng ấy có mục đồng ở ngoài trời và đêm khuya canh giữ đàn vật. Thiên Thần Chúa bỗng hiện đến với họ và vinh quang Chúa rạng ngời bao quanh họ, làm họ kinh sợ. Nhưng Thiên Thần nói với họ: Đừng sợ! Này ta đem tin mừng cho các ngươi về một niềm vui to tát, là niềm vui cho toàn dân: Hôm nay Vị Cứu Chúa là Đức Ki-tô, đã sinh ra cho các ngươi trong thành Đa-vít. Đây là dấu cho các ngươi sẽ gặp một Hài-Nhi vấn trong tã, đặt nằm trong máng cỏ” (Lc.2: 8- 12)


*Đã vang rền một thanh âm trong trẻo,
Trách ta làm điều ám muội tối đen,
Hãy tan đi ngàn mơ mộng hão huyền,
Từ trời thẳm, Đức Ki-tô giáng thế.

Chiên Thiên Chúa đã từ nơi thượng giới,
Xuống cõi trần đền tội vạ chúng ta,
Nào cùng nhau chạy đến lượng hải hà,
Xin tha thứ bằng lời kinh thấm lệ. - ( Thánh Thi )


Hài Nhi giáng trần! Hồng ân Be-lem,
Chúa Trời cao sang lại nhận khó nghèo,
Cũng vì thế nhân tràn đầy tội lỗi,
Ngôi Hai Cứu Thế ! Hãy đến mà xem !

Chúa Giáng thế như lời tiên báo trước,
Một đêm đông sương tuyết phủ đầy trời,
Hang Bê-lem máng cỏ đó là nơi,
Người sinh xuống mang xác thân nghèo khó,

Đem tình thương cùng nguồn ơn cứu độ,
Cho muôn loài cuộc sống mới hồi sinh
Từ không trung vang khúc nhạc thiên đình,
Trời sáng rực với muôn ngàn tinh tú.

Cả đất trời đầy hồng ân bao phủ,
Đêm thần diệu thật tràn ngập anh linh.
Từ trời cao Thần Thánh cúi nghiêng mình
Thờ lạy Chúa đã hạ sinh trần thế.

Đấng nhân loại đợi trông bao thế kỷ,
Nơi Hài Nhi nhập thể giữa đêm đông.
Các mục tử đang yên giấc ngoài đồng,
Chợt bừng tỉnh khi Thiên thần báo gọi:

“Hỡi các ngươi thức đậy mau đi tới
Để tôn thờ Con Thiên Chúa Giáng Sinh,
Cho các ngươi này dấu chỉ tôn vinh
Một Con Trẻ bọc mình trong máng cỏ”

Nơi chân trời một vì sao sáng tỏ,
Soi dẫn đường ba đạo sĩ phương đông,
Hành trình vạn dặm nhất quyết một lòng,
Tìm được Đấng mà muôn dân mong đợi.

Dâng tôn kính vàng,nhũ hương,mộc dược.
Lửa tin yêu đốt cháy cả tấm lòng,
Đấng Cứu Thế mà nhân loại chờ mong,
Đã sinh xuống qua Ngôi Lời Nhập Thể.

Nay Chúa đến đổi tâm hồn nhân thế,
Luôn tâm thành mến Chúa,yêu tha nhân.
Tiếng Bê-lem vang vọng khắp thế trần,
Lời Thiên sứ truyền tin trong Đêm Thánh :



“Vinh danh Thiên Chúa trên trời,
Bình an dưới thế cho người thiện tâm”

*Phụ dẫn :
Belem còn được gọi là Eprata nơi sinh của vua Đa-vít. Đó là một trong các thị trấn cổ nhất ở Palestina cách 12 dặm về phía đông nam. Dân số khoảng 30 ngàn. Giữa làng là Thánh đường Giáng Sinh. Cung thánh được xây trên hang theo truyền thống là nơi Chúa sinh ra. Có hai cầu thang xuống tầng hầm. Các cửa lớn Thánh đường được chặn lại để không cho người Hồi giáo xúc phạm. Do Constantinô xây năm 330. Thánh đường Giáng Sinh là một trong những kiến trúc Bizantin cổ nhất và là một trong những nhà thờ đầu tiên của Kitô giáo. Dưới tầng hầm có bàn thờ kính Chúa Giáng sinh, xây lùi vào trong tường. Nền nhà bằng cẩm thạch và phía dưới bàn thờ được khoét thành hình ngôi sao bạc, giữa ngôi sao là mẩu đá của hang nguyên thủy. Chung quanh ngôi sao là dòng chữ ‘ Đây là nơi Đức Giêsu Kitô được Đức
Trinh Nữ Maria sinh ra ‘- Nơi đây có 53 ngọn nến thắp sáng cả ngày và đêm. Tại đây có Thánh Lễ hàng ngày và các tín hữu quỳ trên nền nhà cẩm thạch dự Lễ.

ĐINH VĂN TIẾN HÙNG
 
Chúa Giêsu trong lịch sử văn hóa, Chương tám
Vũ Văn An
16:43 15/12/2020

Chúa Giêsu trong lịch sử văn hóa
Nguyên tác: Jaroslav Pelikan,
Bản tiếng Việt: Vũ Văn An





CHƯƠNG TÁM: Chúa Kitô chịu đóng đinh

Ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì, ngoài thập giá Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta ! Nhờ thập giá Người, thế gian đã bị đóng đinh vào thập giá đối với tôi, và tôi đối với thế gian

Các người theo Chúa Giêsu từ rất sớm đã đi đến kết luận cho rằng Người sống để chết, cái chết của Người không hề là việc gián đoạn sự sống của Người mà là mục đích tối hậu của nó (1).

Dù đọc một cách đại lượng nhất, các sách Tin Mừng cũng chỉ cho ta tín liệu về non một trăm ngày trong đời sống Chúa Giêsu; nhưng đối với hai hay ba ngày cuối đời Người, chúng cung cấp cho ta một khung cảnh rất chi tiết, gần như từng giờ. Và cao điểm của khung cảnh này là trình thuật Thứ Sáu Tuần Thánh và 3 giờ trên thập giá. Kinh Tin Kính Các Tông Đồ và Kinh Tin Kính Nixêa thừa nhận điều này khi chúng di chuyển thẳng từ việc Người được sinh hạ “bởi Nữ Trinh Maria” qua việc Người bị đóng đinh thời “Phôngxiô Philatô”. Điều được nói về nhà quí tộc Cawdor trong Macbeth có thể hết sức đúng đối với Chúa Giêsu “Không gì trong đời ngài/trở nên ngài như việc rời bỏ nó” (2).

Trước nhất, chính Tông đồ Phaolô là người đã nói đến vị thế khác biệt của cái chết trên thập giá. Ngài viết “Ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì, ngoài thập giá Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta ! Nhờ thập giá Người, thế gian đã bị đóng đinh vào thập giá đối với tôi, và tôi đối với thế gian” (Gl 6:14). Nhưng tin mừng thập giá vốn bàng bạc trong Tân Ước và nền văn chương Kitô giáo buổi sơ khai. Chúa Kitô là “Chiên Thiên Chúa, Đấng gánh tội trần gian” (Ga 1:29). Lời tiên tri của chương 53 Sách Isaia về người tôi tớ đau khổ “bị thương tích vì tội phạm của chúng ta, bị nghiền nát vì lỗi lầm của chúng ta” được giải thích là nói về Chúa Giêsu trên thập giá (3). Việc sử dụng dấu thập giá, như dấu hiệu của bản sắc và như phương thế xua trừ ma qủy, không được nhắc đến như thế trong Tân Ước; nhưng nó xuất hiện rất sớm trong lịch sử Kitô Giáo, và khi được nói đến, nó đã được coi là việc đương nhiên. Tertullianô tuyên bố rằng “Ở mỗi bước và chuyển động ra phía trước, ở mỗi lúc đi vào và đi ra... Ở mỗi hành động thông thường của đời sống hằng ngày, chúng ta đều làm dấu ấy trên trán chúng ta” và dấu thập giá trở thành chứng cớ hàng đầu cho thấy sự hiện hữu của một truyền thống không được ghi chép là: mọi người đều tuân giữ mặc dù không được truyền lệnh trong Kinh Thánh (4). Những người không thuộc về Giáo Hội không thể không lưu ý việc thực hành này. Hoàng đế Julian, người mà các Kitô hữu gọi là “Kẻ Bỏ Đạo” vì ông đã từ bỏ Kitô giáo của tuổi thiếu thời, đã phàn nàn với các Kitô hữu thế kỷ thứ tư rằng “các ngươi đã thờ lạy miếng gỗ chữ thập và vẽ hình nó trên trán các ngươi và khắc nó lên phía trước nhà các ngươi” (5); trong một tiểu thuyết được đọc nhiều nhất xuất bản trong Thế Chiến II, khi một con tầu bị đánh thủy lôi và sắp sửa chìm, một thủy thủ thấy một thủy thủ khác “tự làm dấu chữ thập, và nhớ ra anh ta là một người Công Giáo Rôma” (6); vào ngày 15 tháng 3 năm 1897, Gustav Mahler, khi thăm viếng Mạc Tư Khoa, nhận xét rằng người dân của nó “cực kỳ cuồng tín. Mỗi hai bước, lại có một tượng ảnh hoặc một nhà thờ, và mọi khách qua đường đều dừng lại, đấm ngực, và làm dấu chữ thập như thói quen ở Nga” (7) (“thói quen” làm như thế ở Nga, lẽ dĩ nhiên, là từ vai phải qua vai trái, thay vì từ vai trái qua vai phải như ở Tây Phương, và những người thích truyện trinh thám sẽ nhớ ra rằng nhiều điệp viên Tây Phương có giọng nói đặc Nga nhưng bị lộ tẩy chỉ vì lúc ở bàn ăn, làm dấu thập giá sai kiểu).

Như Mahler đã nhận xét ở Nga thời Nga hoàng, dấu thập giá Chúa Giêsu Kitô bàng bạc khắp nền văn hóa và truyện dân gian của các quốc gia Âu Châu thời Trung Cổ: nền văn chương, âm nhạc, nghệ thuật, và kiến trúc của họ hơn bất cứ biểu tượng nào khác. Để đem lại ít nhất một tính gắn bó nào đó cho những hình thức pha trộn của ảnh hưởng thập gía trong nền văn hóa thời Trung Cổ, điều hữu ích là lưu ý tới sự phân biệt vốn phát xuất từ Thánh Tông Đồ Phaolô. Ngài viết “Chúng tôi rao giảng Đấng Kitô bị đóng đinh... sức mạnh và sự khôn ngoan của Thiên Chúa” (1Cr 1:23-24). Vì, sau cùng, như Thánh Augustinô thấy trong lúc giải thích các từ ngữ này, mặc dù, không có sự phân chia rõ ràng trong cách sử dụng của Kinh Thánh giữa sức mạnh và sự khôn ngoan của Thiên Chúa, nhưng sự phân biệt quả có ích (8).

Như sức mạnh của Thiên Chúa, dấu thập giá là bùa chống sự ác. Hạnh các thánh thời Trung Cổ, cả Đông Phương lẫn Tây Phương, đều đầy rẫy các câu truyện nói đến sức mạnh kỳ diệu của nó. Trong một ngụy thư Tông Đồ Công Vụ, chẳng hạn, việc làm dấu thập giá trên chiếc cửa đang khóa khiến nó được mở ra cách lạ lùng để các tông đồ bước vào; và trong một Hạnh Tử Đạo, nó đã thành công trong việc làm một con chó hết sủa (9). Thánh Augustinô tường thuật rằng một người đàn bà ở Carthage, bị chứng ung thư vú, “trong một giấc mơ, được dạy đứng chờ người đàn bà đầu tiên ra khỏi giếng rửa tội sau khi được rửa tội, và xin bà ta làm dấu Chúa Kitô (dấu thập giá) trên vết thương của mình. Bà làm theo và được khỏi bệnh ngay lập tức” (10). Remaclus, một nhà truyền giáo Kitô hữu thế kỷ thứ bẩy, làm dấu thập giá trên một con suối dâng kính các thần minh ngoại giáo, lập tức đuổi được các thần minh này đi và thanh tẩy nguồn nước (11). Trong thực hành luật pháp thời Trung Cổ, “cách thử tội bằng thập giá [judicium crucis]” đã trở thành một phương thế để giải quyết các tranh chấp; do đó, một bộ luật thế kỷ thứ 8 đã dự liệu “nếu một người đàn bà cho rằng chồng bà không bao giờ ở với bà [tức là cuộc hôn nhân không bao giờ được hoàn hợp], hãy để họ tới cây thập giá; nếu đúng như thế, hãy để họ ly thân” (12). Trong một số nền văn chương bình dân, đặc biệt thường xuyên là các câu truyện về việc thập giá đã cung cấp việc chữa lành các bệnh tật và thương tích ra sao. Chỉ nhìn thấy thập giá cũng đủ chữa cơn sốt hay làm dịu cơn cuồng loạn. Chúng ta thấy nhiều tường trình về những chứng chẩy màu ngoài chiến trường hay trong các cuộc thi đấu của hiệp sĩ mà không chiếc băng nào có thể cầm máu được ngoại trừ thập giá. Đôi khi thập giá còn thành công cả trong việc làm người chết sống lại. Trong văn chương bình dân của người Slav và vùng Transylvania, tượng chịu nạn có sức mạnh đặc biệt trừ ma hút máu người, được mô tả sống động trong Dracula, cả tiểu thuyết lẫn phim ảnh.

Như thí dụ sau cùng gợi ý, ta thấy có một sự liên kết mật thiết giữa việc dùng thập giá này (nhiều việc, ít ra, chắc chắn gần như ma thuật) và niềm tin thời xưa và thời trung cổ đối với sự hiện hữu và sức mạnh của ma qủi. Trong 1 bài thơ trào phúng quen thuộc trích từ Shirley Jackson Case, “bầu trời xuống thấp trên thế giới cổ thời”. Việc mô tả tiếp nối như sau:

“Lưu thông khá nặng nề trên xa lộ giữa trời và đất. Các thần minh và thần trí dầy đặc bầu không khí trên cao, nơi các ngài luôn ở thế sẵn sàng can thiệp vào vụ việc của những kẻ tử sinh. Và quyền lực ma qủy, xuất phát từ thế giới hạ cấp hoặc là cư ngụ tại các vùng xa xôi hẻo lánh trên trái đất luôn là một đe dọa không ngừng đối với phúc lợi con người. Toàn bộ thiên nhiên đang sinh động – sinh động với các lực lượng siêu nhiên”.

Có thể nói được rằng, Kitô giáo thời trung cổ đã tăng cường niềm tin trên vào sức mạnh của ma quỉ, nhưng nó cũng cung cấp nhiều bùa phép để phá vỡ sức quyến rũ của nó: nước thánh, các thánh tích (relic), các câu thần chú, Mình Thánh, và trên hết, dấu thập giá. Những điều này đã trở thành cỗ xe chuyên chở quyền lực Thiên Chúa chống lại ma qủi. Trong số này, thập giá đồng thời với việc được dùng như một thứ bùa hộ mạng đầy ma lực nhưng, vì luôn được liên kết chặt chẽ với việc đóng đinh Chúa Giêsu, nên có thể hành động như một nhắc nhở, ít nhiều hữu hiệu, rằng quyền lực chống ma qủi và bệnh tật không hệ ở bùa hộ mạng hay cử chỉ, mà đó thực sự là quyền năng của Thiên Chúa, một vị Thiên Chúa đã xuống thế trong cuộc đời và cái chết của Chúa Giêsu để phá vỡ quyền lực sự ác.

Trường hợp đặc biệt là quyền năng có sẵn trong thánh tích cây thập giá thực sự. Những thánh tích này không được biết đến trong ba thế kỷ đầu tiên, nhưng trong thập niên 350, người ta bắt đầu nhắc đến chúng (14). Mặc dù Eusebiô thành Xêdarê, nguồn thông tri quan trọng nhất của chúng ta về Constantinô và gia đình ông, không hề nhắc đến việc này, nhưng việc khám phá ra cây thập giá ở Giêrusalem được gán cho Thánh Helena, mẹ của Hoàng đế Constantinô, trong khá nhiều dịch bản dã sử khác nhau. Ở một căn phòng bên dưới Nhà Thờ Mộ Thánh hiện nay, người ta nói bà đã tìm thấy, không phải một mà là ba cây thập giá. Nhờ linh hứng của Chúa, bà giải quyết được việc xác định cây nào là cây đích thực bằng cách đặt từng cây vào thân xác người đã chết: cây nào phục sinh người chết hẳn phải là cây thập giá đích thực (15). Sau khi đã khám phá ra cây thập giá, nhà biên niên sử Socrates Scholasticus nói với chúng ta:

“Mẹ của hoàng đế xây tại chỗ mộ Chúa một nhà thờ lộng lẫy... Ở đấy, bà để lại một phần cây thập giá, đặt trong một hộp bằng bạc, làm đồ tưởng nhớ cho những ai muốn được nhìn thấy nó. Phần còn lại bà gửi cho hoàng đế; ông này, vì tin chắc rằng thành phố sẽ an toàn được an ninh khi gìn giữa thánh tích, nên, một cách tư riêng, đã cho lồng nó vào chính bức tượng của mình... ở Constantinople... Hơn nữa, các chiếc đinh dùng để đóng các bàn tay của Chúa Kitô vào thập giá (vì mẹ ông, sau khi cũng đã tìm thấy chúng ở mộ thánh, đã gửi về cho ông) được Constantinô lấy và làm thành giải cương ngựa và chiếc nón sắt dùng cho các viễn chinh quân sự của ông” (16).

Nhưng hai mảnh này của thập giá đích thực, một ở Giêrusalem và một ở Constantinople, không phải là những mảnh duy nhất. Ngay từ năm 350, chúng ta đã thấy Thánh Cyrilô thành Giêrusalem vốn đã xác quyết với những kẻ bác bỏ việc đóng đinh rằng “cả thế giới từ đó đã tràn đầy các mảnh của cây thập giá” (17). Chúng ta đã nghe nhắc đến những mảnh gỗ này ở Cappadocia và Antiokia trong hậu bán thế kỷ thứ tư, và đến đầu thế kỷ thứ năm, ở Gaul; giữa thế kỷ này, thượng phụ Juvenal của Giêrusalem đã gửi một mảnh cho Đức Giáo Hoàng Lêô I ở Rôma. Đức Giáo Hoàng Grêgôriô I, người đã qua đời năm 604, tặng một mảnh cho nữ hoàng Lombards là Theodelinde, và cho Recared I, Vua người Visigoths, người đã trở lại Công Giáo. Việc khám phá ra (hay “phát kiến” như trong tiếng Latinh và một cách vô ý cả tiếng Anh nữa thường gọi) cây thập giá của Helena đã trở thành một ngày trong lịch Giáo Hội thời Trung Cổ, triều đại Carolingian, và được tuân giữ vào ngày 3 tháng 5 (cho tới khi bị bãi bỏ khỏi nghi lễ Latinh năm 1960, lúc có Công Đồng Vatican II). Chính cây thập giá đích thực bị người Ba Tư chiếm giữ thế kỷ thứ 7 và được hoàng đế Heraclitus lấy lại, nhưng tới thế kỷ 12, nó được Giám Mục Giêrusalem đem ra trận tuyến và bị thất lạc, ngoại trừ các mảnh, mà với chúng, như lời Thánh Cyrilô thành Giêrusalem nói, “cả thế giới” quả được làm đầy thời Trung Cổ, cho tới khi, như câu nói bông đùa từng nói, người ta có thể tái thiết toàn bộ thành phố Giêrusalem bằng các mảnh của cây thập giá đích thực.

Như tường thuật trong Lịch Sử Giáo Hội của Socrates đã minh xác, người ta tin thập giá chính là “quyền năng của Thiên Chúa” không những xua đuổi bệnh tật và các nguy hiểm khác, mà trước hết, còn ở ngoài mặt trận nữa. Mà quyền năng này cũng không bị giới hạn vào cây thập giá đích thực mà thôi: sau chiến thắng tại Cầu Milvian, Constantinô đã ra lệnh cờ thập giá phải được đem đi đầu mỗi đoàn quân của ông khi ra trận. Ho nikopoios stauros, “cây thập giá ban chiến thắng” như Eusebiô gọi nó, đã trở thành một phù hiệu quân sự cả trên bộ lẫn dưới biển (18). Với sự giúp đỡ của “hoả lực Hy Lạp” nổi tiếng (hình như là tổng hợp của lưu huỳnh, nitrát kali, và dầu mỏ, dù công thức vẫn còn là một bí quyết của Byzantine) và với tài chuyên môn về chiến thuật của khoa học quân sự Byzantine, thập giá quả có mang lại chiến thắng; và địa điểm chiến lược của thành phố Constantinople đã che chở nó chống lại kẻ xâm lăng cả hàng nghìn năm. Ở Phương Tây, cũng thế, người ta vốn nghĩ thập giá là nguồn che chở trong chiến tranh, và đến cuối thế kỷ 11, nó trở thành biểu tượng chính của các cuộc viễn chinh Palestine dưới danh xưng thập tự chinh: “Lãnh thập giá” có nghĩa là lên đường tham gia thập tự chinh.

Người ta tin thập giá có mọi sức mạnh chiến thắng vì nó vốn là dụng cụ cho cuộc chiến thắng lớn nhất, cuộc chiến thắng có tính vũ trụ của quyền lực Thiên Chúa trên quyền lực ma qủi trong cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu. Thánh Gioan thành Đamát nói rằng “lời của thập giá có tên là quyền năng Thiên Chúa vì sức mạnh của Thiên Chúa, tức chiến thắng sự chết của Người, đã được mặc khải cho chúng ta qua nó” (19). Những dịch bản sớm nhất của ý niệm mô tả chiến thắng này như thủ thuật của Thiên Chúa trên ma qủi, sự chết, và tội lỗi, một liên minh thù nghịch vốn giam giữ nhân loại trong ách nô lệ. Một trong các hình ảnh nổi bật nhất, và cũng có vấn đề hơn cả, về thủ thuật này mô tả ma qủy và các đồng minh của nó như một con cá khổng lồ nuốt trửng mọi hữu thể nhân bản từ thời Ađam. Khi nhân tính của Chúa Kitô được ném xuống giếng, cá tưởng nó cũng giống như mọi nạn nhân khác cần phải được nuốt trửng. Nhưng ẩn dấu trong cái mồi bản tính nhân loại của Chúa Kitô là chiếc lưỡi câu bản tính Thiên Chúa của Người, đến nỗi khi ma qủi nuốt lấy nuốt để người mang tên Giêsu trên thập giá, hắn bị thần tính của Người xiên qua làm chết đứng. Hắn buộc phải ợ nhân tính của Chúa Giêsu ra, và với nhân tính của Người là tất cả những ai Chúa Giêsu đã nhận là của Người; và sự chết cùng ma qủi, từng thống trị loài người, nay chính chúng bị thống trị. Cho nên, nhờ thập giá, giải phóng và chiến thắng đã tới.

Dưới hình thức tế vi và tinh vi hơn, lý thuyết thập giá này đã trở thành ẩn dụ của Christus Victor (Chúa Kitô Chiến Thắng) mà Gustaf Aulén đã lấy làm tựa đề cho một cuốn sách nói về ý nghĩa của thập giá. Ở đây, trong điều Aulén không ngần ngại gọi là lý thuyết “cổ điển” về việc thập giá cứu vớt ra sao, thập giá trở thành dấu chỉ việc Thiên Chúa xâm nhập lãnh thổ thù địch và “trận đấu tay đôi kỳ diệu” (mirabile duellum) qua đó, Chúa Giêsu Kitô hoàn tất ơn cứu rỗi cho nhân loại (20). Bỏ đi các khía cạnh thô thiển hơn của ẩn dụ đánh lừa trước đó, chủ đề Christus Victor vẫn giữ lại lối giải thích cho rằng các kẻ thù của Thiên Chúa và của con người chính là những kẻ thù mà Chúa Kitô trên thập giá phải chống trả. Cái chết của Chúa Kitô trên thập giá, do đó, là sự đầu hàng đối với các kẻ thù này và quyền lực của chúng, mà trước chúng, Người tỏ ra yếu đuối. Nhưng Người đưa tất cả các kẻ thù này vào mồ với Người. Lúc phục sinh, Chúa Kitô được giải thoát khỏi quyền lực của chúng, còn chúng thì phải ở lại mãi trong mồ. Dù lối giải thích về thập giá như quyền lực của Thiên Chúa này nổi bật tại Hy Lạp Đông Phương hơn là tại thế giới Latinh Tây Phương, nhưng nó không bao giờ mất dạng ở Tây Phương cả; và theo Aulén, chính Phong Trào Cải Cách đã phục sinh nó. Như thế, điều gọi là Bài Tán Tụng Phục Sinh (Bài Tán Tụng thứ Tư) “Christ lag in Todesbanden” của Johann Sebastian Bach chính là bài cử hành Chúa Kitô Chiến Thắng, và trong Cuộc Khổ Nạn Theo Thánh Gioan của Bach, các lời hấp hối trên thập giá, ‘mọi sự đã hoàn tất!’ trở thành dịp cho đoạn nhạc giọng nam cao cất lên “Der Held aus Juda siegt mit Macht Und schliesst den Kampf: ‘Es ist vollbracht’” (Kìa, Sư tử Giuđa chiến thắng dũng mãnh và nay kẻ chiến thắng đã kết thúc trận đấu: ‘mọi sự đã hoàn tất!’)

Như hành động của quyền lực Thiên Chúa biểu lộ nơi Chúa Kitô Chiến Thắng, thập giá được giải thích như việc thi hành, trên vũ đài vũ trụ và trong lịch sử thế giới, cuộc chiến đấu gây ấn tượng sâu sắc giữa Thiên Chúa và các kẻ thù của Người để dành tương lai của nhân loại (21). Bất kể đâu là lợi điểm hay yếu điểm thần học của nó, lý thuyết xá tội (atonement) này có lợi điểm, về nghệ thuật và âm nhạc thời Trung Cổ, trong khả năng nối kết thập giá với phục sinh như hai phần của cùng một hành động đơn nhất. Trong âm nhạc phụng vụ thời Trung Cổ, sự nối kết ấy mang hình thức đặt Thứ Sáu Tuần Thánh và Ngày Phục Sinh vào tương phản lớn nhất hơn hết: Thứ Sáu Tuần Thánh là ngày duy nhất trong năm phụng vụ khi hy tế Thánh Lễ không được cử hành, vì vào ngày đó, chính hy tế nguyên ủy của thập giá trên Đồi Canvatiô được tưởng niệm (22). Theo một truyền thống đã có ít nhất từ thời Origen, tiền bán thế kỷ thứ 3 (23), nghệ thuật Trung Cổ mô tả việc đóng đinh diễn ra ngay tại nơi sọ của Ađam được chôn cất; và các cuộc rước kiệu và diễn kịch phụng vụ thời Trung Cổ đều đã duy trì chủ đề quán xuyến (motif) Chúa Kitô Chiến Thắng luôn sống động ngay cả khi nền thần học Latinh không còn khả năng xử lý nó một cách thỏa đáng nữa vì nó chỉ còn mỗi một lo lắng là giải thích cái chết của Chúa Kitô như một hành vi đền tội (satisfaction) (24).

Một trong các bài thơ sớm nhất trong tiếng Anh, The Dream of the Rood (Giấc Mơ Thập Giá) đã để cây thập giá mô tả “Người Anh Hùng Trẻ” leo lên nó để chiến đấu với cái chết và, tuy không chống nổi trận chiến đấu, nhưng vẫn ở thế thượng phong. Qua thế kỷ thứ sáu, nhà thơ Venantius Fortunatus đã đặt hai lời giải thích gây ấn tượng về thập giá vào hai bài thơ tiếng Latinh mà sau này sẽ trở thành một phần tiêu chuẩn của âm nhạc và thi ca Mùa Chay thời Trung Cổ (25). Một bài ông được gợi hứng viết khi, năm 569, Hoàng đế Byzantine là Justin II gửi một mảnh của cây thập giá đích thực cho Rhadegund, nữ hoàng người Frank. Nó được dùng làm thánh thi rước mảnh thập giá ấy khi nó tới:

Vexilla regis prodeunt
Fulget crucis mysterium


Cờ quạt hoàng gia đi trước
Thập giá chói lọi ánh đuốc nhiệm mầu

Bài thứ hai làm Chúa Kitô Chiến Thắng còn minh nhiên hơn nữa;

Pange lingua, gloriosi proelium certaminis
et super crucis tropaeo dic triumphum nobilem,
qualiter redemptor orbis immolatus vicerit.


Miệng lưỡi ơi hãy hát ca trận chiến vinh quang
Hãy ngợi ca kết cục vinh thắng.
Giờ đây trên thập giá, chiến tích,
Hãy vang lên bài ca chiến thắng;
Hát rằng Chúa Kitô, Đấng cứu thế,
Như nạn nhân đã chiến thắng ra sao.

Một thể văn khác cũng có thể được thích ứng vào cây thập giá là thể thơ carmen figuratum tức thể thơ hình (figured poem). Nó kết hợp các hình thức thi ca và hình thể bằng cách thay đổi chiều dài các dòng thơ bằng cách xếp đặt thành những hình dạng đã định trước, sau đó có thể được bổ túc bằng các hình dạng khác. Thập giá rất thích hợp với loại thể thơ này. Thuộc loại thể thơ về cây thập giá này, bài nổi tiếng nhất là bài thơ của học giả và tác giả thế kỷ thứ 9, Robanus Maurus, De laudibus sanctae crucis(Ngợi Ca Thánh Thập Giá) trong đó chủ đề nổi bật nổi tiếng về “ca ngợi” là chủ đề Chúa Kitô Chiến Thắng (26). Phần lớn các câu thơ của nó được trình bầy dưới hình thức các “đường kẻ ô” vuông, mỗi ô gồm một số chữ bằng với số hàng trong bản văn của câu thơ ấy, một phương pháp giúp các cây thập giá với các cánh dài bằng nhau có thể được chồng lên bản văn. Một khai triển thêm nữa, lúc đó, có thể là việc sắp xếp các biểu tượng truyền thống của bốn tác giả Tin Mừng: người cho Mátthêu, sư tử cho Máccô, bò mộng cho Luca và chim ưng cho Gioan (Kh 4:6-10), theo hình thập giá.

Là biểu tượng cho quyền năng Thiên Chúa, thập giá cũng được dùng làm dấu chỉ sự khôn ngoan của Người, một sự khôn ngoan, vì “sự điên rồ của Thiên Chúa” theo công thức của Thánh Phaolô, khôn ngoan hơn bất cứ sự khôn ngoan được tán tụng nào của con người (1Cr 1:25). Tertullianô thì viết rằng “Sự khôn ngoan của thế gian là sự điên rồ của Thiên Chúa thế nào, thì sự khôn ngoan của Thiên Chúa cũng là sự điên rồ trong lòng qúi trọng của con người như thế” (27). Khi tìm cách tán dương thập giá như sự khôn ngoan, các nhà văn và nghệ sĩ Kitô giáo thời Trung Cổ thường khổ công miệt mài trong tính “điên rồ” của nó. Đó là điểm có giá trị đàng sau công thức đã trưng dẫn trên đây và thường được sai lầm gán cho Tertullianô, “Tôi tin nó vì nó phi lý”, và nhất là đàng sau ngôn ngữ hết sức nghịch lý trong các phát biểu của Thánh Augustinô như sau:

“Sự dị hình của Chúa Kitô lên hình dạng cho anh em. Nếu Người không tự ý bị dị hình, anh em đã không lấy lại được hình dạng anh em đã đánh mất. Cho nên, Người đạ bị dị hình khi bị treo trên thập giá. Nhưng sự dị hình của Người là sự xinh đẹp của chúng ta. Cho nên, trên đời này, ta hãy trung thành với Chúa Kitô dị hình” (28).

Việc luật lệ của Constantinô cấm không được sử dụng nó làm phương thế thi hành án tử hình cho thấy rõ các Kitô hữu, trong khi ca tụng thập giá như “cờ quạt hoàng gia”, không bao giờ quên rằng trước nhất, nó vốn là dụng cụ tra tấn, một giá treo cổ, và do đó, trong ngôn ngữ Tân Ước (1Cr 1:23), là một ô nhục và là một xúc phạm (29). Trên hết, chính mầu nhiệm của tiếng kêu bị bỏ rơi trên thập giá, theo lời trích thánh vịnh “Lạy Chúa là Thiên Chúa của con, sao Chúa bỏ rơi con?” đã gợi lên sự hãi sợ và rụng rời của nó (30). Cho nên, bước đầu của khôn ngoan là chấp nhận mầu nhiệm này: Đấng mà người ta tin có “cùng bản thể với Chúa Cha” đã bị Cha của Người bỏ rơi trên thập giá, bất kể theo nghĩa nào ta có thể tưởng nghĩ ra.

Khi người ta nói đến thập giá như sự khôn ngoan, họ thường trưng dẫn Chúa Giêsu trên thập giá như điển hình của sự kiên nhẫn và bác ái ngay giữa đau khổ: “Anh em được Thiên Chúa gọi để sống như thế. Thật vậy, Đức Ki-tô đã chịu đau khổ vì anh em, để lại một gương mẫu cho anh em dõi bước theo Người. Người không hề phạm tội; chẳng ai thấy miệng Người nói một lời gian dối. Bị nguyền rủa, Người không nguyền rủa lại, chịu đau khổ mà chẳng ngăm đe, nhưng một bề phó thác cho Đấng xét xử công bằng” (1Pr 2:21-23). Một trong các cuốn sách được đọc rộng rãi nhất thời Trung Cổ là cuốn Moralia của Đức Giáo Hoàng Grêgôriô I, viết vào cuối thế kỷ thứ 6; đây là cuốn sách đồ sộ trình bầy vế Sách Gióp, xem xét đau khổ của “vị thánh ngoại giáo” của Cựu Ước này theo cung cách qua chúng khiến người ta chú ý tới các đau khổ làm gương của Chúa Giêsu. Một nhà văn thế kỷ thứ 8 đã đơn giản định nghĩa Kitô hữu là “người bắt chước và bước theo Chúa Kitô trong mọi sự” (31). Và trong một thiên sử thi gồm 7 cuốn nói về Thiên Đàng đã mất và Thiên Đàng tìm lại (một công trình không hề đe dọa sự vĩ đại của John Milton, nhưng hiện thân được phần lớn lòng đạo đức và cảm xúc của thời Trung Cổ) do tu viện trưởng Odo của Cluny sáng tác trong thế kỷ thứ 9, Chúa Kitô, Đấng đến cứu trần gian khỏi chứng kiêu căng, “đã dạy điều này đặc biệt qua những sự việc Người thực hiện một cách khiêm nhường nhất, vì Người nói rằng ‘Ta hiền lành, tất cả các con hãy học điều này nơi Ta” (32).

Tuy nhiên, việc tiếp tục nhấn mạnh tới sự kiện noi gương Chúa như nền tảng của đức khôn ngoan đích thực không bao giờ là trọn bộ nội dung khôn ngoan. Chúa Kitô không chỉ là một trong các thánh nhân cần phải noi theo; đức khôn ngoan của thập giá Người còn hơn một gương sáng. Suy nghĩ sâu xa hơn về ý nghĩa của thập giá dẫn ta tới việc xem xét xem làm thế nào chúng ta có thể biện minh cho đường lối của Thiên Chúa đối với con người. Chính hình dáng của thập giá cũng đã biểu tượng có sự thấu hiểu của nó về mọi đường lối của Thiên Chúa, thanh dọc và thanh ngang tượng trưng cho chiều cao và chiều rộng của vũ trụ, và điểm hội tụ của nó nơi đầu của Chúa Kitô tựa vào tượng trưng cho sự thống nhất hóa và hoà điệu tối hậu của mọi sự trong Chúa Kitô chịu đóng đinh (33). Vì thập giá, một đàng, là chứng cớ hiển nhiên nhất của quyền lực sự ác trên thế giới; như Đức Giáo Hoàng Grêgôriô Cả đã nhắc nhở một đồng nghiệp giữa các đau khổ của ngài, Chúa Giêsu đã nói với các kẻ bắt Người trong Vườn Diệtsimani, “đây là giờ của các ông, và quyền lực bóng tối” (34). Nhưng thập giá, đồng thời, còn là chứng cớ tối hậu cho thấy thánh ý và đường lối của Thiên Chúa cuối cùng sẽ thắng thế, bất kể kế hoạch của con người có thể âm mưu muốn làm gì. Như Giuse từng nói với các anh em của mình ở Ai Cập thế nào, thì nhờ sự khôn ngoan của Thiên Chúa nơi thập giá, nay người ta cũng có thể nói với toàn thể thế giới “các ông dự tính điều ác chống lại tôi; nhưng Thiên Chúa dự tính điều ấy cho điều tốt, để nó diễn ra khiến nhiều người được sống như họ đang sống bây giờ” (35). Sự khôn ngoan đích thực, sự khôn ngoan của thập giá, hệ ở khả năng giữ cho cả hai điều này ở lại với nhau, không làm ngơ sự hiện diện và quyền lực của điều ác, như thứ lạc quan hời hợt vốn bị cám dỗ làm, cũng không cho phép sự hiện diện và quyền lực của điều ác triệt tiêu quyền tối thượng của Thiên Chúa duy nhất, như chủ thuyết nhị nguyên đầy tính định mệnh vốn có xu hướng làm (36). Như thế, ơn quan phòng của Thiên Chúa, một ơn mà triết gia Kitô giáo Boethius đã định nghĩa trong tương quan với định mệnh (mà không nhắc chi tới Kinh Thánh hay Chúa Kitô) như “chính loại hình [type] Thiên Chúa, ngự trong Đấng Thống Trị Tối Cao, vốn sắp xếp mọi sự”, trong tay nhà thần học kiêm triết gia Tôma Aquinô, đã trở thành một phần của việc ngài khảo sát hoạt động của Thiên Chúa trong tương quan với thế giới, một cuộc khảo sát mà nền tảng tối hậu là chính tình yêu nhưng không của Thiên Chúa (37).

Như thế, sự khôn ngoan của thập giá là việc tiết lộ không những nền luân lý nhân bản mà còn cả tình yêu Thiên Chúa nữa. Đặt điều này ở tâm điểm việc ông mô tả điều Chúa Kitô đã thực hiện bằng cuộc sống và cái chết của Người, Peter Abelard, trong một tiểu luận dưới hình thức bài giảng tựa là “Thập Giá”, đã nhấn mạnh rằng tình yêu Thiên Chúa nơi Chúa Kitô nằm ở bên ngoài “khả năng của chúng ta trong việc chia sẻ cuộc thống khổ của Chúa Giêsu bằng sự đau khổ của chúng ta và bước theo Người bằng cách vác thập giá riêng của chúng ta” (38). Do đó, ông nhấn mạnh rằng quả là không hợp tình hợp lý khi tố cáo ông đã giảng dậy rằng Chúa Kitô chỉ cung cấp một gương sáng để ta bắt chước, như thể việc bắt chước này là điều khả hữu để các khả năng của bản tính con người không cần giúp đỡ vẫn có thể đạt được. Trái lại, ý nghĩa nền tảng của sự khôn ngoan của thập giá là ý nghĩa chứa trong lời lẽ Chúa Giêsu nói trong Tin Mừng Gioan: “không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người hiến thân vì bằng hữu” (Ga 15:13). Một tình yêu như thế chỉ có thể có cơ sở và nguồn gốc nơi Thiên Chúa; nhưng từ Thiên Chúa, nó đã đến với nhân loại, và nó thực hiện việc này qua thập giá. Vì “nhờ đức tin chúng ta tỏ cùng Chúa Kitô, tình yêu gia tăng nơi chúng ta, nhờ tin chắc rằng Thiên Chúa nơi Chúa Kitô đã kết hợp bản tính ta với Người và nhờ đau khổ trong bản tính ấy, Người đã chứng tỏ với chúng ta tình yêu cao cả mà Người từng nói tới”. Không nơi nào khác ngoài Chúa Giêsu và thập giá Người ra, ta thấy rõ bản chất đích thực của tình yêu. Cho nên, mục đích của thập giá là đem lại sự thay đổi nơi kẻ tội lỗi, làm tan tấm lòng băng giá bằng hơi ấm của tia nắng yêu thương Thiên Chúa. Chúa Kitô không chết trên thập giá để thay đổi cõi lòng của Thiên Chúa (vốn không bao giờ thay đổi), như một số ngôn từ đạo hạnh về thập giá bị Abelard chỉ trích muốn hàm ngụ, nhưng “để mặc khải tình yêu [của Thiên Chúa] cho chúng ta hoặc để thuyết phục chúng ta việc chúng ta phải yêu thương Người xiết bao, Đấng đã không buông tha cả Con Một của Người” vì chúng ta” (39). Tình yêu đích thực là tình yêu tự hy sinh, và Thiên Chúa đã chứng tỏ nó một cách độc đáo bằng cách để mặc Con Một Mình chết trên thập giá. Điều này biểu lộ bản chất đích thực của tình yêu và tính thẳm sâu của tình yêu Thiên Chúa, nhờ đó làm cho tình yêu con người, kể cả tình yêu tự hy sinh, trở thành khả hữu.

Các người phê bình Abelard thấy ngôn ngữ như thế về sự khôn ngoan của thập giá vừa không chính xác vừa không thỏa đáng. Lẽ dĩ nhiên, Chúa Kitô chịu đóng dinh là gương sáng kiên nhẫn, mọi người đều đồng ý như thế; và không ai bác bỏ điều này: thập giá Chúa Kitô là mặc khải tối cao của tình yêu Thiên Chúa, và quả thực là mặc khải của chính định nghĩa về tình yêu, bất luận là tình yêu Thiên Chúa hay tình yêu con người. Vấn đề là liệu ngôn ngữ này có thấu triệt sự khôn ngoan của thập giá hay liệu một xem xét sâu sắc hơn về thập giá sẽ dẫn ta tới một cách suy nghĩ và nói năng khác về nó. Cách khác này tìm được phát biểu dứt khoát trong một công trình vào hàng gây nhiều ảnh hưởng nhất trong tư duy Trung Cổ, Tại Sao Thiên Chúa Trở Thành Phàm Nhân (Cur Deus Homo) của Thánh Anselmo thành Canterbury. Hơn mọi khảo luận khác giữa Thánh Augustinô và Phong Trào Cải Cách về bất cứ học lý nào của đức tin Kitô Giáo, khảo luận của Thánh Anselmô lên khuôn một quan điểm không phải chỉ của người Công Giáo Rôma, mà của phần lớn người Thệ Phản mà nhiều người trong số này đã lớn tiếng ca ngợi ngài hết lời vì đã không nhận rằng lối hiểu của họ về sự khôn ngoan của thập giá không phát xuất từ ngài, nhưng đã gán nó cho chính Kinh Thánh (40).

Cuốn Tại Sao Thiên Chúa Trở Thành Phàm Nhân của Thánh Anselmô phát xuất từ việc xem xét chủ đề “khôn ngoan của thập giá” vì một lý do khác nữa. Trong đó, như chính ngài cho biết, ngài đã khai triển luận điểm của ngài “như thể Chúa Kitô không hiện hữu [remoto Christo]”, cho rằng mình chỉ dựa vào một mình lý trí mà thôi. Giả thiết làm nền của tư duy Thánh Anselmô là sự nhất quán của Thiên Chúa và vũ trụ, điều mà Thiên Chúa không hề vi phạm bằng các hành vi tùy tiện (arbitrary), vì các hành vi như thế phá hoại trật tự luân lý của chính vũ trụ (41). Hạn từ Thánh Anselmô dùng chỉ trật tự luân lý này là “sự chính trực” (rectitudo). Chính trực hệ ở việc trả lại cho mỗi người lượng vinh dự họ đáng có. Dù được tạo dựng để tham dự vào sự chính trực ấy, nhân loại đã từ khước dành cho Thiên Chúa vinh dự xứng đáng và đã sa ngã phạm tội. Vị Thiên Chúa này không thể làm ngơ hay tha thứ bằng sắc lệnh (fiat), mà không vì thế vi phạm “sự chính trực” và trật tự luân lý; đó chính là đòi hỏi của công lý Thiên Chúa, điều mà Thánh Anselmô có lẽ sẽ định nghĩa là “Thiên Chúa coi trọng chính Người”. Thế nhưng, cả khôn ngoan phàm nhân lẫn mặc khải Thiên Chúa đều nói rõ điều này: Thiên Chúa là vị Thiên Chúa không những của công lý, mà còn là vị Thiên Chúa của thương xót, Đấng vốn tuyên bố “Ta chẳng vui gì khi kẻ gian ác phải chết, nhưng vui khi nó thay đổi đường lối để được sống” (Edk 33:11).

Theo lý luận của Thánh Anselmô, đó chính là thế lưỡng nan của Thiên Chúa mà chỉ có sự khôn ngoan của thập giá mới cung cấp lời giải đáp. Vì công lý Thiên Chúa, sau khi công bố việc vi phạm thánh ý luân lý là việc đáng chết, đã đụng độ với lòng thương xót của Thiên Chúa, một lòng thương chỉ muốn sự sống chứ không muốn sự chết. Kẻ phạm tội, là con người, không thể trả giá hình phạt ngoại trừ bị tan biến đời đời; Đấng chỉ muốn tha thứ, là Thiên Chúa, không thể làm thế ngoại trừ triệt hạ trật tự luân lý của vũ trụ. Chỉ một hữu thể có khả năng trả giá hình phạt (nhờ là phàm nhân) nhưng có khả năng thực hiện một việc trả có giá trị vô cùng (nhờ là Thiên Chúa) mới có thể cùng một lúc thực thi các mệnh lệnh của lòng Thiên Chúa thương xót và thoả mãn các đòi hỏi của công lý Thiên Chúa. Đàng khác, việc trả này phải tự nguyện, và không thể thực hiện bởi một người chính mình mắc nợ nó, bởi như thế không ích lợi gì cho người khác. Do đó, Thiên Chúa phải trở thành phảm nhân, và hơn nữa, phải chết trên thập giá, để chu toàn các mục đích của công lý Thiên Chúa và đồng thời đền bù công lý của Thiên Chúa và nhờ thế duy trì “sự chính trực”. Ta có thể nói, cái chết của Người trên thập giá khiến Thiên Chúa có khả thể tinh thần để tha thứ.

Còn về ẩn dụ Chúa Kitô Chiến Thắng, ở đây, chúng ta không quan tâm đến tính thoả đáng hay không thoả đáng thần học trong học lý đền tội của Thánh Anselmô, nhưng quan tâm tới ảnh hưởng của nó đối với ý nghĩa văn hóa của việc mô tả Chúa Giêsu như “Đấng Kitô chịu đóng đinh”. Nếu ẩn dụ này mang lại biểu thức cho các âm sắc gây ấn tượng của văn chương và nghệ thuật, thì ẩn dụ này đã hiện thân được các chủ đề phát xuất từ cơ cấu và thực hành của cả Giáo Hội lẫn xã hội thời Trung Cổ ở Tây Phương. Hạn từ đền tội (satisfaction) để diễn tả hành vi diễn ra trên thập giá phát xuất từ thực hành thống hối và giáo luật của Giáo Hội: một tội nhân, thực sự đã ăn năn vì tội lỗi của mình, và đã xưng các tội ấy và được ban ơn giải tội, tuy nhiên vẫn phải làm một việc đền bù (restitution) cho điều tội lỗi đã lấy mất. Tội lỗi của cả loài người có tầm cỡ vũ trụ thế nào, thì cái chết của Chúa Kitô trên thập giá cũng là hành vi đền bù và bồi thường cỡ đó; hành vi đền tội của con người sau đó được gắn vào hành vi này. Hơn nữa, hệ thống đền tội của Giáo Hội cũng có thể chứa đựng các yếu tố phỏng theo dân luật, trong đó, theo đòi hỏi wergild ở Đức ngày xưa, người ta buộc phải bồi thường cho một tội ác phù hợp với thế đứng của người bị thương tổn trong xã hội. Trong trường hợp này, vì Thiên Chúa là bên bị thương tổn, nên chỉ có thứ wergild được trả bởi một vị vừa là Thiên Chúa vừa là phàm nhân mới là thỏa đáng. Nhờ đạt được định nghĩa này về remoto Christo, Thánh Anselmô đã có thể trình bầy nó như “sự khôn ngoan của thập giá”, rất thích hợp với toàn bộ tình huống phàm nhân và là điều có thể tri nhận bằng cả lý trí phàm nhân lẫn mặc khải Thiên Chúa. Ngài nói “Cho nên, rõ ràng chúng ta đã đến với Chúa Kitô, Đấng chúng ta tuyên xưng vừa là Thiên Chúa vừa là phàm nhân và đã chết vì chúng ta” (42).

Cho nên, ở mọi bình diện nền văn hóa của nó, xã hội Trung Cổ, bất luận ở Đông Phương hay ở Tây Phương, đều bàng bạc với dấu thập giá, hiểu cả theo nghĩa chiểu tự lẫn nghĩa bóng bẩy. Do đó, bất kể uy tín lịch sử bất cứ ai cũng sẵn sàng dành cho câu phát biểu của Thánh Cyrilô thành Giêrusalem, một câu phát biểu đã trích dẫn trên đây rằng “Khắp thế giới đầy các mảnh của cây thập giá”, ta vẫn có thể thấy trong thời Trung Cổ sự nên trọn của một phát biểu khác, bề ngoài khiêm nhường hơn nhưng thực ra quá mức hơn, trong đoạn thứ nhất của cuốn đầu tiên do người đồng thời nhưng có tuổi hơn Thánh Cyrilô, là Thánh Athanasiô thành Alexandria khi ngài mới 22 tuổi: “quyền lực thập giá Chúa Giêsu Kitô đã tràn ngập thế gian” (43).
_____________________________________________________________________________________________________

Ghi chú

1.Xem tình tiết Emmaus cho thấy nhiều điều, Lc 24:13-35, tóm lược “Tin Mừng của 40 ngày”
2. Shakespeare, Macbeth 1.4.7.
3. Is 53:5; Cv 8:26-39; cũng nên xem Mt 8:17
4. Tertullian, The Chaplet 3; Thánh Basil thành Caesarea On The Holy Spirit 27.66
5. Julian, Against the Galileans 194D, Loeb Classical Library ed. 3:373.
6. Nicholas Monsarrat, The Cruel Sea (1951; New York: Giant Cardinal ed. 1962) p. 219.
7. Gustav Mahler to Ana von Mildenburg, 15 March 1897, trong Selected Letters of Gustav Mahler, ed. Knud Martner (New York:
Farrar, Straus, Giroux, 1979) p.215
8. Thánh Augustine, On the Trinity, 7.1.1
9. Acts of Andrew and Matthew, 19; Martyrdom of Nereus and Archilleus 13.
10. Thánh Augustine, City of God 22.8
11. Heriger thành Lobbes, Life of Remaclus 12.
12. Thí dụ này và những thí dụ khác trong J.F. Liermeyer, Mediae Latinitatis Lexicon Minus (Leiden: E.J. Brill, 1976) s.v. “crux.”
13. Shirley Jackson Case, The Origins of Christian Supernaturalism (Chicago: Chicago University Press, 1946) p.1.
14. Xem cuộc thảo luận thận trọng của Henri Chirat, New Catholic Encyclopedia s.v. “Cross, Finding of Holy” với đầy đủ tài liệu về một số tham chiếu và dã sử.
15. Sulpicius Severus, Chronicle, 2.34.4
16. Socrates Scholasticus, Ecclesiastical History 1.17
17. Thánh Cyril thành Jerusalem, Catechetical Lectures 4.10; 10.19; 13.4
18. Eusebius, Life of Constantine, 1.41
19. Thánh John thành Đamát, The Orthodox Faith 4.11
20. Gustaf Aulén, Christus Victor: An HIstorical Study of The Three Main Types of Idea of Atonment, bản tiếng Anh của A.G. Hebert, Jaroslav Pelikan viết dẫn nhập (New York: Macmillan, 1969) p. 4-7
21. Thánh Athanasius, On the Incarnation 29.1
22.William J. O’Shea, The Meaning of the Holy Week (Collegeville, Minn. : Liturgical Press. 1958)
23. Origen, Commentary on Matthew 27.32
24. Karl Young, The Drama of the Medieval Church, 2 vols (Oxford: Clarendon Press, 1933)
25. Frederic James Edward Raby, ed., The Oxford Book of Medieval Latin Verse (Oxford: Oxford University Press, 1959) pp.74-76
26. Xem giải thích thiên kiến nhưng xúc tích của Max Manitius, Geschichteder lateinischen Literaturdes Mittelalters, 3 vols (Munich: C.H. Beck’sche Buchhandlung, 1911-31), 1:295-96)
27. Tertullian, Against Marcion 2.2
28. Thánh Augustine, Sermons 44.6.6.
29. Sozomen, Ecclesiastical History 1.8
30. Mt 27:46; Mc 15:34;Tv 22:1; Xem Pelikan, Christian Tradition 1:245-46 để biết một số tuyên bố đại biểu.
31. Priminius, Scarapsus 13.
32. Odo thành Cluny, Occupatio 5.559-62; Mt 11:29.
33. Thánh John thành Damascus, The Orthodox Faith 4.11
34. Lc 22:53
35. St 50:20; xem các chú giải của Cassian, Conferences 3.11
36. So sánh Thánh Augustine, Against Two Letters of the Pelagians 3.9.25
37. Boethius, The Consolation of Philosophy 4.6; Thánh Thomas Aquinas, Summa Theologica I.q.23 a.4
38. Abelard, Sermons 12
39. Abelard, Commentary on Romans 2; Rm 8:32
40. Xem Pelikan, Christian Tradition, 3:106-57; 4:23-25, 156-57, 161-63
41. Gerald Phelan, The Wisdom of Saint Anselm (Latrobe, Pa. :Saint Vincent’s Archabbey, 1960) pp.30-31
42. Thánh Anselm, Why God Became Man 2.15
43. Thánh Anathasius, Against The Heathen 1.
 
Ảnh Nghệ Thuật
Trang Ảnh Nghệ Thuật Chiêm/Niệm/Thiền: Chim Hót Trên Cành
Vũ Đình Huyến Lm.
11:32 15/12/2020
CHIM HÓT TRÊN CÀNH
Ảnh của Vũ Đình Huyến, Lm. (CRM)

Dù cho Covid hoành hành
Chim ta vẫn hót trên cành sớm mai
Cầu xin hết dịch nay mai !
(bt)
 
VietCatholic TV
Người viết tiểu sử Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, và Đức Hồng Y Camillo Ruini lên tiếng
Thế Giới Nhìn Từ Vatican
01:36 15/12/2020

Đức Tổng Giám Mục Stanisław Gądecki, chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Ba Lan, nhận xét cay đắng rằng “Nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Thánh Gioan Phaolô II, chúng ta đang chứng kiến những vụ tấn công chưa từng có vào bản thân ngài” sau khi báo cáo về McCarrick được đưa ra.

Những kẻ tấn công vị Thánh Giáo Hoàng Ba Lan là những ai? Dẫn đầu là những cựu đảng viên cộng sản Ba Lan và con cháu họ, là những kẻ đang muốn cân bằng tỷ số với vị Giáo Hoàng đã lật đổ cái chế độ trong đó họ được ăn trên ngồi chốc. Kế đến là những kẻ ủng hộ phá thai đang tấn công bạo lực vào các nhà thờ tại Ba Lan. Tuy nhiên, cũng không thiếu những người Công Giáo và cả các linh mục. Có người thì vì vô tri nên bất mộ. Cũng có kẻ hữu tri nhưng nhân chuyến này muốn cân bằng tỷ số với ngài. Linh Mục Thomas Reese, Dòng Tên, cựu chủ bút tập san America, là một thí dụ.

Ngày 19 tháng 11, 2020, ngài cựu chủ bút đã có bài viết tựa là “It was a mistake to canonize Saint John Paul II so quickly”, nghĩa là “Thật là một lỗi lầm khi tuyên thánh quá nhanh cho Thánh Gioan Phaolô II”. Vị linh mục này viết rằng “Phúc trình gần đây chi tiết hóa đáp ứng của Vatican đối với tai tiếng quanh cựu Hồng Y Theodore McCarrick cho thấy tại sao là một lỗi lầm khi phong thánh cho các vị giáo hoàng (hay bất cứ ai) một cách nhanh chóng sau khi họ qua đời”.

Thomas Reese làm chủ bút tờ American Magazine trong 7 năm từ 1998 đến 2005. Trong suốt 5 năm cuối cùng, ông liên tục bị Bộ Giáo Lý Đức Tin dưới thời Đức Gioan Phaolô II chỉ trích vì lập trường cấp tiến của ông trong các vấn đề như hô hào sử dụng bao cao su để ngăn ngừa HIV/AIDS, cổ vũ chủ thuyết đa nguyên tôn giáo, ủng hộ các linh mục đồng tính luyến ái, đòi bãi bỏ luật độc thân linh mục, và cho các chính trị gia Công Giáo phò phá thai được rước lễ. Dưới các áp lực càng lúc càng gia tăng của Bộ Giáo Lý Đức Tin, ông bị mất chức chủ bút tập san America vào tháng 5, năm 2005.

Trước trào lưu hiện nay, Tiến sĩ George Weigel, người viết tiểu sử Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, vừa có một bài đăng trên tờ First Things hôm 9 tháng 12, có tựa đề “Those Who Question the Sanctity of John Paul II Don’t Know What They’re Talking About”, nghĩa là “Những Ai Đặt Vấn Đề Về Sự Thánh Thiện Của Đức Gioan Phaolô Ii Không Biết Họ Đang Nói Gì”.

Nguyên bản tiếng Anh có thể xem tại đây. Dưới đây là bản dịch toàn văn sang Việt Ngữ.


Those Who Question the Sanctity of John Paul II Don’t Know What They’re Talking About

By George Weigel

Những Ai Đặt Vấn Đề Về Sự Thánh Thiện Của Đức Gioan Phaolô Ii Không Biết Họ Đang Nói Gì.


Từ năm 1991 đến năm 2005, Đức Hồng Y Camillo Ruini là Giám Quản Giáo phận Rôma, tức là vị thay mặt Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II giải quyết các công việc hàng ngày của giáo phận nơi, đương nhiên, vị giáo hoàng là giám mục. Đức Hồng Y Ruini là một Hồng Y Giám quản rất sáng tạo, là người đã tiếp thêm năng lượng cho Giáo phận Rôma trong công cuộc Tân Phúc âm hóa - một khái niệm mà ngài nắm bắt có lẽ tốt hơn bất kỳ vị giám mục người Ý nào khác. Với tư cách là chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Ý, ngài cam kết thực hiện chương trình “mở rộng sông Tiber” của Đức Gioan Phaolô II: nghĩa là, đưa Giáo Hội tại Ý thoát khỏi những vướng mắc theo thông lệ với nền chính trị đảng phái của Ý và dấn thân vào việc đưa ra các chứng tá đạo đức Công Giáo và chuyển đổi nền văn hóa theo tinh thần Kitô. Năm 2005, nếu Hồng Y đoàn quyết định bầu một người Ý vào sứ vụ giáo hoàng, thì Hồng Y Ruini hẳn đã là một lựa chọn tuyệt vời.

Lần cuối tôi nói chuyện với vị Hồng Y là vào tháng 10 năm 2019. Một vài tháng trước sinh nhật lần thứ 89 của ngài, ngài vẫn như mọi khi, sắc sảo, sâu sắc, thẳng thắn, hài hước và hiểu rõ về tình hình Công Giáo trên khắp thế giới. Vì vậy, tôi không ngạc nhiên khi Đức Hồng Y Ruini đã đăng các bài của mình trên tờ Il Foglio vào tháng trước để bênh vực triều giáo hoàng và sự thánh thiện của Đức Gioan Phaolô II, điều đó chứng tỏ rằng ngài đã không mất đi chút khí lực nào trong 13 tháng kể từ khi chúng tôi gặp nhau. Những phản ứng của ngài đối với các cuộc tấn công khác nhau về tính cách và năng lực của Đức Gioan Phaolô II kể từ khi báo cáo McCarrick được công bố đáng được ghi lại cho các độc giả nói tiếng Anh.

Tại sao án tuyên chân phước và tuyên thánh cho Đức Gioan Phaolô II bắt đầu ngay lập tức? Bởi vì, theo giải thích của Đức Hồng Y Ruini, hơn 80 vị Hồng Y đã ký đơn thỉnh cầu vị “Giáo hoàng tương lai” ngay trước mật nghị bầu Giáo Hoàng năm 2005, rằng bất cứ ai được bầu làm giáo hoàng phải bỏ qua thời gian chờ đợi 5 năm bình thường trước khi bắt đầu một án tuyên thánh. Bản kiến nghị được giao cho Đức Hồng Y Ruini, và Đức Bênêđíctô XVI mới được bầu “ngay lập tức” đồng ý với yêu cầu khi vị Hồng Y, với tư cách là Giám Quản của Giáo phận Rôma, trình bày với ngài trong buổi tiếp kiến đầu tiên của hai vị.

Tại sao án tuyên thánh lại tiến triển nhanh chóng như vậy? Quá trình này diễn ra “với tính thường xuyên tuyệt đối, tuân thủ tất cả các quy định”. Hơn nữa, các báo cáo về các phép lạ— “và những phép lạ này kỳ diệu biết bao!” — đang đổ vào Tòa Giám Quản Rôma ngay cả trước khi tiến trình này bắt đầu. Chẳng lẽ người ta không thấy được ngón tay của Chúa trong tiến trình này sao?

Đức Hồng Y đã nói gì khi sự thánh thiện của Đức Gioan Phaolô II bị đặt thành vấn đề? Thưa, ngài nói rằng những người đưa ra các cáo buộc này “bị mù quáng bởi những định kiến và họ không biết họ đang nói cái gì”. Vị Hồng Y tiếp tục đề cập đến sự ‘tiếp xúc gần gũi’ của ngài với Đức Giáo Hoàng Ba Lan hơn hai thập kỷ và ngài bị “đánh động đến mức nào ngay từ đầu trước thái độ nhiệt thành cầu nguyện của vị giáo hoàng: ngài đắm mình trong những lời cầu nguyện... hoàn toàn đến mức không có gì xảy ra xung quanh khiến ngài phân tâm”.

Có phải Đức Gioan Phaolô II là một người quản lý lơ đãng không quan tâm đầy đủ đến việc điều hành Giáo Hội không? Không phải như thế, Đức Hồng Y đại diện lâu năm của ngài khẳng định. “Ngài đã cẩn thận chọn những cộng tác viên thân thiết nhất của mình” và sau đó đặt niềm tin vào họ. “Đồng thời, ngài có ý thức rất cao về trách nhiệm và sứ mệnh của mình, đồng thời hiểu rõ bản chất của sứ vụ chăn dắt [toàn thể đoàn chiên Chúa]. Bất kỳ lời buộc tội nào về phong cách chăn dắt của Đức Gioan Phaolô II đều là ‘hời hợt’, đều là ‘sai lầm và quá sức bất công’: vì không có gì trong phong cách sống hay điều hành của ngài là hời hợt”.

Đức Gioan Phaolô II có nao núng trước những lời hoa mỹ và thái độ xem ra đầy quyền thế của Theodore McCarrick không? “Khi nghĩ rằng McCarrick, hoặc thậm chí những người còn quan trọng hơn ông ta, có thể đe dọa Đức Gioan Phaolô II thì đơn giản là chuyện nực cười. Đức Gioan Phaolô II không sợ bất cứ ai trên trái đất này. Trong những lựa chọn của mình, Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã đặt mình trước mặt Chúa và đưa ra quyết định không chỉ theo lương tâm mà còn là trước sự hiện diện của Chúa. Tất cả điều này không có nghĩa là quyết định này hay quyết định khác không thể sai lầm”. (Như các quyết định liên quan đến chuyển McCarrick về Washington và tấn phong Hồng Y cho ông ta) Nhưng nó có nghĩa là Đức Gioan Phaolô chưa bao giờ “xem nhẹ” các quyết định của ngài.

Sao Giáo hội không chờ đợi lâu hơn trước khi phong thánh cho các giáo hoàng? Đức Hồng Y Ruini trong phần kết luận cho rằng khi cân nhắc về sự thánh thiện, các giáo hoàng nên được xem xét “càng nhiều càng tốt như mọi thành viên khác của Giáo hội, không có ưu đãi và không có miễn trừ nào”.

Khi làm quen với Đức Gioan Phaolô II, Đức Hồng Y Ruini đã “kinh ngạc trước khả năng tha thứ phi thường của ngài”. Nếu cuộc sống tại Ngai Thiên Chúa Đầy Ân Sủng là sự viên mãn của các nhân đức được thể hiện trong cuộc sống này, thì Thánh Gioan Phaolô II đã tha thứ cho những kẻ gần đây gièm pha ngài: những kẻ theo các ý thức hệ cũ muốn cân bằng tỷ số với ngài, và những người đồng ý với nhân vật Marple của Agatha Christie rằng cả ma thuật và tội ác đều có thể xảy ra khi có thể khiến mọi người nhìn sai hướng để họ không thấy điều gì đang thực sự xảy ra. Biết được sự tha thứ của ngài, có thể những kẻ gièm pha Đức Gioan-Phaolô II cũng sẽ cảm động mà có một tinh thần rộng lượng tương tự. Tôi nghi ngờ điều đó. Nhưng chúng ta có thể hy vọng.


Source:First Things
 
Virus Vũ Hán, Đại Tái Lập, và những mưu toan đáng âu lo. Cảnh báo gây xôn xao dư luận của ĐHY Burke.
Thế Giới Nhìn Từ Vatican
16:45 15/12/2020

Đức Hồng Y Raymond Burke đã cảnh báo rằng chủ nghĩa duy vật Mácxít hiện nay dường như đang “thống trị” Hoa Kỳ, và sáng kiến “Great Reset”, tức là “Đại Tái Lập”, của Diễn đàn Kinh tế Thế giới đang “thao túng các công dân và các quốc gia thông qua sự thiếu hiểu biết và sợ hãi”.

Để hiểu được những ý tưởng của Đức Hồng Y nguyên Chánh Tòa Ân Giải Tối Cao, xin được giải thích thêm như sau:

Sau khi lý thuyết cộng sản sụp đổ trên quy mô toàn thế giới, một lý thuyết mới lại xuất hiện có tên là “Great Reset”, do Giáo sư Richard Florida chủ xướng. Trên quan điểm của một nhà nghiên cứu về đô thị học, ông cho rằng nếu cứ tiếp tục như hiện nay, chỉ trong vài thập niên nữa, những người trẻ sẽ không thể kiếm đâu ra nhà để mướn.

Từ một nhận định khá vụn vặt và chưa chắc có khả năng xảy ra, ông khái quát hóa, và đề ra một thuyết mới gọi là Great Reset. Nói cho dễ hiểu reset là xoá bàn làm lại, là bác bỏ toàn bộ trật tự của thế giới hiện nay. Trong trật tự mới này, nhà nước được trao nhiều quyền hơn, nghĩa là nhiều quyền cơ bản các công dân đang được hưởng hiện nay bị xóa bỏ, trao cho nhà nước để thực hiện các quy hoạch tổng thể cho xã hội.

Tuy khác về nội dung nhưng cả lý thuyết cộng sản lẫn lý thuyết tân cộng sản “Great Reset” đều có hai điểm chung. Thứ nhất chúng muốn “reset”, nghĩa là “xóa bàn làm lại”, là lật nhào trật tự cũ thay bằng một trật tự mới. Thứ hai, chúng muốn triệt hạ niềm tin Kitô. Lý do dễ hiểu: niềm tin Kitô không thể tương hợp với chương trình nghị sự của chúng. Niềm tin Kitô không tán thành bạo lực cách mạng trong đấu tranh giai cấp. Niềm tin Kitô cũng không tán thành phá thai, không tán thành giết chết người già là những phương thế “Great Reset” đề nghị như một trong những cách thức chủ yếu để “điều hòa xã hội”.

Những người chủ trương thuyết “Great Reset”, mà chúng tôi tạm dịch là “Đại Tái Lập”, xem đại dịch COVID-19 như một cơ hội độc đáo, có một không hai, để cổ vũ cho thuyết này. Do đó, hồi tháng 5 năm nay, trong Diễn đàn Kinh tế Thế giới thuyết này được đưa ra và đang được thực thi từng phần bất cứ nơi nào khả thi. Một thí dụ điển hình là tại hàng loạt các quốc gia, ngay cả ở nhiều tiểu bang của Hoa Kỳ, những kẻ theo thuyết Đại Tái Lập đã lấy lý do tình trạng khẩn cấp do đại dịch coronavirus gây ra để đóng cửa các nhà thờ triền miên.

Chỉ 72 tiếng đồng hồ sau khi thủ tướng Canada và ứng cử viên tổng thống Joe Biden lên tiếng ủng hộ Great Reset, một thỉnh nguyện thư yêu cầu dừng ngay đề nghị này đã thu được chữ ký của 80,000 chính trị gia và các nhà khoa bảng trên thế giới.

Tuy nhiên, nhiều người vẫn đang mê man với thuyết tân cộng sản này. Cụm từ Great Reset được xem là một thuật ngữ thánh thiêng đến mức nếu ta viết từ ấy trên các mạng xã hội thì khả năng rất cao là thông điệp của chúng ta bị xóa bỏ khỏi các mạng ấy, hay nó sẽ trở thành nạn nhân của những tấn công hằn học từ nhiều phía.

Trong bài giảng Lễ Đức Mẹ Guadalupe ngày 12 tháng 12, Đức Hồng Y Burke cho biết “nhiều quốc gia khác” cũng đang ở trong “cơn khủng hoảng tương tự” và con người bị dẫn dụ tới suy nghĩ rằng họ phải tìm kiếm nơi một căn bệnh và cách phòng ngừa của nó để hiểu và định hướng cuộc sống của họ, chứ không phải là tìm kiếm nơi Thiên Chúa và kế hoạch của Ngài cho ơn cứu rỗi nhân loại.

Nguyên bản tiếng Anh có thể xem tại đây. Dưới đây là bản dịch sang Việt Ngữ.

Mở đầu bài giảng, Đức Hồng Y nói:

Ngợi Khen Chúa Giêsu Kitô!

Chúng ta đến với Đức Mẹ Guadalupe trong ngày lễ của Mẹ với tâm hồn phiền muộn và nặng trĩu. Quốc gia của chúng ta đang trải qua một cuộc khủng hoảng đe dọa tương lai tự do và dân chủ của chính nó. Sự truyền bá chủ nghĩa duy vật Mácxít trên toàn thế giới, vốn đã mang đến những hủy diệt và chết chóc cho cuộc sống của rất nhiều người, và đã đe dọa nền tảng của quốc gia chúng ta trong nhiều thập kỷ qua, giờ đây dường như đang nắm quyền thống trị đối với quốc gia của chúng ta. Để đạt được lợi ích kinh tế, với tư cách là một quốc gia, chúng ta đã tự cho phép mình trở nên phụ thuộc vào Đảng Cộng sản Trung Quốc, một ý thức hệ hoàn toàn trái ngược với nền tảng Kitô mà trên đó các gia đình và quốc gia của chúng ta vẫn còn được an toàn và thịnh vượng. Tôi đề cập đến Hoa Kỳ, nhưng rõ ràng là nhiều quốc gia khác cũng đang phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng tương tự rất đáng báo động.

Sau đó, lại có một thứ virus Vũ Hán bí ẩn về bản chất và cách phòng chống mà các phương tiện thông tin đại chúng hàng ngày đang ra rả cung cấp cho chúng ta những thông tin trái ngược nhau. Tuy nhiên, điều rõ ràng là nó đã được sử dụng bởi một số lực lượng nhất định, thù nghịch với định chế gia đình và tự do của các quốc gia, để thúc đẩy chương trình nghị sự xấu xa của họ. Những lực lượng này nói với chúng ta rằng chúng ta hiện là đối tượng của cái gọi là “Đại Tái Lập”, hay “Tiêu Chuẩn Mới”, trong đó thống trị thế giới bằng sự thao túng các công dân và các quốc gia thông qua sự thiếu hiểu biết và sợ hãi. Bây giờ, chúng ta được cho là phải tìm kiếm nơi một căn bệnh và cách phòng ngừa của nó để hiểu và định hướng cuộc sống của chúng ta, chứ không phải là tìm kiếm nơi Thiên Chúa và kế hoạch của Ngài cho ơn cứu rỗi của chúng ta. Phản ứng của nhiều Giám mục và linh mục, và của nhiều tín hữu đã cho thấy sự thiếu hiểu biết một cách tồi tệ về giáo lý đúng đắn. Rất nhiều người trong Hội Thánh dường như không hiểu về cách Chúa Giêsu tiếp tục công việc cứu rỗi của Ngài trong thời kỳ dịch bệnh và các thảm họa khác.

Hơn nữa, Giáo hội Mẹ thánh thiện của chúng ta, Hiền Thê không tì vết của Chúa Kitô, qua đó Chúa Kitô luôn tác động để ban ơn cứu rỗi đời đời cho chúng ta, đang bị bao vây bởi các báo cáo về sự băng hoại đạo đức, dường như đang tăng lên mỗi ngày, đặc biệt là trong các vấn đề liên quan đến Điều răn thứ sáu và thứ bảy. Tại quốc gia của chúng ta, các báo cáo về Theodore McCarrick thật sự đã cám dỗ nhiều người Công Giáo mộ đạo quay sang chất vấn các mục tử của họ, là những người, theo kế hoạch của Chúa Kitô dành cho Giáo hội, là những người hướng dẫn an toàn cho họ bằng cách dạy bảo họ các chân lý đức tin, hướng dẫn họ thế nào là thờ phượng Đức Chúa Trời cho xứng hợp và cầu nguyện với Ngài, và bằng cách hướng dẫn họ tuân theo các kỷ luật truyền thống của Hội Thánh.

Quá thường, các tín hữu chẳng nhận được hồi đáp hoặc chỉ nhận được một phản hồi không dựa trên những chân lý bất biến về đức tin và luân lý. Họ nhận được phản hồi dường như không phải từ những mục tử, nhưng từ những người quản lý thế tục. Sự bối rối liên quan đến những gì Giáo Hội thực sự dạy bảo và đòi hỏi nơi chúng ta, phù hợp với giáo huấn của Giáo Hội, tạo ra sự chia rẽ lớn hơn bao giờ hết trong Nhiệm Thể Chúa Kitô. Tất cả những điều này làm tê liệt Giáo hội trong sứ mệnh làm chứng cho chân lý thánh thiện và tình yêu của Thiên Chúa vào thời điểm mà thế giới cần Giáo hội như một ngọn hải đăng hơn bao giờ. Khi tiếp xúc với thế giới, Giáo hội muốn hòa mình vào thế giới một cách sai lầm, thay vì kêu gọi thế giới hoán cải để tuân theo luật Thiên Chúa được viết trên trái tim mỗi con người và được bày tỏ trọn vẹn trong Sự Nhập Thể Cứu Chuộc của Con Thiên Chúa.

Dĩ nhiên, những rắc rối đau buồn này là một thách đố chông gai đối với đời sống Kitô hữu thường nhật của chúng ta. Tác động của cuộc khủng hoảng trên thế giới và trong Giáo hội rất sâu sắc đối với tất cả chúng ta. Nhiều người đang phải chịu đựng những đau khổ đau đớn nhất, về thể chất, tình cảm và tinh thần, mà hoàn cảnh đó chắc chắn gây ra. Vào thời điểm mà chúng ta cần gần gũi nhau nhất trong tình yêu Kitô, các thế lực thế gian lại muốn cô lập chúng ta và khiến chúng ta tin rằng chúng ta cô đơn và phụ thuộc vào các thế lực thế tục; điều đó sẽ khiến chúng ta trở thành nô lệ cho các chương trình nghị sự giết người và vô thần của chúng.

Nhưng chúng ta không đơn độc. Với đức cậy, chúng ta mang trái tim nặng trĩu của mình đến với Mẹ Đồng trinh của Thiên Chúa, Mẹ của chúng ta trong Giáo hội. Mẹ lôi kéo chúng ta đến với Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội của Mẹ, và chúng ta hành hương đến với Mẹ trong ngày Lễ Trọng Đức Mẹ Guadalupe. Mẹ nói với chúng ta như khi Mẹ nói với Thánh Juan Diego, lúc thánh nhân dường như cũng đang bị đánh bại bởi căn bệnh hiểm nghèo của người chú Juan Bernardino của mình, là người mà thánh nhân đang sống chung và là người mà thánh nhân đang chăm sóc. Thánh nhân cũng đang bị đánh bại trước thử thách quá lớn khi phải gánh vác công việc lớn lao mà Đức Mẹ muốn giao phó cho ngài. Trước những biểu hiện bất lực và bất khả thi của thánh nhân, Đức Mẹ đã đáp lại:

Ta không có ở đây sao? Ta là người có vinh dự được làm mẹ của con. Con không ở trong bóng che của Mẹ và dưới sự bảo vệ của Mẹ sao? Mẹ không phải là nguồn vui của con sao? Con không ở trong áo choàng của Mẹ, không ở trong vòng tay của Mẹ sao? [1]

Đức Mẹ cũng nói những lời này với chúng ta ngày hôm nay.

Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội là người phụ nữ mặc áo mặt trời với hài nhi được tiền định để giải cứu thế giới khỏi sức mạnh của ma quỷ. Mẹ bày tỏ cho chúng ta biết chân lý, mà Sách Khải Huyền đã làm chứng rằng, khi vừa hạ sinh Con Thiên Chúa, “Con bà được đưa ngay lên Thiên Chúa, lên tận ngai của Người”. [2] Mẹ bảo đảm với chúng ta rằng qua sự Nhập thể Cứu chuộc của Con Thiên Chúa, Chúa Cha thực sự đã hoàn thành lời hứa về ơn cứu rỗi đời đời của Ngài, lời hứa được lặp lại qua những lời của Tiên tri Dacaria: “Này đây, Ta sẽ đến ở giữa các ngươi, Chúa phán”. [3]

Chúng ta hợp nhất trái tim nặng trĩu của chúng ta với Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội của Mẹ Thiên Chúa, Mẹ của chúng ta, Đấng mà Tổng Lãnh Thiên Thần Gabriel đã thật chính đáng khi gọi là đấng “đầy ân sủng”. [4] Giữa chập chùng bao nhiêu những sự dữ, Đức Mẹ Đồng Trinh của Thiên Chúa đón nhận tâm hồn chúng ta và đưa tâm hồn chúng ta đến với nguồn chữa lành và sức mạnh, là Thánh Tâm Chúa Giêsu, là Thiên Chúa và là con người, là Chúa Con và là Con Mẹ. Mẹ hướng dẫn chúng ta nâng tâm hồn lên cùng Trái Tim vinh quang bị đâm thâu qua của Chúa Giêsu, Đấng duy nhất có thể ban ơn cứu rỗi cho chúng ta.

Chính vì những lúc gian truân như thế này mà Đức Mẹ đã mong muốn ngôi nhà của Mẹ được xây dựng ở đây, là nơi Mẹ đã thu hút vô số linh hồn đến với Con Mẹ, Đấng Cứu Rỗi của chúng ta, với những lời như: “Hãy làm bất cứ điều gì Ngài bảo các anh”. Nơi tôn nghiêm này của Mẹ là một ngọn hải đăng thu hút chúng ta đến ơn cứu rỗi đời đời. Chính chúng ta, và Giáo Hội Hoàn Vũ cũng được mời gọi trở nên hình ảnh của một ngọn hải đăng phản chiếu rực rỡ ánh sáng của chân lý và tình yêu Thiên Chúa trong thế giới này, và phản chiếu thực tại của Chúa Kitô đang ngự bên hữu Chúa Cha trong vinh quang, và đồng thời đang ở giữa chúng ta.

Đúng là tâm hồn chúng ta đang nặng trĩu đấy, nhưng Chúa Kitô, qua sự chuyển cầu của Mẹ Đồng trinh của Ngài, đang nâng tâm hồn chúng ta lên với Ngài, đổi mới lòng tin cậy của chúng ta nơi Ngài, Đấng đã hứa ban cho chúng ta ơn cứu rỗi đời đời trong Giáo hội. Ngài sẽ luôn trung tín với những lời hứa của Ngài. Ngài sẽ không bao giờ bỏ rơi chúng ta. Chúng ta đừng để bị lôi cuốn bởi các thế lực của thế gian và bởi các tiên tri giả. Chúng ta đừng từ bỏ Chúa Kitô và tìm kiếm ơn cứu rỗi của chúng ta ở những nơi mà ơn cứu rỗi sẽ không bao giờ được tìm thấy. Chúng ta đừng bao giờ quên những lời mà Đức Mẹ đã tự nhận mình trong lần hiện ra đầu tiên với Thánh Juan Diego:

Hãy biết, và biết chắc chắn rằng con thân yêu nhất và là con trai út của mẹ, rằng Ta thực sự là Đức Trinh Nữ Maria muôn đời hoàn hảo, là người có vinh dự làm Mẹ của một Thiên Chúa thật duy nhất, Đấng mà nhờ Người tất cả chúng ta được sống, Đấng Tạo dựng loài người, Chúa của muôn loài xung quanh chúng ta và Chúa của những gì gần gũi với chúng ta, Chúa của Trời, Chúa của Đất.

Mẹ rất muốn người ta xây ngôi nhà nhỏ thánh thiêng của Mẹ ở đây, nơi đó Mẹ sẽ chỉ cho người ta thấy Ngài, Mẹ sẽ tôn vinh Ngài khi xin Ngài ra tay, Mẹ sẽ ban Ngài cho tất cả mọi người với tất cả tình yêu của Mẹ, Ngài là ánh mắt từ bi của Mẹ, Ngài là ơn phù trợ của Mẹ, Ngài là ơn cứu rỗi của Mẹ. [6]

Cầu mong cho Đền thờ Đức Mẹ Guadalupe ở đây luôn là một khí cụ xứng đáng để Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội của Đức Maria thu hút trái tim của chúng ta đến với Mẹ và đưa họ đến Trái Tim đã vinh quang bị đâm thâu qua của Chúa Giêsu, là nguồn mạch duy nhất để chữa lành và là sức mạnh trong cuộc sống này và cho đến cuộc sống đời đời.

Dưới lớp áo yêu thương của Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội của Đức Mẹ Guadalupe, giờ đây chúng ta hãy nâng trái tim nặng trĩu lên với Trái Tim Chúa Giêsu vinh quang bị đâm thâu qua. Với lòng tin tưởng rằng lời hứa cứu rỗi của Chúa dành cho chúng ta sẽ được hoàn thành, chúng ta hãy hoàn toàn dâng trái tim mình cho Ngài trong Hội Thánh của Ngài. Chúng ta hãy tin tưởng rằng trong Trái Tim Ngài, chúng ta sẽ tìm thấy ơn khôn ngoan và sức mạnh để sống trong những thời điểm khó khăn hiện nay với đôi mắt của chúng ta hướng về Ngài, và hướng đến ơn cứu rỗi mà qua đặc ơn làm Mẹ Thiên Chúa của Đức Trinh Nữ Maria, Ngài đã mang đến cho chúng ta trong thế giới.

Trái tim của Chúa Giêsu, ơn cứu rỗi của những người tin cậy nơi Ngài, xin thương xót chúng con.

Đức Mẹ Guadalupe, Mẹ của Hoa Kỳ và là Ngôi sao của Tân Phúc âm hóa, xin cầu cho chúng con.

Thánh Giuse, Quan thầy của Hội Thánh, xin cầu cho chúng con.

Thánh Juan Diego, xin cầu cho chúng con.

Nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Amen.

[1] “No estoy yo aquí, yo, que tengo el honor de ser tu madre? No estás bajo mi sombra y resguardo? No soy yo la fuente de tu alegría? No estás en el hueco de mi manto, en el cruce de mis brazos?” “El Nican Mopohua,” tr. Instituto Superior de Estudios Guadalupanos, in Carl A. Anderson y Eduardo Chávez, Nuestra Señora de Guadalupe. Madre de la civilización del amor (México, D.F.: Random House Mondadori, S.A. de C.V., 2010), tr. 220, n. 119. [Nican Mopohua]. Bản dịch tiếng Anh: “The Nican Mopohua,” trong Carl A. Anderson và Eduardo Chávez, Our Lady of Guadalupe: Mother of the Civilization of Love (New York: Doubleday, 2009), tr. 179, không. 119. [Nican Mopohua Eng].

[2] Kh 12: 5.

[3] Dacaria 2: 10.

[4] Lc 1: 28.

[5] Ga 2: 5.

[6] Know it, be sure, my son, the smallest, that I am truly the always perfect Holy Virgin Mary, that I have the honor of being the Mother of the most true God for whom one lives, the Creator of people, the Owner of closeness and immediacy, the Owner of heaven, the Owner of the earth.

I very much want, very much desire, that here my sacred house be erected, where I will show it, I will praise it by making it manifest, I will give it to the people in all my personal love, to Him who is my compassionate gaze, to Him who is my help, to Him who is my salvation. ” Nican Mopohua, p. 214, nn. 26-28. English translation: Nican Mopohua Eng, p. 173, us. 26-28.


Source:Edward Pentin
 

© 2021 - VietCatholic News - Designed by VietCatholic News